Đặt vấn đề Rừng là một tài nguyên vô cùng quý giá của trái đất, rừng đóng góp vai trò rất quan trọng trong cuộc sông hằng ngày của chúng ta. Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nói “Rừng là vàng, nếu mình biết bảo vệ xây dựng thì rừng sẽ rất quý“ đúng như vậy rừng có rất nhiều vai trò quan trọng, rừng là lá phổi xanh của trái đất. Rừng cung cấp O2 và hút khí CO2 do chúng ta tạo ra. Thiếu cây rừng, thiếu oxi thì làm sao chúng ta tồn tại? Rừng còn có vai trò bảo tồn đa dạng sinh học, phòng chống thiên tai bão lũ, là nguồn cung cấp gỗ, lâm sản ngoài gỗ và nhiều dược phẩm quý giá …Đặc biệt hơn hiện nay tình trạng ô nhiễm không khí cao dẫn đến việc khí hậu trái đất bị biến đổi nghiêm trọng và rừng có cai trò hết sức quan trọng trong việc phòng chống biến đổi khí hậu.
Rừng là một hệ sinh thái có khả năng tự tái tạo, tự phục hồi và luôn vận động phù hợp với điều kiện ngoại cảnh. Với diện tích trên 330 nghìn km2 với 2/3 diện tích đất là đồi núi lại nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa nên nguồn tài nguyên rừng nước ta rất giàu có, đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà diện tích rừng bị suy giảm nghiêm trọng cả về số lượng lẫn chất lượng. Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đất nước cùng với sự gia tăng về dân số, ô nhiễm môi trường, đô thị hóa, biến đổi khí hậu,… thì việc khôi phục lại hệ sinh thái rừng là rất cần thiết.
Theo số liệu thống kê của Viện điều tra quy hoạch rừng, năm 1945 tổng diện tích rừng tự nhiên của nước ta là 14 triệu ha, tương đương với độ che phủ là 43%, đến năm 1990 tổng diện tích rừng nước ta chỉ còn là 9,175 triệu ha, tương đương với độ che phủ là 27,2%. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến 2 mất rừng là do chiến tranh, khai thác bừa bãi, đốt nương làm rẫy. Từ khi Chính phủ có chỉ thị 286/TTg (năm 1996) cấm khai thác rừng tự nhiên, tốc độ phục hồi rừng đã trở nên khả quan hơn. Năm 2003 tổng diện tích rừng nước đã là 12 triệu ha, tương đương với và độ che phủ là 36,1%, trong đó rừng tự nhiên chiếm 10 triệu ha và rừng trồng chiếm 2 triệu ha.
Nhưng do tình trạng khai thác và sử dụng bừa bãi rừng nên thảm thực vật đã và đang bị suy thoái nghiêm trọng. Từ đó gây ra hậu quả làm đất bị xói mòn rửa trôi, gây bồi lắng lòng hồ, hạn chế khả năng chứa nước. Mặt khác, rừng sau khai thác hầu như bị đảo lộn toàn bộ về cấu trúc, quá trình tái sinh diễn thế theo chiều hướng thoái bộ so với ở tình trạng nguyên sinh hoặc trước khi khai thác, nhất là ở các lâm phần không được quản lý tốt. Thực tiễn đã chứng minh rằng các giải pháp nhằm phục hồi rừng, quản lý rừng bền vững chỉ có thể giải quyết thoả đáng một khi có sự hiểu biết đầy đủ về bản chất quy luật sống của hệ sinh thái rừng.
Do đó nghiên cứu cấu trúc rừng được xem là cơ sở quan trọng nhất, giúp các nhà lâm nghiệp có thể chủ động trong việc xác lập các kế hoạch và biện pháp kỹ thuật tác động chính xác vào rừng, góp phần quản lý và kinh doanh rừng lâu bền. Vì lý do đó, được sự đồng ý của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm tái sinh tự nhiên trạng thái rừng phục hồi IIA tại xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên”. Mục đích nghiên cứu Bổ sung thêm cơ sở dữ liệu về tái sinh tự nhiên rừng phục hồi trạng thái IIA tại xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên làm cơ sở đề xuất những giải pháp lâm sinh phù hợp xúc tiến tái sinh rừng. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được một số đặc điểm cấu trúc của rừng phục hồi tự nhiên trạng thái IIA tại xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
3 - Đề xuất được một số giải pháp lâm sinh nhằm nâng cao hiệu quả của rừng phục hồi IIA tại khu vực nghiên cứu. Ý nghĩa nghiên cứu khoa học 1. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học Bổ sung những hiểu biết về đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng phục hồi trạng thái IIA tại xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên góp phần vào việc nghiên cứu về đa dạng sinh học. Đồng thời giúp cho sinh viên tiếp cận phương pháp nghiên cứu khoa học, giải quyết vấn đề thực tiễn của khoa học đặt ra.
Ý nghĩa thực tiễn sản xuất Trên cơ sở các quy luật cấu trúc đề xuất một số giải pháp nhằm phục hồi rừng phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học và quản lý nguồn tài nguyên rừng tại xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên ngày hiệu quả hơn. 4 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Quan điểm lựa chọn trạng thái rừng phục hồi trạng thái IIA xã Yên Lãng, Huyện Đại Từ Hiện nay, có nhiều quan điểm phân loại rừng khác nhau, vì vậy đề tài nhất quán quan điểm phân loại rừng theo Loeschau, 1966 cụ thể như sau: “Rừng phục hồi trong giai đoạn sau chủ yếu cây ưa sáng mọc nhanh (cây Thẩu tấu, Hu đay, Màng tang.) đã xuất hiện cây chịu bóng, cây gỗ lớn, có hiện tượng cạnh tranh không gian dinh dưỡng. Mật độ cây > 1000 cây/ha với đường kính D1.3 > 10 cm (đường kính phổ biến 10 cm, trữ lượng không vượt quá 30 m3) – Ký hiệu: IIA” 2.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu Vấn đề tái sinh phục hồi rừng ở nước ta đã được đặt ra từ rất sớm, từ đầu những năm 50 đến 60 của thế kỷ 20 và được sử dụng với cụm từ “khoanh núi nuôi rừng”, tuy nhiên trong một khoảng thời gian dài, ngành lâm nghiệp phải tập trung khai thác rừng tự nhiên để phục vụ cho công cuộc khôi phục và phát triển miền Bắc, đồng thời chi viện cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam. Đến đầu thập kỷ 1970, lâm nghiệp tập trung đẩy mạnh trồng rừng với “tham vọng phủ xanh đất trống đồi núi trọc” trong kế hoạch 5 năm lần 1 và lần 2 như đã được nêu tại các Nghị quyết của Đảng và kế hoạch của Nhà nước vào giai đoạn này. Do vậy việc “khoanh núi nuôi rừng” lúc này gần như là một khẩu hiệu nên kết quả và tác dụng rất hạn chế. Đến giữa những năm 1980, “khoanh núi nuôi rừng” mới được định hình và chuyển hướng thành thuật ngữ mới là: Phục hồi rừng bằng “khoanh nuôi xúc tiến tái sinh”.
Phục hồi rừng có thể được hiểu một cách khái quát là quá trình ngược lại của sự suy thoái. Theo quá trình diễn thế, sau khi phải chịu những tác động 5 phi tự nhiên phá vỡ bằng sinh thái; với khả năng tự điều chỉnh tự nhiên và cơ chế nội cân bằng sinh thái thì nó có xu hướng vận động thiết lập một trạng thái cân bằng mới (gần giống với trạng thái ban đầu), quá trình này được gọi là diễn thế phục hồi. Nhưng với những tác động quá mạnh vượt ra ngoài ngưỡng tự điều chỉnh của hệ sinh thái rừng thì quá trình phục hồi lại sẽ rất chậm hoặc thậm chí nó không xảy ra. Lúc này cần những hoạt động của con người nhằm thúc đẩy quá trình đó hoạt động mạnh nhất trong thời gian ngắn nhất.
Như vậy, hoạt động phục hồi rừng được hiểu là các hoạt động có ý thức của con người nhằm làm đảo ngược quá trình suy thoái rừng. Để phục hồi lại các hệ sinh thái rừng đã bị thoái hoá, chúng ta có rất nhiều lựa chọn tùy thuộc vào từng đối tượng và mục đích cụ thể. Lamb và Gilmour (2003) đã đưa ra ba nhóm hành động nhằm làm đảo ngược quá trình suy thoái rừng là cải tạo, khôi phục và phục hồi rừng. Các khái niệm này được hiểu như sau: - Cải tạo hay là thay thế (reclamation or replacement): Khái niệm này được hiểu là sự tái tạo lại năng suất và độ ổn định của một lập địa bằng cách thiết lập một thảm thực vật hoàn toàn mới để thay thế cho thảm thực vật gốc đã bị thoái hoá mạnh.
Ở vùng nhiệt đới, các xã hợp thực vật được thay thế này thường đơn giản nhưng lại có năng suất cao hơn thảm thực vật gốc. Các lập địa rừng nghèo kiệt, trảng cây bụi… là đối tượng của hoạt động này và cũng là những cơ hội cho việc thiết lập các rừng công nghiệp sử dụng các loài cây nhập nội sinh trưởng nhanh hơn và có giá trị kinh tế cao hơn so với thảm thực vật gốc. - Khôi phục (restoration): Hiểu một cách chính xác về mặt lý thuyết thì khôi phục lại một khu rừng bị suy thoái (rừng nghèo) là đưa khu rừng đó trở về nguyên trạng ban đầu của nó. Đưa về nguyên trạng bao gồm cả các thành phần thực vật, động vật và toàn bộ các quá trình sinh thái dẫn đến sự khôi phục lại hoàn toàn tính tổng thể của hệ sinh thái.
6 - Phục hồi (rehabilitation): Khái niệm phục hồi rừng được định nghĩa như là gạch nối (trung gian) giữa cải tạo và khôi phục. Trong trường hợp này, một vài cố gắng có thể được thực hiện để thay thế thành phần dễ thấy nhất của thảm rừng gốc, đó thường là tầng cây cao bao gồm cả các loài bản địa được thay thế bằng các loài có giá trị kinh tế và sinh trưởng nhanh hơn. Ngoài ba nhóm hành động này, việc phục hồi rừng còn bao gồm: - Trồng rừng (afforestation): Trồng rừng được hiểu là sự chuyển đổi từ đất không có rừng thành rừng thông qua trồng cây, gieo hạt thẳng hoặc xúc tiến tái sinh tự nhiên (Smith, 2002). - Trồng lại rừng (reforestation): Là hoạt động trồng rừng trên đất không có rừng do bị mất rừng trong một thời gian nhất định.
Sự khác nhau giữa trồng lại rừng và trồng rừng nằm ở thời gian không có rừng của đối tượng (đất trồng rừng), hoạt động trồng rừng ở đối tượng có thời gian rất lâu không phải là rừng thì gọi là trồng rừng; còn hoạt động đó trên đối tượng mới không có rừng trong thời gian ngắn thì gọi là trồng lại rừng. Trong nhiều trường hợp, trồng rừng, trồng lại rừng được hiểu đồng nghĩa với sự cải tạo (hay là sự thay thế).