Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Anh Tuấn thuộc ngành Quản lý tài nguyên rừng và Môi trường (Khoa Quản lý tài nguyên rừng & Môi trường – Trường Đại học Lâm nghiệp), thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy giáo Đỗ Quang Huy (Bộ môn Động vật rừng) vào tháng 05 năm 2018. Đề tài tập trung vào loại hình nghiên cứu điều tra thực địa, sinh thái học quần xã và bảo tồn đa dạng sinh học động vật hoang dã.
Bối cảnh thực tiễn được tác giả nêu rõ xuất phát từ hiện trạng đa dạng sinh học tại Việt Nam. Dù nước ta sở hữu hệ động vật phong phú (với ít nhất 82 loài ếch nhái, 260 loài bò sát, 830 loài chim, 228 loài thú cùng hàng nghìn loài động vật không xương sống theo số liệu giai đoạn 2001–2010), nguy cơ đe dọa tuyệt chủng và suy thoái nguồn gen đang gia tăng nhanh chóng do nạn săn bắt quá mức và thu hẹp sinh cảnh. Tại Trường Đại học Nông – Lâm Bắc Giang (tọa lạc tại xã Bích Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang), tổng khuôn viên rộng khoảng 60 ha với gần 40% diện tích mặt nước (khoảng 29 ha) kết hợp các khu trồng cây lâm nghiệp tập trung đã tạo nên môi trường sống thuận lợi cho các loài chim nước. Từ cuối năm 1996, các đàn chim nước đầu tiên (chủ yếu là cò trắng) đã di cư đến và định cư. Các nghiên cứu sơ khởi trước đó ghi nhận khoảng 12 đến 13 loài chim nước với số lượng ước tính từ 5.000 đến 7.000 cá thể, tập trung ở các loài như Cò ngàng nhỏ, Cò bợ và Vạc. Tuy nhiên, chất lượng sinh cảnh cây lâm nghiệp trong trường đang suy giảm, cây bị già cỗi hoặc chặt hạ, trong khi sinh hoạt của con người và nạn săn bắn trái phép bằng súng hơi tự chế ở các vùng kiếm ăn lân cận bên ngoài khuôn viên đang đe dọa nghiêm trọng đàn chim. Do đó, việc nghiên cứu có hệ thống về sinh cảnh, thành phần loài và các yếu tố ảnh hưởng là yêu cầu cấp thiết nhằm phục vụ công tác quản lý và bảo tồn.
Mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể trong văn bản gồm:
- Mục tiêu tổng quát: Đánh giá hiện trạng sân chim và đề xuất một số giải pháp bảo tồn sân chim tại Trường Đại học Nông – Lâm Bắc Giang.
- Mục tiêu cụ thể:
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sân chim:
- Đánh giá thành phần loài chim nói chung trong khuôn viên;
- Đánh giá thành phần các loài chim nước của khu vực;
- Xác định trữ lượng (số lượng cá thể) một số loài chim nước chính;
- Đánh giá một số ảnh hưởng tới sân chim và đề xuất các giải pháp bảo tồn.
Nội dung và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Xác định đặc điểm sinh cảnh, nơi cư trú của các loài chim nước trong khuôn viên Trường Đại học Nông – Lâm Bắc Giang.
- Nghiên cứu đặc điểm sân chim:
- 2.a. Nghiên cứu bổ sung thành phần loài chim khu vực và thành phần loài chim nước;
- 2.b. Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học của một số loài chim nước quan trọng;
- 2.c. Xác định số lượng cá thể các loài chim chính trong khuôn viên.
- Đánh giá một số ảnh hưởng tới sân chim và đề xuất một số giải pháp bảo tồn các loài chim nước trong khuôn viên trường.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các loài chim phân bố trong phạm vi Trường Đại học Nông – Lâm Bắc Giang (đặc biệt chú trọng các loài chim nước).
- Phạm vi không gian: Khuôn viên Trường Đại học Nông – Lâm Bắc Giang và các vùng sinh cảnh kiếm ăn phụ cận thuộc xã Bích Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Phạm vi thời gian: Điều tra, khảo sát thực tế từ tháng 01/2018 đến tháng 05/2018.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết phân loại học và các văn bản quy chuẩn:
Tác giả sử dụng hệ thống khóa phân loại trong công trình Chim Việt Nam của Võ Quý và Nguyễn Cử (1995), công trình Chim Việt Nam của Nguyễn Cử, Lê Trọng Trải và Karen Phillipps (2000), cùng chuyên khảo Động vật chí Việt Nam (Tập 18 – Chim nước và chim di cư) của Lê Đình Thủy (2007). Về tiêu chuẩn đánh giá cấp độ bảo tồn, khóa luận đối chiếu trực tiếp với:
- Sách đỏ Việt Nam năm 2007 (phần Động vật);
- Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm;
- Danh lục đỏ các loài bị đe dọa của Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN Red List, 2006);
- Phụ lục Công ước quốc tế về buôn bán các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES, 2005).
Phương pháp nghiên cứu thực địa và thu thập số liệu:
- Phương pháp kế thừa số liệu: Tiếp nhận các tư liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Bích Sơn; kế thừa tài liệu chuyên khảo về khu hệ chim miền Bắc và các kết quả nghiên cứu sân chim tại trường của Nguyễn Chí Thành và cộng sự (2014), nghiên cứu của sinh viên Bùi Đình Tiến (2017).
- Phương pháp điều tra sinh cảnh thực vật: Dùng máy định vị GPS cầm tay để định vị ranh giới. Thiết lập 4 ô tiêu chuẩn (OTC) diện tích 500 m² tại các khu lâm nghiệp trên cạn (Vườn thì thầm, Rừng muồng, Nhà thi đấu, Đồi tên lửa) và điều tra toàn diện trên 2 đảo hồ nước gồm Đảo Dưới (271,7 m²) và Đảo Trên (376,2 m²). Thu thập các chỉ tiêu: đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$), chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$), đường kính tán ($D_{tán}$), độ che phủ tán cây, mật độ cây/ha và phân cấp phẩm chất sinh trưởng thành 3 mức (Tốt, Trung bình, Xấu).
- Phương pháp điều tra thành phần loài chim: Quan sát trực tiếp bằng mắt thường và ống nhòm, kết hợp chụp ảnh nhận dạng qua tài liệu định loại. Tác giả thiết lập 8 điểm quan sát cố định hướng vào hai đảo và đầu nhà hiệu bộ. Tần suất điều tra tối thiểu 4 lần/điểm, tập trung vào hai khung giờ hoạt động cao điểm trong ngày: từ 6h00 – 9h00 sáng và từ 14h00 – 18h00 chiều.
- Phương pháp xác định số lượng cá thể chim nước: Thực hiện phương pháp đếm toàn bộ tại các điểm cố định, ghi nhận biến động số cá thể bay đi và bay về từ sáng sớm đến chiều tối; kết hợp chụp ảnh các đàn chim bay để kiểm đếm chính xác. Điều tra tập trung trong 6 ngày đại diện (các ngày 26, 27, 28/01/2018 và 16, 17, 18/03/2018).
- Phương pháp phỏng vấn: Sử dụng phiếu phỏng vấn bán cấu trúc đối với cán bộ quản lý của trường, bảo vệ, chính quyền địa phương, người dân sinh sống quanh trường và thợ săn tại các xã có hồ nước và ruộng đồng nơi chim kiếm ăn.
- Phương pháp thu thập và phân tích mẫu vật: Thu thập lông, cánh, chân, mỏ từ các sản phẩm lưu giữ của thợ săn và nhặt các mẫu cá thể chim bị chết rơi trong các đợt khảo sát thực địa.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến của các nhà khoa học bộ môn Động vật rừng và các cán bộ chuyên môn về bảo tồn sinh học.
Nội dung chính theo từng chương
Phần I: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Tác giả hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu điểu học trên thế giới và tại Việt Nam:
- Nghiên cứu trên thế giới tại khu vực Đông Dương: Điểm lại các công trình của Oustalet (1874–1903), Butan, Boden Klox và Robinson (1918 thu thập 1.525 tiêu bản, ghi nhận 235 loài và phân loài), Kuroda, Delacour và Greenway (thu thập 23.000 tiêu bản trong 7 cuộc sưu tầm), hoàn thiện danh sách chim Đông Dương năm 1951 với 1.085 loài và phân loài.
- Nghiên cứu tại Việt Nam qua hai thời kỳ: Giai đoạn trước năm 1975 ghi nhận loài gà rừng (Gallus gallus) được Linnaeus mô tả giữa thế kỷ XVIII tại Côn Đảo; các công trình của Delacour và Jabouille (1931); các nghiên cứu sau năm 1954 ở miền Bắc của Võ Quý, Trần Gia Huấn, Đỗ Ngọc Quang, Lê Diên Dực và cuốn sách về đời sống chim phổ biến miền Bắc (Võ Quý, 1971). Giai đoạn sau 1975 đánh dấu các bộ sách Chim Việt Nam tập 1 và 2 của Võ Quý (1975, 1981) mô tả 1.010 loài và loài phụ, Danh lục chim Việt Nam (Võ Quý, Nguyễn Cử, 1995) gồm 828 loài, sách định loại thực địa của Nguyễn Cử và cộng sự (2000), cùng Động vật chí Việt Nam tập 18 (2007) thống kê 164 loài chim nước và di cư.
- Lịch sử hình thành sân chim Đại học Nông – Lâm Bắc Giang: Đàn chim nước bắt đầu tụ tập từ cuối năm 1996. Năm 2014, Nguyễn Chí Thành và cộng sự ghi nhận 12 loài chim nước; năm 2017, Bùi Đình Tiến phát hiện bổ sung thêm 01 loài chim nước và khảo sát bước đầu về 3 loài ưu thế. Tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu về đặc điểm sinh sản và biến động sinh cảnh chưa được khảo sát chi tiết.
Phần II: Mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Phần này thiết lập toàn bộ quy trình khoa học của đề tài: xác định rõ mục tiêu tổng quát, 2 mục tiêu cụ thể, 3 nhóm nội dung nghiên cứu lớn, phạm vi không gian và thời gian từ tháng 01 đến tháng 05/2018. Tác giả mô tả chi tiết các bước chuẩn bị trang thiết bị (ống nhòm, máy ảnh, thước kẹp kính, thước dây, máy định vị GPS, địa bàn), thiết kế 3 mẫu biểu điều tra chuẩn hóa gồm:
- Mẫu biểu 01: Điều tra thực vật tại khu vực cư trú của chim nước (tọa độ OTC, đường kính, chiều cao, đường kính tán, phẩm chất);
- Mẫu biểu 02: Biểu điều tra thành phần loài và số lượng cá thể chim nước theo thời gian, điểm quan sát, số lượng bay đến và bay đi;
- Mẫu biểu 03: Phiếu phân tích mẫu vật và phiếu phỏng vấn cộng đồng.
Phần III: Điều kiện cơ bản khu vực nghiên cứu
Tác giả tổng hợp điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội xã Bích Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang:
- Điều kiện tự nhiên: Xã có diện tích tự nhiên 670,85 ha, tọa độ 21°16’40’’ B và 106°05’38’’ Đ. Địa hình đồng bằng lượn sóng, độ cao trung bình 2,5 – 5 m, nghiêng theo hướng Bắc - Nam và Tây Bắc - Đông Đông Nam. Khí hậu nhiệt đới gió mùa: nhiệt độ trung bình năm 23°C (cao nhất 35°C, thấp nhất 13°C), lượng mưa trung bình năm 1.600 mm (tập trung 85% vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10), độ ẩm không khí 81%. Thủy văn có ngòi Cầu Sim dài khoảng 3 km và mạng lưới ao hồ dày đặc. Đất đai chủ yếu là đất bạc màu trên phù sa cổ ($pH_{KCl} = 4,5 - 5$), nghèo mùn và đạm nhưng giàu kali.
- Điều kiện kinh tế - xã hội: Dân số xã đạt 6.982 người (1.995 hộ), 100% dân tộc Kinh; lực lượng lao động chiếm 65,12% (3.923 người). Tỷ trọng nông nghiệp chiếm 72,5%, công nghiệp - xây dựng và dịch vụ chiếm 27,5% (năm 2010). Diện tích đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản là 34,03 ha. Xã có Quốc lộ 37 (dài 1,5 km qua xã) và Tỉnh lộ 298 (dài 2 km).
Phần IV: Kết quả nghiên cứu
Đây là chương nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn bộ dữ liệu thực địa thu thập được:
- Đặc điểm sinh cảnh nơi cư trú:
Toàn trường có 60 ha, gồm 29 ha mặt nước và 10 ha đất lâm nghiệp. Quá trình điều tra thực vật ghi nhận 5 loài cây chính gồm: Bạch đàn, Keo, Muồng, Nhãn và Keo tai tượng. Trong đó, Keo là loài cây chiếm ưu thế tuyệt đối làm nơi trú ngụ và làm tổ của chim nước tại hai đảo hồ và khu vực đầu nhà hiệu bộ (rừng muồng).
| STT |
Tên sinh cảnh |
$\sum D_{1.3tb}$ (cm) |
$\sum H_{vn}$ (m) |
Độ che phủ tán (%) |
Tốt (%) |
Trung bình (%) |
Xấu (%) |
Mật độ (cây/ha) |
| 1 |
Vườn thì thầm |
16,3 |
15,8 |
127,8 |
48,8 |
46,5 |
4,7 |
860 |
| 2 |
Rừng muồng |
15,4 |
13,3 |
143,6 |
13,3 |
42,2 |
40,0 |
900 |
| 3 |
Nhà thi đấu |
16,0 |
16,2 |
173,1 |
73,8 |
18,0 |
8,2 |
1.220 |
| 4 |
Đồi tên lửa |
20,8 |
14,3 |
145,3 |
43,6 |
43,6 |
12,8 |
780 |
| 5 |
Đảo dưới |
17,9 |
14,2 |
226,1 |
45,0 |
38,3 |
16,7 |
2.245 |
| 6 |
Đảo trên |
17,9 |
10,9 |
224,3 |
4,6 |
55,5 |
40,4 |
2.897 |
Tác giả nhấn mạnh thực trạng Đảo Trên có mật độ cây rất cao (2.897 cây/ha) nhưng phẩm chất kém với tỷ lệ cây xấu lên tới 40,4% và cây tốt chỉ đạt 4,6%; nhiều cây đã già cỗi, gãy đổ hoặc cụt ngọn, không bảo đảm không gian làm tổ an toàn.
- Cấu trúc thành phần khu hệ chim:
- Tổng số loài chim: Ghi nhận 27 loài thuộc 16 họ và 7 bộ. Cấu trúc bộ gồm: bộ Sẻ (Passeriformes) chiếm ưu thế nhất với 11 loài (41%); bộ Hạc (Ciconiiformes) 8 loài (29%); bộ Sả (Coraciiformes) 3 loài (11%); bộ Rẽ (Charadriiformes) 2 loài (7%); các bộ Sếu (Gruiformes), Bồ câu (Columbiformes) và Chim lặn (Podicipediformes) mỗi bộ có 1 loài (chiếm 4% mỗi bộ).
- Thành phần các loài chim nước: Có 13 loài chim nước thuộc 5 bộ và 5 họ, gồm: Bộ Hạc (họ Diệc: Cò lùn hung, Diệc xám, Cò ngàng lớn, Cò ngàng nhỡ, Cò ngàng nhỏ, Cò bợ, Cò ruồi, Vạc - chiếm 61%); Bộ Sếu (họ Gà nước: Cuốc ngực trắng - 8%); Bộ Rẽ (họ Gà lôi nước: Gà lôi nước - 8%); Bộ Sả (họ Bói cá: Bồng chanh, Bói cá nhỏ - 15%); Bộ Chim lặn (họ Chim lặn: Le hôi - 8%).
- Đặc điểm sinh thái học của 3 loài chim nước quan trọng:
- Cò ngàng nhỏ (Egretta garzetta): Dài thân 560 – 720 mm, trọng lượng khoảng 400 g. Kiếm ăn ban ngày theo đàn tại đầm lầy, ruộng lúa (khu Đồn Lương, thị trấn Bích Động, Làng Vàng), ăn tôm, cá nhỏ, ếch nhái. Sinh sản từ tháng 3 đến tháng 9, cao điểm tháng 5 – 7; làm tổ sơ sài bằng cành cây khô trên cây Keo, Bạch đàn, Xoan ta, Nhãn; đẻ 2 – 3 trứng/lứa.
- Cò bợ (Ardeola bacchus): Dài thân 450 mm, mỏ dài 55 – 67 mm. Kiếm ăn ban ngày quanh các ao bèo, ruộng lúa gần khu trại lợn của trường; thức ăn là côn trùng, cá nhỏ và giáp xác. Sinh sản từ tháng 6 đến tháng 9; làm tổ sơ sài trên Keo, Bạch đàn, Xoan; đẻ 2 – 3 trứng/lứa.
- Vạc (Nycticorax nycticorax): Dài thân 560 – 650 mm, trọng lượng cơ thể từ 525 – 825 g. Ban ngày đậu nghỉ trên cây lâm nghiệp ngoài đảo và ven hồ, bắt đầu bay đi kiếm ăn đêm từ khoảng 18h00 – 18h30. Mùa sinh sản từ đầu tháng 4 đến tháng 8; đẻ 3 – 4 trứng/lứa.
- Biến động số lượng cá thể 3 loài chim nước chủ yếu:
Dữ liệu kiểm đếm qua 6 đợt khảo sát thực tế vào tháng 1 và tháng 3 năm 2018 được tổng hợp như sau:
| STT |
Ngày điều tra |
Cò ngàng nhỏ (cá thể) |
Cò bợ (cá thể) |
Vạc (cá thể) |
| 1 |
26/01/2018 |
961 |
202 |
135 |
| 2 |
27/01/2018 |
941 |
193 |
90 |
| 3 |
28/01/2018 |
862 |
147 |
109 |
| 4 |
16/03/2018 |
1.201 |
119 |
116 |
| 5 |
17/03/2018 |
982 |
116 |
81 |
| 6 |
18/03/2018 |
1.084 |
166 |
155 |
| Trung bình |
|
1.005 |
157 |
114 |
- Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng và giải pháp bảo tồn:
- Yếu tố ảnh hưởng:
- Tác động con người: Nạn săn bắn trái phép bằng súng hơi tự chế vào sáng sớm và chiều tối tại các khu đồng kiếm ăn bên ngoài trường; tiếng ồn từ xe cộ và hoạt động sinh hoạt, học tập của sinh viên.
- Thời tiết: Mùa sinh sản trùng mùa mưa bão lớn, kết cấu tổ sơ sài khiến trứng vỡ và chim non rơi chết nhiều.
- Sinh cảnh sống suy thoái: Cây gỗ lớn đầu nhà hành chính và thư viện bị khai thác, cây trồng mới chưa đủ kích thước; cây trên 2 đảo bị già cỗi, cụt ngọn; cơ cấu loài cây thuần loại (chủ yếu là Keo).
- 7 nhóm giải pháp quản lý, bảo tồn:
- Xác lập nhận thức toàn trường xem đàn chim là tài sản đa dạng sinh học vô giá để có cơ chế bảo vệ nghiêm ngặt.
- Tăng cường tổ chức tuần tra của lực lượng bảo vệ trường, đặc biệt vào ban đêm nhằm ngăn chặn triệt để người lạ xâm nhập săn bắt.
- Đẩy mạnh tuyên truyền trực quan bằng băng rôn, khẩu hiệu giáo dục ý thức bảo vệ chim cho cán bộ, sinh viên và nhân dân địa phương.
- Quy hoạch mở rộng không gian cư trú, giảm bớt các công trình hạ tầng xây dựng xâm lấn, làm hàng rào cách ly và thực hiện trồng cải tạo, thay thế cây già cỗi tại Đảo Trên.
- Xây dựng chính sách huy động các nguồn vốn tài trợ trong và ngoài nước, thực hiện các đề tài nghiên cứu hỗ trợ sinh sản.
- Xây dựng bộ tiêu bản các loài chim nước phục vụ công tác trưng bày và nghiên cứu giảng dạy.
- Kiến nghị UBND tỉnh Bắc Giang chỉ đạo xử lý triệt để các nhà hàng kinh doanh thịt chim hoang dã và xử lý nghiêm các đối tượng săn bắn, buôn bán chim trái phép.
Phần V: Kết luận, tồn tại, kiến nghị
- Kết luận: Tổng hợp toàn bộ các kết quả đạt được về sinh cảnh (2 đảo, 4 khu đất lâm nghiệp), danh lục 27 loài chim (13 loài chim nước), số lượng cá thể trung bình của 3 loài chủ yếu (1.005 Cò ngàng nhỏ, 157 Cò bợ, 114 Vạc), 3 nhóm nguyên nhân gây đe dọa và 7 giải pháp đề xuất.
- Tồn tại: Thời gian nghiên cứu ngắn (5 tháng) nên chưa khảo sát hết đặc điểm sinh thái của toàn bộ các loài; thời tiết đợt khảo sát không thuận lợi; trang thiết bị quan sát, chụp ảnh chuyên dụng còn thiếu thốn; các giải pháp đề xuất mới ở mức định hướng, chưa được kiểm chứng thực nghiệm.
- Kiến nghị: Nhà trường và các cơ quan chuyên môn cần tiếp tục triển khai các chương trình giám sát định kỳ biến động số lượng cá thể và diễn thế quần xã chim nước; đẩy sâu các nghiên cứu sinh học sinh sản để nâng cao hiệu quả bảo tồn.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã cung cấp hệ thống số liệu định lượng về sân chim tại Trường Đại học Nông – Lâm Bắc Giang trong đợt khảo sát đầu năm 2018:
- Đã đo đạc, lập hồ sơ cấu trúc lâm học cho 6 sinh cảnh cư trú (diện tích OTC từ 271,7 m² đến 500 m²), chỉ ra thông số sinh trưởng thực tế: mật độ cây dao động từ 780 đến 2.897 cây/ha, đường kính ngang ngực bình quân từ 15,4 đến 20,8 cm, chiều cao vút ngọn từ 10,9 đến 16,2 m; phát hiện tỷ lệ cây phẩm chất xấu tại Đảo Trên lên tới 40,4%.
- Xác lập danh lục cập nhật gồm 27 loài chim thuộc 16 họ và 7 bộ, trong đó xác định riêng phân nhóm chim nước gồm 13 loài thuộc 5 họ và 5 bộ (bộ Hạc chiếm 61%).
- Cung cấp số liệu kiểm đếm mật độ thực tế của 3 loài chim nước đông nhất tại trường qua 6 ngày quan sát: Cò ngàng nhỏ đạt trung bình 1.005 cá thể/ngày (dao động từ 862 đến 1.201 cá thể); Cò bợ đạt trung bình 157 cá thể/ngày (dao động từ 116 đến 202 cá thể); Vạc đạt trung bình 114 cá thể/ngày (dao động từ 81 đến 155 cá thể).
- Đóng góp khoa học so với các công trình trước: Kế thừa nghiên cứu năm 2014 của Nguyễn Chí Thành (ghi nhận 12 loài chim nước) và nghiên cứu năm 2017 của Bùi Đình Tiến (bổ sung loài thứ 13), tác giả Nguyễn Anh Tuấn đã hoàn thiện dữ liệu đo đạc cụ thể về cấu trúc tầng tán sinh cảnh, làm rõ nhịp sinh học hoạt động kiếm ăn ngày - đêm và bước đầu mô tả đặc điểm sinh sản (thời gian làm tổ, giá thể làm tổ, số lượng trứng/ổ) của 3 loài ưu thế.
- Đề xuất được 7 nhóm giải pháp quản lý thực tế gắn kết giữa quy hoạch nội bộ nhà trường với sự phối hợp của chính quyền địa phương xã Bích Sơn và tỉnh Bắc Giang.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài được tác giả tự xác định bao gồm:
- Khung thời gian thực hiện ngắn (tháng 01/2018 – tháng 05/2018), chưa bao quát trọn vẹn chu kỳ sinh sản và biến động số lượng cá thể chim trong cả năm (đặc biệt các tháng mùa thu và đầu mùa đông).
- Điều kiện thời tiết trong đợt điều tra có nhiều ngày mưa gió, bất lợi cho việc quan sát ngoài thực địa.
- Dụng cụ khảo sát thực tập còn hạn chế và thiếu thốn, không đủ trang thiết bị chụp ảnh tele chuyên dụng tầm xa dẫn đến việc định loại và ghi hình một số cá thể chim còn khó khăn.
- Các giải pháp quản lý và bảo tồn dừng lại ở mức đề xuất định hướng chính sách, chưa có điều kiện triển khai thử nghiệm để đánh giá hiệu quả thực tế.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Xây dựng mạng lưới giám sát định kỳ lâu dài về diễn thế sinh thái và biến động số lượng quần thể các loài chim nước tại khuôn viên trường.
- Tiếp tục nghiên cứu sâu về các đặc tính sinh học, tập tính dinh dưỡng và sinh thái học sinh sản chi tiết của từng loài chim nước nhằm hoàn thiện cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn loài.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Khoa học môi trường và Sinh thái học động vật:
- Phần đáng tham khảo nhất là phương pháp luận kết hợp giữa điều tra lâm học (đo đạc OTC cây gỗ, tầng tán sinh cảnh cư trú) với phương pháp điều tra điểu học thực địa (thiết lập điểm quan sát cố định, đếm cá thể bay đi/bay về, lập biểu mẫu khảo sát).
- Danh lục 27 loài chim và các số liệu kiểm đếm thực tế 3 loài Cò ngàng nhỏ, Cò bợ, Vạc là bộ dữ liệu cơ sở phục vụ cho các nghiên cứu so sánh về diễn thế quần xã chim đô thị/trường học tại vùng đồng bằng Bắc Bộ.
- Cung cấp tài liệu tham khảo cho Ban giám hiệu và phòng Quản trị thiết bị Trường Đại học Nông – Lâm Bắc Giang trong việc quy hoạch cảnh quan, cải tạo hệ thống cây xanh ở các đảo hồ và bảo vệ sân chim trong quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng.
Câu hỏi thường gặp
1. Khu hệ chim trong khuôn viên Trường Đại học Nông – Lâm Bắc Giang có cấu trúc thành phần loài như thế nào?
Khóa luận ghi nhận tổng cộng 27 loài chim thuộc 16 họ và 7 bộ. Trong đó, bộ Sẻ (Passeriformes) chiếm ưu thế lớn nhất với 11 loài (chiếm 41%), tiếp đến là bộ Hạc (Ciconiiformes) với 8 loài (29%), bộ Sả (Coraciiformes) có 3 loài (11%), bộ Rẽ (Charadriiformes) có 2 loài (7%), các bộ Sếu, Bồ câu và Chim lặn mỗi bộ có 1 loài (chiếm 4% mỗi bộ).
2. Riêng nhóm chim nước có bao nhiêu loài và những loài nào chiếm số lượng cá thể chủ yếu?
Nhóm chim nước có 13 loài thuộc 5 họ và 5 bộ, trong đó bộ Hạc (họ Diệc) chiếm đa số với 8 loài (chiếm 61%). Ba loài có số lượng cá thể đông nhất được điều tra định lượng là: Cò ngàng nhỏ (Egretta garzetta) với trung bình 1.005 cá thể/ngày; Cò bợ (Ardeola bacchus) với trung bình 157 cá thể/ngày; và Vạc (Nycticorax nycticorax) với trung bình 114 cá thể/ngày.
3. Hiện trạng sinh cảnh thực vật tại hai đảo hồ trong trường có đặc điểm gì đáng lưu ý?
Đảo Trên có diện tích 376,2 m², mật độ cây rất cao (2.897 cây/ha) nhưng chất lượng sinh trưởng rất kém: cây tốt chỉ chiếm 4,6%, cây trung bình chiếm 55,5% và cây xấu chiếm tới 40,4%; nhiều cây keo bị già cỗi, gãy gập hoặc cụt ngọn. Đảo Dưới có diện tích 271,7 m², mật độ 2.245 cây/ha, tỷ lệ cây tốt đạt 45,0%, cây trung bình 38,3% và cây xấu 16,7%. Cả hai đảo đều có độ che phủ tán cao (trên 224%) nhưng cơ cấu thực vật đơn điệu (chủ yếu là Keo).
4. Mùa sinh sản và ổ đẻ của ba loài chim nước ưu thế diễn ra vào thời gian nào?
Cò ngàng nhỏ sinh sản từ tháng 3 đến tháng 9 (tập trung vào tháng 5, 6, 7), đẻ 2 – 3 trứng/lứa trên các cây Keo, Bạch đàn, Xoan ta, Nhãn. Cò bợ sinh sản từ tháng 6 đến tháng 9, đẻ 2 – 3 trứng/lứa trên Keo, Bạch đàn, Xoan. Vạc bắt đầu sinh sản từ đầu tháng 4 và kết thúc vào tháng 8, đẻ từ 3 – 4 trứng/lứa.
5. Những nguyên nhân chính nào đang đe dọa sự tồn tại của sân chim theo điều tra của tác giả?
Ba nguyên nhân chính gồm: Nạn săn bắn trái phép bằng súng hơi tự chế của các thợ săn tại các vùng đồng ruộng kiếm ăn lân cận trường vào sáng sớm và chiều tối; Điều kiện thời tiết mưa bão vào mùa sinh sản làm đổ vỡ tổ sơ sài khiến chim non và trứng bị rơi chết; Sinh cảnh sống bị thu hẹp và suy thoái do cây gỗ lớn bị khai thác, cây ở các đảo già cỗi chưa được trồng thay thế kịp thời.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Anh Tuấn đã phản ánh hiện trạng sinh thái sân chim tại Trường Đại học Nông – Lâm Bắc Giang qua dữ liệu điều tra thực địa 6 sinh cảnh, ghi nhận 27 loài chim với 13 loài chim nước và xác định trữ lượng cụ thể của 3 loài chiếm ưu thế. Nghiên cứu đã chỉ rõ tình trạng xuống cấp sinh cảnh tại các đảo và nguy cơ săn bắt trái phép đe dọa quần thể chim. Các kết quả khảo sát cùng hệ thống 7 giải pháp bảo tồn được đề xuất là tài liệu khoa học xác thực, phục vụ thiết thực cho công tác quản lý tài nguyên đa dạng sinh học tại khuôn viên nhà trường.