CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về nấm lớn 1. Khái quát chung về nấm lớn Nấm lớn gồm những nấm có thể sinh bào tử (hay thường được gọi là quả thể) đạt kích thước lớn hơn 0,5mm trở lên.
Nấm lớn bao gồm những nấm nhày có kích thước lớn của Myxomecetes, một số nấm có quả thể là phôi thai của họ Endogonaceae trong Zygomycetes, một số đáng kể nấm nang có nang quả thuộc dạng chai nằm sâu trong mô của Pyrenomycetes và tuyệt đại đa số nấm đảm trừ nấm rỉ, nấm than và nấm chưa hoàn chỉnh. Nấm lớn có số lượng loài lớn: Châu Âu có khoảng 6000 loài đã được mô tả, Ở Nhật Bản có khoảng hơn 3000 loài, Trung Quốc có khoảng 8000 loài [2]. Hiện nay, trữ lượng của nấm còn chưa có những số liệu đầy đủ. Đi sâu phân tích khu hệ nấm lớn Việt Nam về sự đa dạng của các taxon cho thấy các loài nấm đảm (Basidiomycota) chiếm ưu thế rõ rệt với hơn 90% trong tổng số loài; sau đó là nấm nang (Ascomycota) chiếm khoảng 8%; nấm nhầy (Myxomycota) chiếm khoảng 1,5% và nấm mạch (Glomeromycota) chiếm khoảng 0,5% [2].
Trong ngành nấm đảm thì tuyệt đại đa số nấm lớn thuộc ngành phụ, chỉ có một số ít loài thuộc 2 ngành phụ Pucciniomcotina R. Trong ngành phụ Agaricomycotina, đại đa số nấm lớn thuộc về lớp Agaricomycetes. Hai lớp còn lại chỉ có số lượng loài rất khiêm tốn là Tremellomycetes (17 loài thuộc bộ Tremellales) và lớp Dacrymycetes (với 5 loài thuộc bộ Dacrymycetes). Trong lớp Agaricomycetes, các bộ có số lượng loài nhiều nhất là Aphyllophorales sensu lato (gần 300 loài), Boletales (gần 60 loài), Russulales (gần 40 loài).
Các bộ có ít nhất là Hymenogastrales (1 loài), 4 Ceratiomycetales (1 loài) [2]. Nếu ước tính số loài nấm có trên lãnh thổ Việt Nam gấp 6 lần số loài thực vật bậc cao thì số loài có thể lên tới 72000 loài. Điều đó có ý nghĩa là hơn 90% số loài nấm có thể có của Việt Nam còn chưa được định loài và nêu tên trong danh lục [1]. Trong khi đó, nhìn chung trên thế giới số lượng loại nấm nang ước tính chiếm 2/3 trong tổng số các loài nấm đã được mô tả.
Mặt khác, ngay trong nấm đảm (Basidiomycota) thì các loài nấm than (Usilagomycetes), nấm rỉ (Pucciniomycetes) mới chỉ được nêu ra với một số ít các đại diện. Chỉ riêng chi Marasmius cũng có tới khoảng 500 loài phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới, nhưng ở Việt Nam mới chỉ được dẫn ra một số loài đặc trưng. Tình trạng tương tự như vậy cũng có thể kể ra với các chi nấm có quả thể với kích thước bé như Mycena, Marasmiellus,. Trong khi định loại nấm, chúng ta hiện nay chủ yếu dựa vào các khoá định loại và mô tả loài chuẩn của các tác giả nước ngoài khi nghiên cứu khu hệ nấm của châu Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản và một số ít tài liệu có được của khu hệ nấm Đông Phi, Trung Quốc, Liên Xô cũ,.
Số lượng loài và giống của một số bộ Nấm Việt Nam so sánh với Trung Quốc và Thế giới Số lượng loài/số Số lượng loài/số Số lượng loài/số Taxa lượng chi ở Việt lượng chi ở Trung lượng chi trên thế Nam Quốc giới Myxomycota 22/13 888/62 Ascomycota Meliolales 18/1 360/10 1600/24 Xylariales 68/12 2487/209 Pezizales 18/8 400/73 1030/177 Basidiomycota Agaricales 250/70 800/120 6000/300 Aphyllophorales 303/85 600/100 1500/150 Auriculariales 7/1 15/1 20/5 Boletales 50/12 500/40 1100/90 5 Số lượng loài/số Số lượng loài/số Số lượng loài/số Taxa lượng chi ở Việt lượng chi ở Trung lượng chi trên thế Nam Quốc giới Dacrymycetales 4/3 37/7 80/11 Hymenogastales 1/1 48/7 120/15 Lycoperdales 22/6 60/10 270/33 Nidulariales 11/3 30/4 60/5 Phallales 11/4 73/19 140/32 Russulales 35/5 150/6 500/10 Tremellales 17/8 82/73 270/53 (Nguồn: Nấm lớn ở Việt Nam – Trịnh Tam Kiệt 2014) [2] 1. Giá trị tài nguyên nấm lớn Các loài nấm lớn có giá trị tài nguyên rất đáng kể về nhiều mặt, bao gồm: a) Các loài nấm ăn được Trong số nấm ăn của Việt Nam có khoảng hơn 200 loài trong đó khoảng 50 loài là nấm ăn quý hiếm thuộc các đại diện của nấm Đảm Basidiomycota và một số ít loài thuộc nấm Túi Ascomycota có thể kể làm ví dụ như: Các loài mộc nhĩ thuộc chi Auricularia (7 loài), Ngân nhĩ – Tremella (5 loài), Nấm hương Lentinula edodes (Brek.) Pegler, Nấm rơm – Volvariella volvacea (Fr., Nấm mối – Termitomyces (3 loài), Nấm thông – Boletus edulis Bull., Nấm chàm – Boletus aff., Nấm trắng khổng lồ - Macrocybe gigantea (Massee) Pegle. Lodge, Nấm cỏ dày – Entoloma clypeatus (L., Nấm bào ngư Pleurotus spp., Nấm mào gà – Cantherellus cibarius Fr., Nấm ngọc châm – Hypsizigus marmoreus (Peck) Bigelow, Nấm kim châm – Flammulina velutipes (Curt. b) Các loài nấm làm dược liệu Hiện nay có khoảng khoảng hơn 200 loài nấm có giá trị dược liệu [2], trong đó có rất nhiều loài là dược liệu quý như: Linh chi một năm – Ganoderma lucidum complex, Linh chi sò – Ganoderma capense (Lloyd) Teng; Linh chi nhiều năm – Ganoderma applanatum (Pers., Ganoderma australe (Fr., Linh chi hải miên – Tomophagus colossus Murrill, Nấm lỗ phiến nhiều năm – Lariciformes officinalis (Vill., Nấm lỗ gỉ sắt – Inonotus obliquus (Pers.
và một số khác, Nấm vân chi – Trametes versicolor (Fr., Nấm phiến chi – Schizophyllum commune Fr., Nấm hương Lentinula edodes (Brek.) Pegler, Nấm kim châm – Flammulina velutipes (Curt., Mộc nhĩ – Auricularia, Ngân nhĩ – Tremella, Đông trùng hạ thảo – Cordycep sinenis (Brek. c) Các loài nấm độc Theo Trịnh Tam Kiệt (2014) các loài nấm độc ở Việt Nam khá phong phú, hiện nay có khoảng hơn 30 loài nấm độc [2]. Trong số các loài nấm độc của Việt Nam, nhóm nguy hiểm nhất là các loài gây ngộ độc chết người như: Nấm độc xanh đen – Amanita phalloides (Fr., Nấm độc tán trắng – Amanita verna (Lam., Nấm độc trắng hình nón – Amanita virosa Lam. Một số loài nấm độc khác nhau gây ngộ độc thần kinh, tiêu hoá, gây ảo giác khác cũng rất nguy hiểm có thể kể ra như: Nấm ruồi, Nấm độc đỏ - Amanita muscaria (L., Nấm độc nâu – Amanita pantherina (D.
– Nấm độc rỉ sắt, Entoloma lividum (Bull., Chlorophyllum molypdites (Meyer. – Nấm ô phiến xanh, Mycena pura (Pers.Kummer, Inocybe rimosa (Bull.Kumm, Nấm phiến đốm (Nấm phân) – Panaeolus papilionaceus (Bull. – Panaeolus retirugis (Fr. d) Các loài nấm có khả năng ứng dụng trong công nghệ sinh học và bảo vệ môi trường Khoảng 50 loài nấm có khả năng sinh enzyme và một số hoạt chất quý có thể được ứng dụng trong công nghệ sinh học và bảo vệ môi trường.
Nhìn chung, từ các tài liệu đã dẫn ra ở trên, chúng ta có thể thấy khu hệ nấm Việt Nam nói chung và nấm lớn nói riêng mới chỉ bước đầu được nghiên cứu. Tuy vậy, khu hệ nấm lớn Việt Nam cũng rất đa dạng, phong phú, được cấu thành từ nhiều yếu tố địa lý và có giá trị tài nguyên to lớn. Để bảo tồn nguồn gen nấm lớn và phát huy những giá trị tài nguyên quý, chúng ta cần đầu tư thích đáng nhằm đẩy mạnh việc nghiên cứu một cách đầy đủ khu hệ nấm lớn Việt Nam trong thời gian tới. Đặc điểm sinh học của nấm lớn a) Cơ chế phát sinh của nấm lớn Các nhóm nấm khác nhau trải qua sự phát triển rất khác nhau về cá thể và cả thành phần cấu trúc nên quả thể cũng rất khác biệt.
Khi nấm trưởng thành dưới mũ nấm có các phiến mỏng (phiến nấm) hay ống tròn nhỏ li ti. Các phiến nấm hay ống nhỏ là phần để sinh ra các bào tử, bào tử được coi như hạt giống của cây trồng. Nấm có vô số bào tử, một quả thể nấm trưởng thành có hàng tỉ bào tử. Khi nấm già mà không được hái, cây nấm sẽ nứt bao, xoè ô và phát tán bào tử, các bào tử rơi vào không khí hay bay đi xa, bám vào rơm rạ, gỗ, đất.
Gặp điều kiện thuận lợi như độ ẩm, nhiệt độ thích hợp chúng nẩy mầm tạo nên cây nấm. Cây nấm mọc có đủ dinh dưỡng và điều kiện môi trường tốt sẽ phát triển và lặp lại quy trình trước đó. Điều này giải thích vì sao nấm mọc ngoài tự nhiên mà không cần cấy giống nấm. Chu kì sống của nấm lớn được thể hiện qua Hình 1.
Chu kỳ sống với các giai đoạn sinh trưởng và phát triển điển hình của nấm ăn (nấm Rơm) – Tác giả Nguyễn Thị Thu Hà năm 2016 b) Hình thái của thể sinh bào tử [2].) Quả thể hay thể sinh bào tử của nấm rất đa dạng: Dạng mạng; dạng quả mỏng có lớp sợi bện kết rắn chắc; dạng da mỏng; dạng gỗ dày; dạng gò; dạng gối; dạng chải cuộn ngược ở dạng thể nấm rộng trên giá thể và cuộn lên thành dạng vành, dạng mũ hoàn chỉnh, chuyển tiếp nhau. Chúng rất phổ biến ở các nấm sống trên gỗ. Dạng mũ đính, mũ cầu hình bán cầu dẹp hay dạng sò, hến, dạng quạt. đính 8 vào giá thể trên một diện rộng.
Quả thể nấm trong trường hợp này thường phẳng, dẹp. Chúng đính đơn độc hay xếp thành dạng ngói lợp, cái nọ trên cái kia. Dạng củ; dạng cầu; dạng não; dạng tai; dạng chùy; dạng sợi. Dạng san hô phân nhánh một lần, 2 lần hay 3 lần.
Dạng phiến, dạng bản hẹp đơn độc hay phân nhánh. Dạng tán, dạng ô gồm những mũ nấm dính trên cuống nấm với các dạng phụ như có cuống ngắn đến gần như không cuống, cuống đính phía bên của mũ, cuống lệch và cuống đính giữa. Mũ nấm cũng gồm rất nhiều dạng khác nhau như: Mũ dạng hẹp, phẳng; mũ dạng hẹp, hơi lồi; mũ dạng hẹo lồi thành gồ; mũ dạng phẳng, dẹp, lõm dạng rốn; mũ dạng phễu; mũ dạng bán cầu; mũ dạng chuông; mũ dạng nón. Bề mặt mũ nấm cũng rất khác nhau tuỳ thuộc vào từng loài.
Mũ nhẵn hay có những vảy, mụn, u lồi.; có lông thô hay nhày, dính, màu sắc của mũ nấm hết sức khác nhau, bao gồm những màu nguyên và hàng loạt màu phụ. Màu sắc của mũ nấm có thể đồng đều hoặc gồm các tông màu khác nhau. Thịt nấm cũng rất khác nhau: Chất thịt, chất keo, chất sáp, chất sụn, chất thịt - bì, chất bì, chất mềm, chất gỗ cứng, chất sừng. Chúng có cấu trúc đồng nhất phân tầng gồm 2,3 lớp có khi có đường đen chạy qua.
Cấu trúc của thịt nấm và mô của thể sinh sản có thể đồng nhất hay khác nhau. Thịt nấm rất khác nhau về màu sắc, mùi, vị cũng như phản ứng với không khí và các chất hoá học, ví như phản ứng với KOH chuyển sang màu tối ở nhiều nấm có mô màu tối. Cuống nấm có các dạng như: Cuống ngắn hay cuống phôi thai; cuống đính bên; cuống nấm rất khác nhau về hình dạng. Cuống nấm có thể đặc, xốp hay rỗng ở giữa.