Đặt vấn đề Rừng là tài nguyên quý giá, là một bộ phận quan trọng của môi trường sống. Rừng không chỉ có giá trị về kinh tế mà còn có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu khoa học, bảo tồn nguồn gen, bảo tồn đa dạng sinh học, điều hoà khí hậu, phòng hộ đầu nguồn, hạn chế thiên tai, ngăn chặn sự hoang mạc hoá, chống sói mòn, sạt lở đất, ngăn ngừa lũ lụt, đảm bảo an ninh quốc phòng, đồng thời rừng cũng tạo cảnh quan phục vụ cho du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng. Rừng có được những chức năng đó là nhờ đa dạng sinh học. Đa dạng sinh học là nguồn tài nguyên quý giá nhất, vì nó chỉ sự phong phú và đa dạng của giới sinh vật từ mọi nguồn trên trái đất, là sự sống còn và tiến hóa của các loài sinh vật.
Việt Nam là một nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Do vị trí địa lý nên Việt Nam được coi là một trong những trung tâm đa dạng sinh học của Đông Nam Á. Từ kết quả nghiên cứu khoa học trên lãnh thổ Việt Nam, các nhà khoa học nhận định Việt Nam là một trong mười nước ở châu Á và một trong mười sáu nước trên thế giới có tính đa dạng sinh học cao. Khu bảo tồn Loài và Sinh cảnh Nam Xuân Lạc huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn đc thành lập theo Quyết định số 342/QĐ-UB ngày 17/03/2004 của UBND tỉnh Bắc Kạn với diện tích 1.788 ha, nằm trong địa giới hành chính của xã Xuân Lạc và chủ yếu là rừng gỗ quý hiếm trên núi đá vôi.
Hiện trạng ở Khu bảo tồn còn khá nguyên vẹn, nhiều nơi chưa bị tác động của con người, lưu giữ được nhiều loài động, thực vật quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng. Núi đá vôi là hệ sinh thái đặc biệt của Việt Nam, nó chứa đựng tài nguyên sinh học vô cùng quý giá. Nằm trong hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam, Khu bảo tồn Loài và Sinh cảnh Nam Xuân Lạc là một đơn vị địa lý sinh e 2 vật có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc duy trì tính đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường sinh thái. Nhưng hiện nay, nguồn tài nguyên rừng trong Khu bảo tồn đang bị tác động mạnh bởi người dân sống xung quanh Khu bảo tồn.
Do phong tục tập quán của người dân sống định cư ở đây là lấy củi đun, lấy gỗ để phục vụ trong đời sống sinh hoạt, phá rừng để mở rộng diện tích đất nông nghiệp, chăn thả gia súc tự do … trong Khu bảo tồn đã và đang diễn ra trong vùng đệm của Khu bảo tồn. Vì vậy, việc bảo tồn tính đa dạng sinh học, bảo vệ nguồn gen quý hiếm cũng như các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác trong Khu bảo tồn rất quan trọng. Để đánh giá được tính đa dạng của thực vật ở Khu bảo tồn Loài và Sinh cảnh Nam Xuân Lạc, làm cơ sở cho việc bảo tồn, phát tiển và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá đa dạng thực vật thân gỗ kiểu rừng phục hồi sau nương rẫy thuộc Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn”. Mục tiêu nghiên cứu đề tài Đề tài thực hiện nhằm đạt các mục tiêu sau: - Xác định được đa dạng thực vật thân gỗ kiểu rừng phục hồi sau nương rẫy tại Khu bảo tồn Loài và Sinh cảnh Nam Xuân Lạc - Đề xuất một số giải pháp bảo tồn đa dạng thực vật thân gỗ, đặc biệt là các loài quý hiếm tại kiểu rừng này.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong khoa học Qua việc thực hiện đề tài sẽ giúp sinh viên làm quen với việc nghiên cứu khoa học, cũng cố kiến thức đã học, vận dụng lý thuyết vào thực tế; biết cách thu thập, phân tích và xử lý thông tin cũng như kỹ năng tiếp cận và làm việc với cộng đồng. e 3 Kết quả của đề tài bổ sung thông tin về đa dạng thực vật thân gỗ tại Khu bảo tồn Loài và Sinh cảnh Nam Xuân Lạc 1. Ý nghĩa trong thực tiễn Đề tài góp phần nghiên cứu về sự đa dạng của quần thể thực vật thân gỗ kiểu rừng phục hồi sau nương rẫy nhằm bảo tồn và phát triển các loài quý hiếm đang có nguy cơ bị tuyệt chủng.
e 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Lần đầu tiên thuật ngữ “đa dạng sinh học” (Biodiversity hay biological diversity) được Norse and McManus (1980) giới thiệu, bao gồm hai khái niệm có liên quan với nhau là đa dạng di truyền (tính đa dạng về mặt di truyền trong một loài) và đa dạng sinh thái (số lượng các loài trong một quần xã sinh vật). Theo ước tính gần đây nhất thì có đến 12 định nghĩa khác nhau về đa dạng sinh học (Gaston and Spicer, 1998). Tuy nhiên trong số này thì định nghĩa được sử dụng trong Công ước đa dạng sinh học (1992) được coi là “toàn diện và đầy đủ nhất” xét về mặt khái niệm.
Trong Công ước về đa dạng sinh học, thuật ngữ đa dạng được dùng để chỉ sự phong phú và đa dạng của giới sinh vật từ mọi nguồn trên trái đất, nó bao gồm sự đa dạng trong cùng một loài, giữa các loài và sự đa dạng hệ sinh thái (Gaston and Spicer, 1998). Như vậy, đa dạng là toàn bộ các dạng sống trên trái đất, bao gồm tất cả các nguồn tài nguyên di truyền, các loài, các hệ sinh thái và các tổ hợp sinh thái. Đa dạng sinh học thường được thể hiện ở 3 cấp độ: đa dạng trong loài (đa dạng di truyền), giữa các loài (đa dạng loài) và các hệ sinh thái (đa dạng hệ sinh thái). “Đa dạng sinh học là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn trong hệ sinh thái trên cạn, ở biển và các hệ sinh thái dưới nước khác, và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên; đa dạng sinh học bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng di truyền), giữa các loài và các hệ sinh thái” - Công ước đa dạng sinh học, 1992.
[ 2 ] Vì thế giới sự sống chủ yếu được xem xét ở khía cạnh các loài, nên thuật ngữ đa dạng sinh học thường được dùng như một từ đồng nghĩa của “đa e 5 dạng loài”, hay “sự phong phú về loài”, thuật ngữ dùng để chỉ số lượng loài trong một vùng hoặc một nơi cư trú. Đa dạng sinh học nói chung thường được hiểu là số lượng các loài thuộc các nhóm phân loại khác nhau trên toàn cầu. Ước tính tổng số loài tồn tại trên trái đất khoảng từ 5 triệu đến gần 100 triệu loài, nếu xét trên khái niệm số lượng loài đơn thuần, thì sự sống trên trái đất chủ yếu bao gồm côn trùng và vi sinh vật. Đến thời điểm này đã có khoảng 1,7 triệu loài đã được xác định.
[17] Cuộc sống của loài người trên trái đất đang phụ thuộc hoàn toàn vào các hệ sinh thái. Các hệ sinh thái lọc sạch không khí và nước, phân huỷ và tái quay vòng các chất dinh dưỡng, duy trì đa dạng sinh học cũng như các chức năng quan trọng khác của chúng, làm cho trái đất có sự sống. Tuy nhiên, các hệ sinh thái vẫn đang bị chính con người xâm phạm không thương tiếc. Khắp mọi nơi trên thế giới, con người sử dụng quá mức và lạm dụng các hệ sinh thái, từ rừng mưa nhiệt đới cho tới các rạn san hô, đồng cỏ, thảo nguyên,.
đã gây suy thoái và huỷ hoại nghiêm trọng các hệ sinh thái - nơi nuôi dưỡng của mọi loài. Dẫn đến suy giảm số lượng các loài hay suy giảm đa dạng sinh học trên trái đất, được xác nhận bằng con số các loài bị tuyệt chủng hay đang bị đe doạ tuyệt chủng, đồng thời tác động tiêu cức đến các lợi ích của con người do các nguồn tài nguyên mà chúng ta sống phụ thuộc đang bị cạn kiệt dần. Ngày nay, ở nhiều nơi trên trái đất đang hứng chịu những tác động tiêu cực do suy thoái các hệ sinh thái gây ra như: nạn thiếu nước ở Punjab, Ấn Độ; xói mòn đất ở Tuva, Cộng hoà Liên Bang Nga; cá chết ngoài khơi Bắc Carolina, Hoa Kỳ; cháy rừng Sumatra, Inđônêxia; hàng nghìn người chết và hàng triệu người mất nhà cửa do lũ lụt ở sông Dương Tử, Trung Quốc - hậu quả của chặt phá rừng đầu nguồn,. Mặc dù phải trả giá rất đắt do làm suy thoái các hệ sinh thái và chúng ta phải phụ thuộc vào năng suất của các hệ sinh thái, song chúng ta lại biết quá ít về toàn bộ tình trạng của của các hệ sinh thái trái đất.
[ 1 ] e 6 Thông tin đầy đủ nhất hiện có về rừng nhiệt đới là các thông tin về các loài thực vật. Vùng tân nhiệt đới (trung và nam Mỹ) ước tính có khoảng 86.000 loài thực vật có mạch, vùng nhiệt đới và nửa khô hạn châu Phi có 30.000 loài, vùng Madagascar có 8.200 loài, vùng nhiệt đới châu Á bao gồm cả New Guinea và vùng nhiệt đới Australia có khoảng 45. Nhìn tổng thể, vùng nhiệt đới chiếm 2/3 con số ước tính 250.000 loài thực vật có mạch trên Trái đất. Alwyn Gentry, Norman Myers ước tính rằng 2/3 số loài thực vật nhiệt đới được tìm thấy ở các khu rừng nhiệt đới ẩm (rừng rậm rụng lá và thường xanh).
Như vậy, khoảng 45% các loài thực vật mạch gỗ được tìm thấy trong các rừng rậm nhiệt đới. [17] Rừng là một hệ sinh thái đặc thù bởi tính đa dạng về loài, rừng gắn liền với việc bảo tồn nguồn gen hay bảo đa dạng các loài, đặc biệt là trong bối cảnh biến đổi hệ thống sinh thái - môi trường do tác động của con người diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh và phức tạp. Những biến đổi này được gây ra: - Trực tiếp bởi việc thúc đẩy hoặc loại bỏ một số loài động, thực vật nhất định của các ngành sản xuất (nông, lâm nghiệp, săn bắn). - Gián tiếp thông qua sự thay đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, sức ép dân số, độc canh và khai thác trắng, … làm thu hẹp cảnh quan tự nhiên và môi trường sống của các loài.
Rừng nguyên sinh có những đặc điểm khác biệt cơ bản về thành phần, cấu trúc và chức năng so với các giai đoạn diễn thế trước đó và thể hiện tiềm năng nguồn gen được chọn lọc và thích ứng cao. Tuy nhiên, diện tích rừng nguyên sinh ngày càng bị thu hẹp. Do vậy, các nghiên cứu về những lâm phần rừng nguyên sinh còn lại trên thế giới cần phải làm rõ các tính chất đặc biệt của chúng.