ĐẶT VẤN ĐỀ Trong xu thế phát triển kinh tế theo hướng bền vững, không chỉ ở trên thế giới mà ở Việt Nam hiện nay đã và đang áp dụng phát triển kinh tế và bảo tồn đa dạng sinh học. Bởi môi trường chúng ta đang sống, thức ăn hàng ngày, những vật dụng và cảnh quan thiên nhiên, v. đều có nguồn gốc từ sinh vật. Giá trị của đa dạng sinh vật mang lại cho đời sống con người rất đa dạng và phong phú, ngoài giá trị trực tiếp và giá trị gián tiếp mà chúng ta đã xác định được, nó còn có giá trị khổng lồ mà cả nhân loại hiện nay chưa tìm hiểu và sử dụng hết được.
Chính vì thế bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH) là việc làm cần thiết, nó mang tính đạo đức của thế hệ hiện tại dành cho thế hệ tương lai tìm hiểu, khai thác sử dụng nguồn ĐDSH cho sự phát triển của nhân loại. Những việc làm cụ thể, được thể hiện qua việc các Quốc gia đã ký Công ước bảo tồn ĐDSH tại Hội nghị thượng đỉnh Rio de Janeiro, 1992 “Công ước về Bảo tồn ĐDSH là cái mốc đánh dấu cam kết của các quốc gia trên thế giới về bảo tồn ĐDSH, bảo đảm sử dụng một cách bền vững nguồn tài nguyên sinh vật và nguồn lợi thu được phải phân chia công bằng” [33] Khai thác và sử dụng tài nguyên sinh vật là việc làm cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của loài người. Nhưng trong những năm qua do sức ép về dân số tăng nhanh, nhu cầu về lương thực, gỗ, củi… tăng nhiều lần. Đồng thời công nghiệp phát triển đòi hỏi rất nhiều nguyên, nhiên liệu.
Bên cạnh đó, hệ thống giao thông mở rộng đã đẩy nhanh tốc độ khai phá tài nguyên rừng. Chiến tranh, thiên tai, hoả hoạn cũng là nguyên nhân làm giảm diện tích và chất lượng của rừng. 2 Việt Nam có 3/4 diện tích lãnh thổ là rừng, với dãy Trường Sơn kéo dài từ Bắc đến Nam và hai vùng lưu vực sông lớn là sông Hồng và sông Mêkông. Ngoài ra, còn rất nhiều hệ thống lưu vực sông nhỏ dọc bờ biển, nhiều đỉnh núi cao, điển hình là đỉnh Phan si Phăng cao 3143m, được coi là nóc nhà của Đông Dương.
Những yếu tố thuỷ văn, địa lý, thổ nhưỡng, khí hậu cùng với các yếu tố sinh thái đã tạo nên những thảm thực vật rừng quanh năm tươi tốt, dày đặc, đa dạng và phong phú mang những nét đặc trưng riêng như một thành phần quan trọng của môi trường sinh thái. Việt Nam được đánh giá là một trong những trung tâm của ĐDSH của thế giới, hệ thực vật ước tính khoảng 12.000 loài, thực vật bậc cao có mạch, nhưng hiện chỉ mới thống kê được 9.010 chi và 291 họ (Phan Kế Lộc, 1997).000 loài đặc hữu trong nước, 1.000 loài có khả năng cung cấp gỗ, 352 loài có giá trị thương mại cao, 50 loài có chất lượng gỗ tốt và 42 loài quí hiếm. Có khoảng 76 loài cung cấp hương liệu, 600 loài cung cấp tanin, 160 loài chứa dầu thực vật và nhiều loài cây dược liệu như Sâm Ngọc Linh, Vàng đằng, Hoàng liên, Tam thất, Sa nhân. Về động vật có 273 loài thú, 180 loài bò sát, 773 loài chim, 80 loài Ếch, Nhái và hàng ngàn động vật không sương sống [12].
Việt Nam, hiện được coi là trung tâm ĐDSH còn nhiều bí ẩn nhất của thế giới, qua việc phát hiện 2 trong tổng số 7 loài thú lớn có vú trên thế giới. Đó là Sao la hay Dê sừng dài (Pseudoryx nghetinhensis) và Mang lớn (Megamuntiacus vuquangensis). Nhận thức được vai trò quan trọng của rừng và ĐDSH, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều chủ trương, chính sách và hành động nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên. Ngay từ năm 1962 khu rừng cấm Cúc Phương được thành lập, sau này đổi thành Vườn Quốc gia (VQG).
Từ đó đến nay hệ thống các khu 3 rừng đặc dụng đã được hình thành với 128 khu, bao gồm 30 VQG, 48 khu dự trữ thiên nhiên, 12 khu bảo tồn loài và sinh cảnh, 38 khu văn hoá, lịch sử và môi trường. [9] Vườn Quốc gia Vũ Quang được thành lập theo Quyết định số 102/2002/QĐ- TTg, ngày 30 tháng 7 năm 2002 về việc chuyển Khu bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang thành VQG Vũ Quang, diện tích 55. Vườn Quốc gia Vũ Quang nằm trong vùng Bắc Trung bộ được coi là 1 trong 200 vùng sinh thái trọng yếu của thế giới, là một mắt xích quan trọng trong chuỗi các khu bảo tồn tạo nên môi trường sống hết sức quan trọng cho hệ động thực vật, vì các khu vực nằm rải đến tận phía Nam và Bắc VQG trong địa phận Việt Nam và đến phía Tây thuộc địa phận nước Lào. VQG Vũ Quang là khu vực đầu nguồn quan trọng của tỉnh Hà Tĩnh, vì ba nhánh sông của con sông lớn nhất tỉnh bắt nguồn từ VQG Vũ Quang.
Ngoài giá trị về bảo tồn ĐDSH, VQG Vũ Quang còn có ý nghĩa lịch sử. Trong thời kỳ 1885- 1896, nhà hoạt động chính trị Việt Nam, ông Phan Đình Phùng đặt căn cứ chống Pháp ở nơi này. Đánh giá ĐDSH là thể hiện số lượng các loài và số lượng cá thể từng loài là bao nhiêu trong họ, bộ, ngành; các kiểu gen và hệ sinh thái. Ngoài ý nghĩa về kinh tế xã hội và khoa học, việc đánh giá ĐDSH giúp cho nhà quản lí chọn và ưu tiên bảo tồn những nơi có ĐDSH cao và phong phú.
Vì vậy, đề tài chúng tôi đã chọn đề tài:“Đánh giá đa dạng thực vật Vườn Quốc gia Vũ Quang” nhằm mục đích: - Xác định các loài thực vật bậc cao có mạch và hệ thống hoá tài liệu theo Brummitt, (1992); - Xác định yếu tố địa lý, phổ dạng sống và xác định giá trị tài nguyên của hệ thực vật ở Vườn Quốc gia Vũ Quang. TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC THỰC VẬT 1. NHẬN THỨC VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC Trái đất ngày càng nóng lên, băng tan, thiên tai lũ lụt xuất hiện với mật độ càng nhiều và trên diện rộng gây ảnh hưởng to lớn đến đời sống của toàn nhân loại. Nguyên nhân do ô nhiễm môi trường, mất rừng, suy thoái đa dạng sinh học, v.
Nhận thức được vấn đề trên các nhà lãnh đạo trên thế giới đã cùng ngồi bàn về môi trường và đa dạng sinh vật tổ chức tại Rio de Janeiro, Brazil năm 1992, có 50 nước đã ký vào Công ước. Việt Nam chính thức tham gia công ước ngày 16/11/1994, đến nay đã có 170 nước tham gia Công ước. Nhiều tổ chức quốc tế được thành lập, như: Hiệp hội Quốc tế về Bảo tồn thiên nhiên (IUCN); Quỹ Quốc tế về bảo vệ thiên nhiên hoang dã (WWF); Quỹ động thực vật thế giới (FFI), v. Thuật ngữ ĐDSH mới được biết đến vào đầu thế kỷ 20 và thật sự phát triển mạnh trong thập niên 90 trở lại đây, trong chương trình hành động đa dạng sinh học Việt Nam [12] đưa ra khái niệm về đa dạng sinh học “Là tập hợp tất cả các nguồn sinh vật sống trên hành tinh bao gồm tổng số các loài động và thực vật; tính đa dạng và sự phong phú trong từng loài, tính đa dạng hệ sinh thái của các cộng đồng sinh thái khác nhau hoặc tập hợp các loài khác nhau trên thế giới với các hoàn cảnh khác nhau”.
Định nghĩa này đã đề cập được ba vấn đề: Đa dạng loài; đa dạng giữa các loài và đa dạng hệ sinh thái, tuy nhiên định nghĩa còn dài, không rõ ràng, dễ nhầm lẫn. Tại Hội nghị Rio de janeiro (1992) đưa ra định nghĩa về ĐDSH như sau: “Đa dạng sinh học là sự biến đổi giữa các sinh vật ở tất cả mọi nguồn, bao gồm hệ sinh thái trên đất liền, trên biển và các hệ sinh thái thủy vực khác. Sự đa dạng 5 thể hiện trong từng loài, giữa các loài và các hệ sinh thái”. Định nghĩa này tương đối đầy đủ và rõ ràng.
Qua các định nghĩa ta có thể hiểu đa dạng sinh học bao gồm các vấn đề sau: 1. Đa dang di truyền 2. Đa dạng về loài 3. Đa dạng về hệ sinh thái 1.
TỔNG QUAN VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC 1. Nghiên cứu về hệ thực vật 1. Ở trên thế giới Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đa dạng nói chung và đa dạng thực vật nói riêng, song ở đây chỉ nêu một số công trình tiêu biểu đó là: Thực vật chí Honkong (1861); thực vật chí Australia (1866); thực vật chí Ấn độ, gồm 7 tập (1872- 1897); thực vật chí Hải Nam (1972-1977); thực vật chí Vân Nam (1977), v. Các bộ thực vật chí tuy nghiên cứu ở mỗi Quốc gia hay vùng lãnh thổ khác nhau nhưng việc mô tả, thống kê các loài có ý nghĩa quan trọng trong đánh giá ĐDSH của khu vực nghiên cứu và trên toàn thế giới.
Ở Việt Nam Trong khoảng nửa đầu thế kỷ 20 trở về trước, các công trình nghiên cứu về thực vật đều do các tác giả nước ngoài thực hiện như: Thực vật rừng Nam bộ của Loureiro (1790); Thực vật chí Nam bộ của Pierre (1879). Có ý nghĩa nhất là “Thực vật chí Đông Dương” của Lecomte đã thống kê được hơn 7.000 loài, trong tác phẩm này tác giả đã thu mẫu và định tên, lập khoá mô tả các loài thực 6 vật có mạch trên toàn lãnh thổ Đông Dương [38]. Năm 1965 trong công trình về Rêu của Pocts đã công bố 556 loài có ở Bắc Việt Nam [34]… Những công trình trên mới chỉ dùng lại ở thống kê số lượng các loài như miền bắc, miền Nam, Việt Nam hoặc toàn vùng Đông Dương, chưa đi sâu nghiên cứu về thảm thực vật. Từ giữa thế kỷ 20 đến nay, các tác giả Việt Nam đã nghiên cứu và công bố các công trình về hệ thực vật như: Bộ cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng hộ (1970-1972), đã đề cập 5.326 loài thực vật và tái bản năm (1991-1993; 1999- 2000) [10] gồm 3 tập, tác giả đã mô tả được 10.
Trong tác phẩm “Một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vật Việt Nam” do Lê Trần Chấn, chủ biên đã tổng hợp được 10.193 loài, ít hơn 307 loài so với Phạm Hoàng Hộ (1991-1993) điều này được tác giả giải thích “Sở dĩ có sự khác nhau này do một số là thứ, nhưng Phạm Hoàng Hộ vẫn tính là một loài, hoặc có một số trùng tên, còn so với bộ Thực vật chí Đại cương Đông Dương được Thái Văn Trừng thống kê (1978) đã tăng được 3.