MỞ ĐẦU 1. Rừng là tài nguyên vô cùng quý giá, có ý nghĩa to lớn đối với môi trường cũng như đời sống con người. Đó là một thành phần của môi trường địa lý tham gia vào vòng tuần hoàn vật chất sinh địa - hoá toàn hành tinh, là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá và đa dạng, bảo đảm cho nhu cầu nhiều mặt của con người. Ngày nay, do dân số tăng nhanh, nhu cầu về tài nguyên ngày càng lớn nên đã gây sức ép đối với các loại tài nguyên nói chung và tài nguyên rừng nói riêng.
Tài nguyên rừng đã và đang được sử dụng ngày càng nhiều để đáp ứng các nhu cầu ngày càng tăng cao về lương thực, thực phẩm, gỗ củi và các nguyên liệu khác cho sự phát triển kinh tế, xã hội của con người. Bởi vậy, để đáp ứng những nhu cầu của hiện tại của con người tài nguyên rừng đang bị suy giảm một cách nghiêm trọng về cả số lượng và chất lượng. Theo số liệu công bố của tổ chức IUCN, UNDF và FFW trung bình mỗi năm trên thế giới mất đi khoảng 20 triệu ha rừng, trong đó rừng bị mất do đốt phá làm nương rẫy chiếm 50%, cháy rừng chiếm 23%, do khai thác 5-7% còn lại là do các nguyên nhân khác [19]. Như vậy theo thống kê trên thấy rằng tỷ lệ rừng mất đi do làm nương rẫy là lớn nhất chiếm tỷ lệ 50% trong tổng số các nguyên nhân làm suy thoái rừng.
Ở Việt Nam cũng không ngoại lệ, nguyên nhân mất rừng chủ yếu cũng là do làm nương rẫy, rừng nước ta tập trung chủ yếu ở các khu vực vùng núi cao, nơi trình độ dân trí còn thấp người dân sống chủ yếu phụ thuộc vào tài nguyên rừng nhưng ý thức bảo vệ, giữ gìn bảo tồn nguồn tài nguyên chưa cao. Ngày nay, với tầm quan trọng của rừng đối với sự sống trên trái đất và hiện trạng rừng đang bị suy giảm một cách nghiêm trọng thì “phục hồi rừng” đang là một vấn đề được rất nhiều người quan tâm, đề cập đến trên toàn thế giới. 2 Phục hồi rừng là nội dung được rất nhiều các nhà khoa học nghiên cứu tìm hiểu trên toàn thế giới và trên những loại rừng khác nhau. Đây là cơ sở khoa học để áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp cho từng đối tượng.
Nông Hạ là một xã miền núi của tỉnh Bắc Kạn với tổng diện tích đất Lâm nghiệp là 5247,07 ha. Trong chương trình phát triển rừng tại địa bàn, xã đã áp dụng một số biện pháp phục hồi rừng như cải tạo, trồng rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên, khoanh nuôi bảo vệ rừng. Để thấy được hiểu quả từ những biện pháp kỹ thuật tác động này, đề tài đã triển khai nghiên cứu thực nghiệm một số mô hình phục hồi rừng và theo dõi đánh giá hàng năm để đánh giá được hiểu quả mà biện pháp tác động mang lại. Vì vậy, xuất phát từ lý do trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá mô hình phục hồi rừng tại xã Nông Hạ, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn”.
Mục đích nghiên cứu Nhằm đánh giá được thực trạng khả năng phục hồi rừng từ các mô hình đang áp dụng giải pháp phục hồi rừng tại xã Nông Hạ, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn làm cơ sở khoa học đề xuất các biện pháp kỹ thuật phục hồi rừng cho đối tượng nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá được đặc điểm chủ yếu của thảm thực vật tại khu vực nghiên cứu. - Nghiên cứu đánh giá đặc điểm cây tái sinh ở một số điểm áp dụng giải pháp phục hồi rừng và theo dõi khả năng tăng trưởng và sinh trưởng của chúng. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu Góp phần củng cố phương pháp nghiên cứu khoa học cho sinh viên, giúp sinh viên vận dụng được những kiến thức đã học trong trường vào thực tiễn một cách có hiệu quả. Ý nghĩa thực tiễn Phục hồi rừng để bảo vệ nguồn gen duy trì tính đa dạng sinh học và cân bằng sinh thái trong vùng là hết sức cần thiết, do đó kết quả của nghiên cứu này sẽ góp phần làm sáng tỏ đặc điểm sinh thái và khả năng phục hồi rừng tại địa điểm nghiên cứu. 4 Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 2.
Khái niệm về tái sinh, phục hồi rừng 2. Tái sinh rừng Theo Phùng Ngọc Lan (1986), cho rằng: Tái sinh rừng được coi là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng. Biểu hiện đặc trưng của tái sinh rừng là sự xuất hiện của một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi có hoàn cảnh rừng. Theo ông vai trò lịch sử của thế hệ cây con là thay thế thế hệ cây gỗ già cỗi.
Vì vậy, tái sinh rừng được hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng chủ yếu là tầng cây gỗ. Ông cũng khẳng định tái sinh rừng được hiểu theo nghĩa rộng là sự tái sinh của một thế hệ rừng [8]. Đứng trên quan điểm triết học, tái sinh rừng là một quá trình phủ định biện chứng: rừng non thay thế rừng già trên cơ sở được thừa hưởng hoàn cảnh thuận lợi do thế hệ rừng ban đầu tạo nên. Dứng trên quan điểm chính trị kinh tế học tái sinh rừng là quá trình tái sản xuất mở rộng tài nguyên rừng.
Đương nhiên điều kiện này chỉ có thể trở thành hiện thực khi ta nắm chắc được các biên pháp kỹ thuật lâm sinh chính xác, nhằm điều hòa và định hướng các quá trình tái sinh phục vụ mục tiêu kinh doanh đã đề ra. Như vậy tái sinh rừng không còn chỉ là tự nhiên, kỹ thuật mà còn là vấn đề kinh tế xã hội. Tái sinh rừng diễn ra dưới ba hình thức là tái sinh hạt, tái sinh chồi và tái sinh ngầm (họ tre nứa). Mỗi hình thức tái sinh trên có quy luật riêng và trải qua nhiều giai đoạn khác nhau [7].
Phục hồi rừng Theo tác giả Trần Đình Lý (1995) phục hồi rừng là một quá trình sinh địa phức tạp gồm nhiều thời gian và kết thúc bằng sự xuất hiện một thảm thực vật cây gỗ (hoặc tre nứa) bắt đầu khép tán. Nói một cách khác, phục hồi rừng là quá trình tái tạo lại một hệ sinh thái, một quần xã sinh vật mà trong đó cây gỗ là yếu tố cấu thành chủ yếu, nó chi phối các quá trình biến đổi tiếp theo [9]. Để tái tạo lại rừng người ta có thể áp dụng các biện pháp khác nhau như: biện pháp khoanh nuôi thuần túy, biện pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, biện pháp trồng lại rừng và biện pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung. Cơ sở khoa học lựa chọn giải pháp phục hồi rừng Hai văn bản được đánh giá là tiêu biểu cho việc phân loại đối tượng tác động,và được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn kinh doanh rừng ở nước ta trong một thời gian dài, đó là quy phạm các giải pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho rừng sản xuất gỗ và tre nứa.Theo các quy phạm này, các đối tượng rừng được phân loại dựa theo tiêu chí như sau: Bảng 2.1: Cơ sở khoa học lựa chọn giải pháp phục hồi rừng Tiêu chí Gỗ lớn Gỗ nhỏ Rừng trồng, rừng tự nhiên tương đối đều tuổi sau khép tán.
Rừng Giải pháp phục hồi trên đất nương rẫy. Rừng hỗn loài tự nhiên không đều tuổi sau khai thác chọn không đúng kỹ thuật. Cây tái sinh có Cây cao phẩm Cây tái sinh có Cây cao phẩm triển vọng chất tốt triển vọng chất tốt (cây/ha) (cây/ha) (cây/ha) (cây/ha) Nuôi dưỡng ≥ 150-200 ≥ 500-600 ≥ 500-600 ≥ 1000-1200 rừng 6 Làm giàu Không có triển vọng xúc tiến tái sinh thành công rừng <150 <500 <500 <1000 Xúc tiến tái Có triển vọng xúc tiến tái sinh thành công sinh <150 >500 <500 >1000 Đất chưa có rừng, nương rẫy cũ, bãi phù xa mới bồi lấp mà quá Khoanh nuôi trình tái sinh diễn thế tự nhiên đáp ứng được nhu cầu kinh tế xã bảo vệ hội môi trường. Đất đã mất rừng do khai thác kiệt.
Nương rẫy bỏ hóa còn tính chất đất rừng. Trảng cỏ cây bụi xen lẫn gỗ, tầng đất dày trên 30cm. Rừng tre nứa phục hồi sau khái thác, nương rẫy, có độ che phủ trên 20% diện tích và phân bố đều. Khoanh nuôi Rừng phòng hộ ở khu vực xung yếu và rất xung yếu có độ che phủ xúc tiến tái trên 40% và có khả năng tự phục hồi.
sinh có trồng Gốc mẹ có khả Cây mẹ gieo giống tại bổ sung Cây con tái sinh mục năng tái sinh chồi chỗ (có nguồn gieo đích (cây/ha) (cây/ha) giống lân cận). ≥300+h>50 >150 >25 Đất lâm nghiệp chưa có rừng ,đất rừng sau khai thác trắng. Rừng đã Trồng rừng áp dụng các biện pháp kỹ thuật trên nhưng không thành công. Các nghiên cứu về phục hồi rừng trên thế giới Lịch sử nghiên cứu tái sinh rừng trên thế giới đã trải qua hàng trăm năm nhưng với rừng nhiệt đới vấn đề này được tiến hành chủ yếu từ những năm 30 của thế kỷ trước trở lại đây.
Do sự phát triển của nền công nghiệp ở thế kỷ 19, trong lâm nghiệp đã hình thành xu hướng thay thế rừng tự nhiên thành rừng trồng nhân tạo cho năng suất cao nhằm đáp ứng nhu cầu gỗ cho nguyên liệu công nghiệp và cuộc sống. Nhưng sau thất bại trong tái sinh nhân tạo ở Đức 7 và một số nước vùng nhiệt đới, nhiều nhà khoa học đã nêu khẩu hiệu “Hãy quay lại với tái sinh tự nhiên”. Kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu về tái sinh rừng tự nhiên trên thế giới được tóm tắt như sau: Tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy được một số tác giả nghiên cứu. Saldarriaga (1991) nghiên cứu tại rừng nhiệt đới ở Colombia và Venezuela nhận xét: Sau khi bỏ hoá, số lượng loài thực vật tăng dần từ ban đầu đến rừng thành thục.
Thành phần của các loài cây trưởng thành phụ thuộc vào tỷ lệ các loài nguyên thuỷ mà nó được sống sót từ thời gian đầu của quá trình tái sinh, thời gian phục hồi khác nhau phụ thuộc vào mức độ, tần số canh tác của khu vực đó (Phạm Hồng Ban, 2000) [5]. Van steens (1956) đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến ở rừng mưa nhiệt đới: Tái sinh phân tán liên tục của loài cây chịu bóng và tái sinh vệt của loài cây ưa sáng. Ông gọi các loài cây tiên phong là các loài cây tạm cư, còn các loài cây mọc sau là những loài định cư hay định vị.