ĐẶT VẤN ĐỀ Vị trí địa lý, khí hậu nhiệt đới ẩm, địa hình phức tạp đã tạo điều kiện thích hợp cho sự phát triển đa dạng sinh học ở Việt Nam. Việt Nam là quốc gia có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới với hệ động vật phong phú. Số liệu thống kê chƣa đầy đủ cho thấy, ít nhất, Việt Nam hiện đã ghi nhận đƣợc 82 loài ếch nhái, 260 loài bò sát, 830 loài chim, 228 loài thú và hàng nghìn loài động vật không xƣơng sống khác (Kế hoạch nâng cao nhận thức đa dạng sinh học giai đoạn (2001 – 2010)). Mặc dù giá trị của đa dạng sinh học là rất lớn và không thể thay thế nhƣng nguy cơ đe dọa đến sự tồn tại của các loài vật thƣờng xuyên diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh.
Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến sự suy thoái đa dạng sinh học này mà chủ yếu do săn bắt quá mức mà nhiều loài động thực vật trở nên khan hiếm hoặc có nguy cơ bị tiêu diệt. Đây là một trong những mất mát không thể tính bằng tiền, chúng ta đã đánh mất một kho tàng nguồn gen động thực vật quý hiếm, đánh mất lá phổi xanh của nhân loại và đánh mất những cỗ máy giúp điều hòa khí hậu, bảo vệ môi trƣờng sống cho tất cả các loài sinh vật trên trái đất. Trƣờng Đại học Nông – Lâm Bắc Giang có diện tích khoảng 60 ha, trong đó có 40% là diện tích mặt nƣớc. Trong khuôn viên nhà trƣờng cũng có nhiều khu vực trồng cây lâm nghiệp đã tạo ra một sinh cảnh thích hợp cho sự cƣ trú, kiếm ăn và sinh sản của nhiều loài chim nƣớc.
Đã xác định đƣợc 13 loài chim nƣớc có mặt và cƣ trú trong khuôn viên trƣờng Đại học Nông – Lâm Bắc Giang, với tổng số từ 5000 – 7000 cá thể, tập trung ở những loài chủ yếu nhƣ Cò ngàng nhỏ, Cò bợ và Vạc. Đây luôn đƣợc coi là nguồn tài nguyên đa dạng sinh học vô giá, khẳng định sự thích nghi của các loài chim này với môi trƣờng cƣ trú trong khuôn viên Nhà trƣờng. Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng chỉ ra nhiều thách thức cho sự tồn tại của chúng nhƣ việc không kiểm soát đƣợc những tác động ngoài khuôn viên nhà trƣờng, chất lƣợng sinh cảnh sống bị thu hẹp…Trong khi việc kiểm soát những tác động bên 1 ngoài vẫn là một vấn đề lớn, chƣa thể thực hiện ngay đƣợc do nhiều nguyên nhân nhƣ kinh phí thực hiện lớn, cần có sự hợp tác, chung tay của chính quyền các địa phƣơng…thì những nghiên cứu và thực hiện những giải pháp để mở rộng, nâng cao chất lƣợng môi trƣờng cƣ trú, hỗ trợ khả năng sinh sản của các loài chim nƣớc là hết sức cần thiết, mang tính khả thi cao với chi phí thấp. Để thực hiện điều này, những nghiên cứu chi tiết về môi trƣờng sống, đặc điểm sống của các loài chim nƣớc cần đƣợc thực hiện kịp thời.
Trên cơ sở đó, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm sân chim trong khuôn viên Trƣờng Đại học Nông - Lâm, Bắc Giang ” Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần hoàn thiện nghiên cứu về đặc điểm các loài chim nƣớc và mang lại ý nghĩa to lớn trong việc đề xuất những giải pháp để bảo vệ và phát triển các loài chim nƣớc trong khuôn viên trƣờng Đại học Nông – Lâm Bắc Giang một cách bền vững. 2 PHẦN I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Trên thế giới. Từ những năm 1874 đến 1903, M. Oustalet cho xuất bản công trình “Chim Cam Pu Chia, Lào, Nam bộ và Bắc Bộ Việt Nam” và từ năm 1905 đến 1907, Uxtale và Gecmanh cho sản xuất bản tập “Danh sách Chim miền Nam Bộ”.
vào thời gian đó, Bắc Việt Nam có Butan tổ chức sƣu tâm chim, kết quả đƣợc công bố trong tập “Mƣời năm nghiên cứu động vật”. Ông đã ghi nhận đƣợc 90 loài và một số dẫn liệu về sinh học của một số loài (Võ Quý 1975). Năm 1918 lần đầu tiên một cuộc sƣu tầm chim ở Đông Dƣơng đã đƣợc tổ chức dƣới sự chỉ đạo của Boden Klox, với kết quả thu đƣợc là 1525 tiêu bản. Kết quả này đƣợc Robinson và Klox thông báo trong tập “Chim Trung Bộ và Nam Bộ Việt Nam”.
Công trình này ghi nhận 235 loài và phân loài trong đó có 34 dạng mới cho khoa học. Trong khoảng thời gian đó nhà Điểu học ngƣời Nhật Kurôđa đã phân tích bộ sƣu tầm chim của S. Txikia và đã ghi nhận đƣợc 130 loài và phân loài (Võ Quý, 1975). Grinuây và đồng nghiệp đã tiến hành tất cả 7 cuộc sƣu tầm lớn ở nhiều vùng khác nhau trên lãnh thổ Dông Dƣơng, với 23.000 tiêu bản đã thu thập đƣa về Pháp giám định.
Các tiêu bản này sau đó phân chia cho các Viện Bảo tàng lớn ở Pháp, Anh và Mỹ. Delacour và Grinuây cho xuất bản danh sách chim thu thập đƣợc trong cuộc sƣu tầm chim lần thứ 7 gồm 224 loài và phân loài. Từ năm 1941 – 195, một bộ sƣu tầm chim lẻ tẻ thu thập ở Lào, Lạng Sơn cùng một số địa phƣơng khác ở miền Bắc Việt Nam đƣợc gửi về phòng nghiên cứu động vật tại Pháp giám định. Các sƣu tầm này đã đƣợc Buaret phân tích và công bố.
Đáng chú ý có công trình nghiên cứu về chim ở Lào và Bolier. Ông đã thu thập đƣợc 6.000 tiêu bản, của 505 loài và phân loài trong khoảng 10 năm cuối này, nhiều tác giả đã công bố nhiều công trình về chim thu thập đƣợc ở vùng Đông Nam Á, trong đó có 20 dạng mới sƣu tầm đƣợc trên lãnh thổ Đông 3 Dƣơng dựa vào các công trình mới này vào năm 1951,J Delacour lại bổ sung lần thứ 3 danh sách chim Đông Dƣơng (J. Lần này tác giả đã mở rộng thêm danh sách đến 1085 loài và phân loài trong dó có 2 loài mới (Võ Quý, 1981) 1. Ở Việt Nam Nhìn chung lịch sử nghiên cứu chim của Việt Nam có thể chia làm 2 giai đoạn, trƣớc năm 1975 và sau năm 1975 *Giai đoạn trƣớc năm 1975: Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn này là công trình nghiên cứu về chim đều do các nhà khoa học nƣớc ngoài thực hiện.
Loài gà rừng(Gallus gallus) là loài chim đầu tiên đƣợc nghiên cứu ở Việt Nam, tiêu bản chuẩn thu ở Côn Đảo và đƣợc nhà sinh vật học Linne mô tả giữa thế kỷ XVIII. Cuối thế kỉ XIX, các nhà tự nhiên học nƣớc ngoài có mặt ở Việt nam đã bắt đầu các cuộc nghiên cứu chim trên phạm vi rộng với quy mô lớn. Năm 1872, danh sách chim Nam bộ gồm có 192 loài đƣợc xuất bản đầu tiên với các mẫu vật do Piero, giám đốc sở thú Sài Gòn thời bấy giờ sƣu tầm và công bố (H.jouan,1972) Năm 1931, Delacouri và Jabuile đã xuất bản công trình nghiên cứu tổng hợp về “Chim Đông Dƣơng” gồm 4 tập 954 loài và phân loài (Delacouri T. Lesoiseaux de I’Indochine Francoise, I – IV.
Trong đó có các loài chim của Việt Nam. Năm 1951, danh lục chim Đông Dƣơng đƣợc Delacouri bổ sung, hoàn thành và xuất bản gồm 1085 loài và phân loài (J. Trong giai đoạn này, điểm chú ý là năm 1954 Miền Bắc hoàn toàn giải phóng. Đây là cột mốc quan trọng đánh dấu sự khởi đầu của lịch sử nghiên cứu chim của Việt Nam bƣớc sang 1 thời kỳ mới với các cuộc điều tra, khảo sát của các nhà nghiên cứu chim Việt Nam.
Các công trình nghiên cứu đáng chú ý có các công trình nghiên cứu của các tác giả Võ Quý, Trần Gia Huấn (1960, 1961); Võ Quý (1962, 1966); Võ Quý, Đỗ Ngọc Quang (1965), Võ Quý và Anorava N. Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu Fisơ và Lê Diên Dực (1966) về chim miền Bắc Việt Nam. 4 Nói chung các tác giả đều đi sâu nghiên cứu về mặt khu hệ và phân loại mà ít chú ý đến đặc điểm sinh học và sinh thái của chúng. Năm 1971, Võ quý đã tổng hợp nghiên cứu trong hơn 7 năm trƣớc đó về đời sống và các loài chim phổ biến ở Miền Bắc Việt Nam”.
Trong sách, tác giả có dẫn đầy đủ các đặc điểm về nơi ở, thức ăn, sinh sản và 1 số tập tính khác của gần 200 loài chim ở Miền Bắc mà đã số là các loài chim có ý nghĩa về kinh tế. Đây là công trình nghiên cứu về chim đầy đủ, có hệ thống và sát thực nhất cho đến nay. Nhƣng do đối tƣợng nghiên cứu rộng nên tác giả không thể nghiên cứu về nơi ở của các loài chim. Đối với mỗi loài về nơi ở tác giả chỉ mới chỉ ra chúng ở sinh cả nào, đai cao nào mà chƣa chỉ ra cụ thể đặc điểm sinh cảnh sống của chim nhƣ tổ thành loài thực vật, vị trí tầng tán ƣu thích.
*Giai đoạn sau năm 1975: Sau chiến tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nƣớc, các công trình: “Chim Việt Nam hình thái và phân loại (Tập 1,2)” của Võ Quý (1975,1981) là công trình đầu tiên nghiên cứu chim trên toàn thể lãnh thổ Việt Nam về mặt sinh thái, phân loại và phân bố tự nhiên. Trong công trình này tác giả đã mô tả chi tiết 1010 loài và loài phụ chim phân bố trên lãnh thổ Việt Nam. Cũng trong giai đoạn này cuốn: “Danh lục chim Việt Nam” của Võ Quý, Nguyễn Cử nam 1995 ra đời. Bản danh lục gồm 19 bộ, 81 họ và 828 loài chim đã tìm thấy ở Việt Nam tính đến năm 1995.
Với mỗi tác giả đã dẫn ra các đặc điểm về hiện trạng và vùng phân bố. Cho đến những năm gần đây nhiều dự án bảo tồn đa dạng sinh học của nƣớc ngoài: Hà Lan, Đức, Úc, Anh, Mỹ đã tài trợ vào Việt Nam. Các tổ chức phi chính phủ: Tổ chức bảo tồn chim Quốc tế (Bird life Internationnal), Tổ chức Bảo tồn động vật Quốc tế (FFI), Hiệp hội Bảo tồn Thiên Nhiên Quốc tế (IUCN), Qũy Quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF), Ngân hàng thế giới (WB) đầu tƣ vào Việt Nam và sau đó 1 loạt công trình nghiên cứu về thực vật hoang dã đƣợc xuất bản. Công trình nghiên cứu đầy đủ nhất về chim trong giai đoạn này là cuốn “Chim Việt Nam” do Nguyễn Cử, Lê Trọng Trái, 5 Karen Phillipps (2000) cuốn sách này đƣợc biên soạn dựa trên cuốn “Chim Hồng Kông và Nam Trung Quốc”,(1994), của các tác giả Clive Viney, Lan Chiu Ying,Karen Phillipps.
Trong sách tác giả đã giới thiệu hơn 500 loài trong tổng số hơn 850 loài chim hiện nay có mặt ở Việt Nam, mỗi loài trình bày các mục mô tả, phân bố, tình trạng nơi ở và có hình vẽ màu kèm theo.