Nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển cây kháo thơm tại huyện hà quảng tỉnh cao bằng

Nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo tồn, phát triển cây kháo thơm tại Hà Quảng, Cao Bằng. Khám phá cách bảo vệ và nâng cao giá trị loài cây quý này.

Trường đại học

Trường Đại học Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2019

54
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cây kháo thơm Hà Quảng Tiềm năng và giá trị cần bảo tồn

Cây kháo thơm, với tên khoa học là Machilus odoratissima, là một trong những cây dược liệu quý hiếm Cao Bằng, mang lại giá trị kinh tế và văn hóa đặc sắc cho huyện Hà Quảng. Đây không chỉ là một loài thực vật bản địa mà còn là nguồn nguyên liệu không thể thiếu trong nghề làm hương truyền thống, tạo nên sinh kế cho người dân tộc thiểu số trong vùng. Nghiên cứu của Lý Triệu Kiên (2019) đã chỉ ra rằng, cây kháo thơm phân bố tự nhiên trong các khu rừng đá vôi và trạng thái rừng thưa cây bụi, chủ yếu ở độ cao từ 209m đến 900m. Giá trị của loài cây này không chỉ dừng lại ở việc cung cấp nguyên liệu làm hương. Vỏ và lá cây chứa chất nhầy và tinh dầu, được sử dụng trong y học dân gian để chữa bỏng, sưng và các bệnh đường ruột. Quả chứa dầu béo có thể dùng làm sáp hoặc xà phòng. Gỗ kháo thơm cũng được tận dụng làm đồ gia dụng và củi đốt. Tuy nhiên, chính giá trị kinh tế của cây kháo thơm đã tạo ra áp lực khai thác nặng nề, đe dọa sự tồn tại của loài trong tự nhiên. Việc nhận diện đúng tiềm năng và xây dựng chiến lược bảo tồn là nhiệm vụ cấp thiết để đảm bảo phát triển bền vững vùng cao.

1.1. Nhận diện loài cây màng tang Cao Bằng trong hệ thực vật

Cây kháo thơm tại Hà Quảng, còn được biết đến với tên gọi dân gian là cây màng tang Cao Bằng hay Bời lời đỏ, thuộc họ Long não (Lauraceae). Đây là loài cây gỗ thường xanh, có thể cao tới 25-35m khi trưởng thành. Đặc điểm nhận dạng chính bao gồm thân tròn thẳng, vỏ màu xám trắng có mùi thơm đặc trưng, lá đơn mọc cách hình mác. Theo tài liệu nghiên cứu, các bộ phận của cây, từ vỏ, lá đến quả, đều có giá trị sử dụng. Tại Việt Nam, các loài thuộc chi Litsea và Machilus, bao gồm cả Litsea cubeba Việt Nam, được biết đến rộng rãi với công dụng chiết xuất tinh dầu. Tinh dầu màng tang có giá trị cao trong ngành dược phẩm, mỹ phẩm và hương liệu. Các sản phẩm này không chỉ phục vụ thị trường trong nước mà còn có tiềm năng xuất khẩu lớn, mở ra hướng đi kinh tế mới cho các địa phương có loài cây này phân bố.

1.2. Đặc điểm sinh thái của cây kháo thơm tại Hà Quảng

Nghiên cứu thực địa cho thấy đặc điểm sinh thái cây kháo thơm tại Hà Quảng rất đặc thù. Cây ưa sáng, sinh trưởng nhanh và có khả năng tái sinh mạnh mẽ qua hạt và chồi. Loài này thường mọc rải rác trên các sườn núi đá vôi, nơi có độ dốc từ 30-40 độ và khả năng thoát nước tốt. Phân tích thổ nhưỡng tại các vị trí cây sinh sống cho thấy đất có độ pHKCL dao động từ 4.5 đến 5.0, hàm lượng mùn và dinh dưỡng (Nito, Phốt pho) ở mức khá, phù hợp với yêu cầu sinh trưởng của cây. Điều kiện tự nhiên huyện Hà Quảng, với khí hậu cận nhiệt đới ẩm và địa hình đa dạng, đã tạo ra một môi trường sống lý tưởng cho sự phát triển của loài cây này. Tuy nhiên, sự phân bố hẹp và mật độ thấp đòi hỏi các biện pháp can thiệp để bảo vệ và nhân rộng, tránh nguy cơ cạn kiệt nguồn gen.

II. Báo động thực trạng khai thác cây kháo thơm tại Hà Quảng

Thực trạng khai thác cây kháo thơm tại huyện Hà Quảng đang ở mức báo động, đe dọa nghiêm trọng đến sự tồn tại của loài và tính bền vững của hệ sinh thái. Nguyên nhân chính xuất phát từ nhu cầu nguyên liệu cho làng nghề làm hương truyền thống và việc khai thác thiếu kiểm soát để phục vụ các mục đích khác như làm củi đốt, xây dựng. Theo khảo sát, người dân thường chặt hạ toàn bộ cây để thu hoạch vỏ và lá, một phương pháp tận thu nhưng hủy diệt, khiến khả năng tái sinh tự nhiên của cây bị triệt tiêu. Kết quả điều tra của Lý Triệu Kiên cho thấy có tới 6/10 cây được khảo sát đã bị khai thác. Thực trạng khai thác cây kháo thơm không chỉ làm suy giảm số lượng cá thể mà còn thu hẹp khu vực phân bố của loài. Tình trạng này đặt ra một thách thức lớn cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học và đòi hỏi phải có những giải pháp can thiệp kịp thời và hiệu quả để cân bằng giữa lợi ích kinh tế trước mắt và mục tiêu bảo tồn lâu dài.

2.1. Phân tích các mối đe dọa chính đối với cây kháo thơm

Hai mối đe dọa chính được xác định là con người và gia súc. Áp lực từ con người là lớn nhất. Việc khai thác để lấy vỏ và lá làm hương là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến suy giảm số lượng. Mỗi năm, một làng nghề có thể tiêu thụ hàng tấn vỏ và lá cây, đồng nghĩa với việc hàng trăm cây bị đốn hạ. Ngoài ra, tập quán canh tác như phát rừng làm nương rẫy cũng làm mất đi môi trường sống tự nhiên của loài. Bên cạnh đó, việc chăn thả gia súc tự do trong rừng cũng là một mối đe dọa. Trâu, bò và dê rất ưa thích lá non của cây kháo thơm, làm ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và tái sinh của các cây non. Những tác động kép này đang đẩy loài cây dược liệu quý hiếm Cao Bằng này đến bờ vực cạn kiệt.

2.2. Tác động đến sinh kế và văn hóa của người dân địa phương

Sự suy giảm của cây kháo thơm tác động trực tiếp đến sinh kế cho người dân tộc thiểu số, đặc biệt là những hộ gia đình gắn bó với nghề làm hương truyền thống. Khi nguồn nguyên liệu tự nhiên cạn kiệt, chi phí sản xuất tăng cao, chất lượng sản phẩm giảm, ảnh hưởng đến thu nhập và sự tồn tại của làng nghề. Nghề làm hương không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn là một nét văn hóa đặc sắc của người Nùng tại Hà Quảng. Sự mai một của nghề này sẽ kéo theo sự mất mát về bản sắc văn hóa. Do đó, việc bảo tồn cây kháo thơm không chỉ là bảo vệ một loài thực vật mà còn là bảo vệ một di sản văn hóa và đảm bảo an ninh sinh kế cho cộng đồng.

III. Phương pháp bảo tồn tại chỗ in situ cây kháo thơm quý

Giải pháp bảo tồn tại chỗ (in-situ) là ưu tiên hàng đầu nhằm bảo vệ cây kháo thơm trong chính môi trường sống tự nhiên của chúng. Mục tiêu của phương pháp này là duy trì các quần thể loài khỏe mạnh, bảo vệ nguồn gen và các quá trình sinh thái liên quan. Để thực hiện hiệu quả, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, cơ quan kiểm lâm và cộng đồng dân cư. Công tác bảo tồn tại chỗ (in-situ) bao gồm việc khoanh vùng, bảo vệ các khu vực có cây kháo thơm phân bố dày đặc, đặc biệt là những cây cổ thụ có khả năng cung cấp nguồn giống tốt. Đồng thời, cần tăng cường tuần tra, giám sát để ngăn chặn các hành vi khai thác trái phép và phá rừng. Một yếu tố quan trọng là nâng cao nhận thức của người dân về giá trị của việc bảo tồn nguồn gen cây dược liệu, giúp họ hiểu rằng bảo vệ rừng chính là bảo vệ nguồn sống lâu dài của chính mình. Thay vì khai thác tận diệt, người dân cần được hướng dẫn các kỹ thuật thu hái bền vững hơn.

3.1. Xây dựng chính sách phát triển lâm nghiệp Hà Quảng

Chính quyền địa phương cần xây dựng và thực thi các chính sách phát triển lâm nghiệp Hà Quảng một cách cụ thể, tập trung vào việc bảo vệ các loài cây lâm nghiệp ngoài gỗ có giá trị cao như cây kháo thơm. Các chính sách này nên bao gồm việc giao đất, giao rừng cho cộng đồng quản lý, đi kèm với các cơ chế hưởng lợi rõ ràng. Khi người dân có quyền lợi và trách nhiệm trực tiếp, hiệu quả bảo vệ sẽ được nâng cao. Ngoài ra, cần có chính sách hỗ trợ người dân chuyển đổi từ khai thác tự nhiên sang trồng trọt, cung cấp cây giống và hỗ trợ kỹ thuật ban đầu. Việc lồng ghép mục tiêu bảo tồn cây kháo thơm vào các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của huyện là bước đi chiến lược để đảm bảo sự thành công.

3.2. Mô hình quản lý dựa vào cộng đồng và bảo tồn đa dạng sinh học

Phát triển các mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng là giải pháp hữu hiệu. Theo mô hình này, người dân địa phương sẽ tham gia trực tiếp vào việc lập kế hoạch, thực hiện và giám sát các hoạt động bảo vệ rừng. Các tổ, đội bảo vệ rừng của thôn bản sẽ được thành lập, hoạt động dựa trên quy ước được cộng đồng thống nhất. Cách tiếp cận này không chỉ giúp giảm áp lực cho lực lượng kiểm lâm mà còn phát huy vai trò chủ thể của người dân. Việc kết hợp kiến thức bản địa với khoa học kỹ thuật sẽ giúp công tác bảo tồn đa dạng sinh học trở nên hiệu quả và phù hợp hơn với điều kiện thực tế, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa con người và thiên nhiên.

IV. Bí quyết phát triển bền vững cây kháo thơm Hà Quảng

Bên cạnh việc bảo tồn tại chỗ, phát triển cây kháo thơm một cách bền vững thông qua trồng trọt và nhân giống là giải pháp mang tính chiến lược. Điều này không chỉ giúp giảm áp lực khai thác lên các quần thể tự nhiên mà còn tạo ra nguồn cung nguyên liệu ổn định, chủ động cho các làng nghề, góp phần phát triển cây lâm nghiệp ngoài gỗ. Giải pháp này yêu cầu một cách tiếp cận toàn diện, từ nghiên cứu chọn giống, hoàn thiện quy trình kỹ thuật đến xây dựng các mô hình canh tác hiệu quả. Bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ) thông qua việc xây dựng các vườn ươm, vườn giống là bước đi cần thiết để lưu giữ và nhân rộng nguồn gen quý. Các mô hình trồng kháo thơm có thể được thiết kế theo hướng nông lâm kết hợp, vừa tăng hiệu quả sử dụng đất, vừa mang lại đa dạng thu nhập cho người nông dân, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững vùng cao.

4.1. Kỹ thuật nhân giống và mô hình trồng kháo thơm hiệu quả

Nghiên cứu chỉ ra cây kháo thơm có khả năng tái sinh tốt từ hạt và chồi. Kỹ thuật nhân giống cây màng tang (kháo thơm) cần được chuẩn hóa và chuyển giao cho người dân. Các bước bao gồm thu hái và xử lý hạt giống đúng thời vụ (quả chín tháng 10-11), kỹ thuật ươm cây trong bầu và chăm sóc cây con. Ngoài ra, phương pháp giâm hom cũng cần được nghiên cứu để nhân nhanh các cá thể có đặc tính tốt. Về mô hình canh tác, có thể phát triển mô hình trồng thuần loài trên đất trống đồi trọc hoặc trồng xen trong các vườn cây ăn quả, nương rẫy. Việc này giúp tận dụng đất đai, giảm xói mòn và tạo ra một hệ sinh thái nông nghiệp đa dạng, bền vững hơn.

4.2. Xây dựng chuỗi giá trị cho các sản phẩm từ cây kháo thơm

Để tối đa hóa lợi ích kinh tế, cần xây dựng một chuỗi giá trị cây kháo thơm hoàn chỉnh. Chuỗi giá trị này bắt đầu từ việc cung cấp giống chất lượng, hỗ trợ kỹ thuật trồng, tổ chức thu mua và sơ chế. Sản phẩm đầu ra không chỉ là vỏ và lá thô cho nghề làm hương. Cần có sự đầu tư vào công nghệ chế biến sâu để tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn, chẳng hạn như chiết xuất tinh dầu màng tang. Các sản phẩm từ quả màng tang như dầu béo cũng là một hướng đi tiềm năng. Việc xây dựng thương hiệu cho sản phẩm hương Hà Quảng và các sản phẩm khác từ cây kháo thơm sẽ giúp mở rộng thị trường, nâng cao thu nhập cho người dân một cách bền vững.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Cao Bằng là tỉnh nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam. Hai mặt Bắc và Đông Bắc giáp với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), với đƣờng biên giới dài 333,403 km. Phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang. Phía nam giáp tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn.

Theo chiều Bắc- Nam là 80 km, từ 23°07'12" - 22°21'21" vĩ bắc (tính từ xã Trọng Con huyện Thạch An đến xã Đức Hạnh, huyện Bảo Lâm). Theo chiều đông- tây là 170 km, từ 105°16'15" - 106°50'25" kinh đông (tính từ xã Quảng Lâm, huyện Bảo Lâm đến xã Lý Quốc, huyện Hạ Lang), (xã Trƣơng Lƣơng - Hòa An là trung tâm của tỉnh) Tỉnh Cao Bằng có diện tích đất tự nhiên 6.690,72 km², là cao nguyên đá vôi xen lẫn núi đất, có độ cao trung bình trên 200 m, vùng sát biên có độ cao từ 600- 1.300 m so với mặt nƣớc biển. Núi non trùng điệp. Rừng núi chiếm hơn 90% diện tích toàn tỉnh.

Từ đó hình thành nên 3 vùng rõ rệt: Miền đông có nhiều núi đá, miền tây núi đất xen núi đá, miền tây nam phần lớn là núi đất có nhiều rừng rậm. Trên địa bàn tỉnh có hai dòng sông lớn là sông Gâm ở phía tây và sông Bằng ở vùng trung tâm và phía đông, ngoài ra còn có một số sông ngòi khác nhƣ sông Quây Sơn, sông Bắc Vọng, sông Nho Quế, sông Năng, sông Neo hay sông Hiến. Cao Bằng hiện nay đang trên con đƣờng hội nhập và phát triển với những khu du lịch và thám cảnh đƣợc đầu tƣ xây dựng. Bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ của khu đô thị, vẫn còn những làng nghề truyền thống của ngƣời Nùng phải nhắc đến nhƣ nghề làm ngói máng, nghề đan lát, nghề làm hƣơng, giấy bản, nhuộm vải chàm, rèn nông cụ.Các làng nghề này đƣợc chia theo từng cụm làng, phân chia theo từng loại sản phẩm để sản xuất phục vụ dân sinh nhƣ: Nghề làm ngói máng tại xã Tự Do, nghề đan lát ở xã Đoàn Côn; nghề làm hƣơng tại xã Quốc Dân.

Họ quy ƣớc với nhau mỗi khu vực làng đều phân chia thành cụm sản xuất nông cụ nhƣ làng rèn dao quoắm, dao thái, dao chặt; làng sản xuất búa, làng rèn liềm. Trong đó phải kể đến nghề làm hƣơng 1 có từ lâu đời tại xã Nà kéo huyện Hà Quảng. Nghề hƣơng đƣợc ngƣời dân nơi đây tìm tòi và phát triển, họ sử dụng một loại nguyên liệu rất đặc biệt làm chất kết dính tạo mùi thơm cho hƣơng ở đây đặc trƣng hơn những nơi khác. Loại nguyên liệu đƣợc ngƣời dân tìm kiếm trên các khu rừng tự nhiên, tên của nó là Kháo thơm hay còn gọi là bời lời đỏ (Litsea glutinosa) tất cả các bộ phận của bời lời đỏ đều có chất nhầy dính, nhiều nhất ở vỏ thân, thƣờng dùng để dính bột giấy, làm nhang.

Lá đƣợc dùng làm thức ăn gia súc, quả đƣợc thu hái để ép dầu làm sáp, chế xà bông. Gỗ bời lời có màu nâu vàng, cứng không mối mọt, có thể sử dụng đóng đồ dùng, làm nguyên liệu giấy hoặc làm gỗ củi,nên ngƣời dân địa phƣơng khai thác mạnh mẽ. Chính vì thế tình trạng khai thác Kháo thơm ở huyện Hà Quảng ngày càng giảm. Trƣớc tình hình khai thác quá mức nhƣ vậy nên số lƣợng loài Kháo thơm tại khu vực Huyện Hà Quảng Tỉnh Cao Bằng còn lại rất ít.

Tuy nhiên đến nay các nghiên cứu cơ bản về loài cây này trong khu vực Huyện Hà Quảng còn chƣa đƣợc quan tâm nhiều. Để có cơ sở cho việc gây trồng, bảo tồn và phát triển loài cây gỗ này là thì việc nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và phân bố của cây Kháo thơm là cần thiết. Xuất phát từ thực tế trên kết hợp với kiến thức đã chọn ở nhà trƣờng, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển cây Kháo thơm tại huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng”. 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.

Nghiên cứu bảo tồn thực vật Cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội hiện nay nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên đang bị đe doạ nghiêm trọng. Việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên không hợp lý đã khiến cho nhiêug loài đứng trƣớc nguy cơ bị tiêu diệt hoặc biến mất hoàn toàn. Trong những năm gần đây ở mỗi nƣớc, mỗi khu vực đều tìm tòi, thử nghiệm và lựa chọn cho mình một chính sách và chiến lƣợc quản ly tài nguyên hợp lý, tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế - xã hội – chính trị, điều kiện tự nhiên và tập quán canh tác của mỗi dân tộc, mỗi Quốc gia mà hình thành nên một hệ thống quản lý tài nguyên khác nhau. Bảo tồn và sử dụng hợp lý các tài nguyên sinh học đã trở thành một chiến lƣợc chung trên toàn cầu.

Nhiều tổ chức quốc tế đã ra đời để hƣớng dẫn việc đánh giá bảo tồn đa dạng sinh học nhƣ: Công ƣớc ĐDSH, Hiệp Hội Bảo Tồn Thiên Nhiên Quốc Tế (IUCN), Chƣơng trình môi trƣờng Liên Hợp Quốc (UNEP), Quỹ Quốc Tế bảo Vệ Thiên Nhiên (WWF), Viện tài nguyên di truyền Quốc Tế… Nhiều hội nghị hội thảo đƣợc tổ chức và nhiều cuốn sách mang chỉ dẫn về công tác bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học đƣợc xuất bản nhằm cung cấp những kiến thức rộng lớn về bảo tồn và phát triển Đa dạng sinh học và rất nhiều công ƣớc Quốc Tế đã đƣợc nhiều quốc gia tham gia thƣc hiện Bảo tồn nguyên vị (in-situ) Bảo tồn nguyên vị bao gồm các phƣơng pháp và công cụ nhằm mục đích bảo vệ các loài, các chủng và các sinh cảnh, các hệ sinh thái trong điều kiện tự nhiên. Tuỳ theo đối tƣợng bảo tồn mà các hành động quản lý thay đổi. Thông thƣờng bảo tồn ngyên vị đƣợc thực hiện bằng cách thành lập các khu bảo tồn và đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp. Ngoài ra theo chƣơng trình Giáo dục Khoa hoạc và Văn hoá Liên Hợp Quốc (UNESCO) còn có khu di sản Thế Giới, và theo công ƣớc RAMSAR có khu bảo tồn đất ngập nƣớc 3 RAMSAR.

Tuy nhiên bảo tồn nguyên vị bao gồm cả các công việc quản lý các động thực vật hoang dã, các nguồn tài nguyên thiên nhiên ngoài các khu vực bảo tồn. Trong nông nghiệp và lâm nghiệp, bảo tồn nguyên vị đƣợc hiểu là việc bảo tồn các giống loài cây trồng và cây rừng đƣợc trồng tại đồng ruộng hay các khu rừng trồng. Bảo tồn chuyển vị (ex situ) : Bảo tồn chuyển vị bao gồm các biện pháp di dời các loài cây con và các vi sinh vật ra khỏi môi trƣờng sống thiên nhiên của chúng. Mục đích của việc di dời này là để nhân giống, lƣu trữ, nhân nuôi vô tính hay cứu hộ trong trƣờng hợp: (1) Nơi sinh sống bị suy thoát hay huỷ hoại không thể lƣu giữ lâu hơn các loài nói trên, (2) dùng để làm vật liệu cho nghiên cứu, thực nghiệm và phát triển sản phẩm mới, để nâng cao kiến thức cho cộng đồng.

Bảo tồn chuyển vị bao gồm các vƣờn thực vật, các bảo tàng, các ngân hàng hạt giống, bộ sƣu tập các chất mềm, mô cấy… Do các sinh vật hay các phần của cơ thể sinh vật đƣợc lƣu trữ trong môi trƣờng nhân tạo, nên chúng bị tách khỏi quá trình tiến hoá tự nhiên. Vì thế mà mối liên hệ gắn bó giữa bảo tồn chuyển vị với bảo tồn nguyên vị rất bổ ích cho công tác bảo tồn ĐDSH. Nghiên cứu sinh thái học thƣc vật Trong nghiên cứu sinh thái học nhằm quản lý rừng bền vững, một nhận xét mà nhiều nhà lâm học biêt đến là: Trong các kiến thức khoa học về các hệ sinh thái rừng còn chƣa hoàn chỉnh, việc xác định các hiểu biết về mặt lâm học, sinh thái học nhằm quản lý rừng tự nhiên theo cách giữ vững một cái nguyên vẹn là có thể chấp nhận đƣợc và có thể áp dụng cho tất cả các kiểu rừng khác nhau kể cả rừng mƣa nhiệt đới ẩm.P Odum (1975) đã phân chia ra sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể. Sinh thái học cá thể nghiên cứu từng cá thể sinh vật học hoặc từng loài, trong đó chu kỳ sống va tập tính cũng nhƣ khả năng thích nghi với môi trƣờng đƣợc đặc biệt chú ý.

Ngoài mối quan hệ giữa các yếu tố sinh thái, sinh 4 trƣởng có thể định lƣợng bằng phƣơng pháp toán học thƣờng gọi là mô phỏng, phản ánh các đặc điểm, quy luật tƣơng quan phức tạp trong tự nhiên. Các phƣơng pháp thực nghiệm về sinh thái học nhằm nghiên cứu mối quan hệ giữa các loài, phƣơng pháp điều tra đánh giá đƣợc trình bày trong “Thực nghiệm sinh thái học” của stephen, D. Lache (1987) đã chỉ rõ đƣợc vấn đề nghiên cứu trong sinh thái học thực vật nhƣ sự thích nghi của các điều kiện: Dinh dƣỡng, nhiệt độ, ánh sáng, chế độ ẩm, khí hậu. Khi nghiên cứu đặc điểm sinh lý, sinh thái của loài đã đucợ nhiều công trình nghiên cứu về nhu cầu ánh sáng và sự thích nghi của thực vật đối với tình trạng thiếu nƣớc.

Theo đó sự thích nghi với điều kiện có 3 kiểu: một- thích nghi kiểu đã quen, hai- thích nghi do cấu tạo kiểu hạn sinh, ba- có tính chịu đựng đƣợc tác dụng của mất nƣớc. Tại Việt Nam cũng có một số công trình nghiên cứu về sinh thái học của loài cây nhƣ: Nguyễn Bá Chất (1996) “nghiên cứu một số đặc điểmm lâm học và biện pháp kỹ thuật trồng nuôi dƣỡng cây Lát Hoa” đã kết luận: những vấn đề kỹ thuật lâm sinh là những vấn đề cấp thiết để khôi phục và phát triển loài rừng. Nguyễn Huy Sơn, Vƣơng Hữu Nhi khi nghiên cứu đặc điểm của quần thể thông nƣớc ở Đăk Lăk đã phân loại hiện trạng rừng, cấu trúc tổ thành loài và mật độ, cấu trúc tầng tán và độ tàn che. Kết luận rằng thông nƣớc có sống hỗn loài từng đám trong rừng lá rộng thƣờng xanh ở vùng đầm lầy nƣớc ngọt.

Nghiên cứu về tái sinh rừng: Tái sinh rừng là một quá trình mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng, biểu hiện của nó là sự xuất hiện của một thế hệ cây non của những cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng: dƣới tán rừng, chỗ trống, đất rừng sau nƣơng rẫy. Vai trò lịch sử của lớp cây non này là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng chủ yếu là tầng cây gỗ. Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu 5 thì hiệu quả tái sinh rừng đƣợc xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lƣợng cây non, đặc điểm phân bố.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ