CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Phương ngữ 1. Phương ngữ và ngôn ngữ toàn dân “Phương ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hoặc so với một ngôn ngữ khỏc”. [4; 29] Phương ngữ hay phương ngôn, tiếng địa phương là cách gọi khác trong Tiếng Việt của cùng một thuật ngữ dialect.
Thuật ngữ dialect dùng để chỉ cả phương ngữ có chữ viết lẫn phương ngữ không có chữ viết, cả biến thể địa lý lẫn biến thể xã hội của ngôn ngữ. Theo cách hiểu của người Anh, phương ngữ là biến thể ngôn ngữ không chính thức, chỉ dùng ở trong các tầng lớp thấp hoặc ở nông thôn. Theo Nguyễn Văn Khang, phương ngữ cần được xem xét trên hai mặt: mặt cấu trúc và mặt chức năng. + Nếu nhìn từ góc độ cấu trúc, gọi là phương ngữ của ngôn ngữ, một khi các ngôn ngữ này tuy có trong hệ thống cấu trúc riêng, nhưng vẫn có thể chứng minh được mối quan hệ cội nguồn trong các phương ngữ đó với ngôn ngữ.
Hay nói một cách khác, trong ngôn ngữ và các phương ngữ có quan hệ cội nguồn với nhau. + Nếu nhìn từ gốc độ chức năng, thì phương ngữ là một loại biến thể ngôn ngữ mà chức năng giao tiếp chịu sự hạn chế mang tính địa phương và sự phát triển của nó chưa đạt đến mức chưa được tiêu chuẩn hóa (dưới chuẩn). Ranh giới giữa phương ngữ và ngôn ngữ là điều không đơn giản. “ Ranh giới này không chỉ được nhìn nhận ở cấu trúc bên trong của ngôn ngữ mà còn phụ thuộc vào chức năng (do các nhân tố chính trị, xã hội quyết định) giữa chúng.
Hay nói một cách khác, sự phân biệt phương ngữ với ngôn ngữ còn phụ thuộc vào nhân tố “giá trị xã hội”[10; 112]. Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều tiêu chuẩn để phân biệt ngôn ngữ và phương ngữ, nhưng theo Hoàng Thị Châu, phương ngữ được hiểu đơn giản là “một 10 thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hoặc so với một ngôn ngữ khỏc” [ 4; 29]. Vậy “ngôn ngữ toàn dân là một hiện tượng lịch sử - văn hóa, đó là cái hình thức trau chuốt có ý thức của cách nói năng mà ta phải học tập mới có được chứ không phải tự nhiờn” [4; 26, 27]. “ Khi miêu tả tiếng nói tự nhiên, thì dứt khoát nó là mô tả một phương ngữ cụ thể.
Khi miêu tả chỉ thu hẹp vào phương pháp mà thôi, thì sự khác nhau giữa phương ngữ với ngôn ngữ toàn dân thường không có gì quan trọng, trừ một vài từ chỉ trỏ, một vài hư từ, tức là không liên quan gì tới cấu trỳc”. Sự thống nhất về mọi mặt ngữ pháp của phương ngữ đảm bảo tính thống nhất của ngôn ngữ toàn dân của quốc gia – dân tộc ấy. Quan hệ và địa vị của ngôn ngữ toàn dân Vì tự thân khái niệm phương ngữ đã chứa đựng mối quan hệ với các phương ngữ khác, cũng như với ngôn ngữ toàn dân cho nên chúng ta bắt buộc phải xột nú trước hết trong quan hệ với ngôn ngữ toàn dân. Ngay từ khi xã hội loài người mới được thành lập thì “phương ngữ là ngôn ngữ của từng bộ lạc và với tư cách như vậy, nó trở thành mầm mống để trở thành ngôn ngữ toàn dân trong một xã hội cao hơn, khi ngôn ngữ ra đời” [4; 44].
Khi ngôn ngữ ra đời thì ngôn ngữ toàn dân cũng ra đời. Đó là “công cụ giao tiếp chung cho cả nước”, nó ra đời trên “cơ sở phương ngữ xã hội của giai cấp thống trị, dân tộc có số dân đông hơn, có văn hóa cao hơn, thế mạnh hơn nhưng xét cho cùng vẫn là trên một phương ngữ cụ thể” [2; 45]. Nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ cho rằng phương ngữ là một bộ phận của ngôn ngữ toàn dân. Điều này chỉ đúng khi xét về mặt địa lớ.
Cũn về mặt ngôn ngữ học, phương ngữ được xem như là một ngôn ngữ vì bản thân nú cú chứa những đặc điểm 11 cũng như các yếu tố của một ngôn ngữ. Vậy nờn nú không phải là một bộ phận của toàn thể. Chẳng hạn phương ngữ miền Trung - Nghệ An (PN - Trung) được xem như là một ngôn ngữ riêng với những hệ thống từ ngữ riêng biệt (trốc, bâu, tơi, cơi, tru, ló, trục cúi, mụ, tờ, răng, rứa…) nhưng vẫn nằm trong hệ thống Tiếng Việt, mặc dự nó không hoàn toàn giống như phương ngữ Bắc, phương ngữ Nam. Cũng có người cho rằng phương ngữ là một nhánh của ngôn ngữ toàn dân.Fortunatov viết: “Cũng như ngữ tộc phân chia ra thành nhiều ngữ chi, mỗi ngữ chi lại phân ra thành những ngôn ngữ riêng biệt, cái ngôn ngữ riêng của mỗi ngữ chi đến lượt nó lại chia ra thành những ngôn ngữ mà người ta gọi là những tiếng địa phương hoặc những phương ngữ, đến lượt những phương ngữ thì lại chia chúng ra thành những loại lớn và những loại bé.
Rồi cứ như thế cho đến những thể ngữ vụn vặt”. Quan hệ giữa phương ngữ với ngôn ngữ là quan hệ giữa cái trừu tượng và cái cụ thể. Phương ngữ là cái cụ thể, còn ngôn ngữ là cái trừu tượng rút ra từ cái cụ thể. Phương ngữ cũng như ngôn ngữ toàn dân, đều có mặt trừu tượng và mặt cụ thể.
Ngôn ngữ toàn dân cụ thể khi nó ở dạng văn bản, trừu tượng khi ở dạng âm thanh. Tóm lại, có thể khẳng định rằng: “Phương ngữ là biến thể địa phương của ngôn ngữ toàn dân được hình thành trong quá trình lịch sử” [4; 57]. Phương ngữ với tư cách là biến thể của ngôn ngữ “Biến thể được coi là đơn vị nghiên cứu của ngôn ngữ học xã hội. Biến là đại lượng biến đổi trong quá trình xem xét.
Biến thể ngôn ngữ có thể hiểu là hình thức biểu hiện của ngôn ngữ được sử dụng phổ biến trong hoàn cảnh xã hội giống nhau với những đặc trưng xã hội giống nhau” [10; 30]. Đó là những hiện tượng ngôn ngữ liên quan đến xã hội như: đa ngôn ngữ, phương ngữ xã hội, ngôn ngữ giới tính. Như các mục trờn đó nói, khi phương ngữ được coi là một biến thể của ngôn ngữ thì trước tiên bản thân nói đã là một ngôn ngữ hoàn chỉnh với những yếu tố đầy 12 đủ trong hệ thống ngôn ngữ đó, ngoài những đặc điểm riờng thỡ phương ngữ vẫn mang những nét chung của ngôn ngữ toàn dân. Phương ngữ Trung – Nghệ An là một biến thể của tiếng Việt (phương ngữ Bắc làm chuẩn).
Ngoài hệ thống thanh điệu là đặc điểm chung của tiếng việt thì phương ngữ Trung có đặc điểm riêng ở thanh điệu là chỉ có 4 thanh ( \ /. —) chứ không đủ 6 thanh như phương ngữ Bắc. Phương ngữ xã hội 1. Khái niệm phương ngữ xã hội Chức năng cơ bản của ngôn ngữ là giao tiếp.
Khi giao tiếp, ngôn ngữ được thể hiện chủ yếu bằng phương ngữ. Phương ngữ được chia ra theo 2 cách: phương ngữ địa lý và phương ngữ xã hội. Phương ngữ địa lý (tiếng) là loại phương ngữ (tiếng) được phân chia theo từng vùng chẳng hạn: tiếng Nghệ An, tiếng Thanh Hóa, tiếng Hà Nội, tiếng Hải Dương, tiếng Huế … Phương ngữ xã hội là phương ngữ địa lý có kết hợp thêm vài yếu tố xã hội, chẳng hạn người Huế khi nói tiếng Huế giọng của họ là giọng của phương ngữ Trung, khi phát âm thành những từ cơ bản thì lại giống phương ngữ Nam [4; 59]. Theo Nguyễn Văn Khang những đặc điểm xã hội như: giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, xuất thân, trình độ … đều có tác động trực tiếp và tạo nên những đặc điểm về ngôn ngữ trong sử dụng.
Và phương ngữ trong các điều kiện xã hội khác nhau sẽ có tác dụng xã hội khác nhau. Xã hội càng phát triển sự cạnh tranh giữa các phương ngữ càng mạnh. Sự cạnh tranh này sẽ đi theo hai xu hướng: phân ly hoặc hoà nhập. Theo Hoàng Thị Châu thì phương ngữ xã hội được xột trờn cả ba chiều: không gian, thời gian, xã hội.
Vậy phương ngữ xã hội là “Phương ngữ của một cộng đồng xã hội hoặc một nhóm người nào đó … Là hệ thống ký hiệu và quy tắc cú pháp được sử dụng trong phạm vi tập thể xã hội nhất định”[4; 10]. 13 Phương ngữ xã hội trong nhiều trường hợp còn được gọi là: tiếng lóng, biệt ngữ, tiếng nghề nghiệp… 1. Cách tiếp cận, tìm hiểu phương ngữ xã hội Ngôn ngữ khi đưa vào sử dụng trong giao tiếp đều dưới dạng phương ngữ. Một ngôn ngữ có thể có nhiều phương ngữ.
Vấn đề là khi tiếp cận một phương ngữ, ta phải đặt nó trong tư thế so sánh, đối lập với các ngôn ngữ khác cũng như với ngôn ngữ toàn dân, mặt khác phải tìm hiểu mối quan hệ giữa mặt khả biến và mặt bất biến của ngôn ngữ. Saussure đã nhận xét : “Một trạng thái tuyệt đối là một trạng thái không hề có gì thay đổi, nhưng dù sao ngôn ngữ cũng vẫn chuyển biến, tuy có thể rất ít, cho nên nghiên cứu một trạng thái ngôn ngữ về thực tiễn mà nói, chung quy là gạt bỏ những sự thay đổi không quan trọng”. [10; 81] Nói cách khác có nhiều xu hướng tiếp cận phương ngữ xã hội, tuỳ theo từng tiêu chí phân loại mà người nghiên cứu đưa ra hướng tiếp cận cho phù hợp, nhưng vẫn phải dựa vào hai mặt bất biến và khả biến của ngôn ngữ để phân tích một cách chính xác. “Phương ngữ học tập trung vào những biến thể và chính nhờ vậy mà bổ sung những thiếu sót không thể tránh khỏi của ngôn ngữ học đồng đại cũng như lịch đại, chính nhờ chú ý đến các biến thể là điều ngôn ngữ học thường coi nhẹ, cũng như nhờ áp dụng cách giải thích liên ngành tiêu biểu cho phương ngữ học mà nú cú những đóng góp về thực tiễn vừa về lý luận cho ngôn ngữ học riêng và cho các ngành khoa học xã hội nói chung” [10; 82].
Trong luận văn này, chúng tôi tiếp cận phương ngữ xã hội học dựa trên phương tiện sử dụng là máy tính có nối mạng internet để làm công cụ gián tiếp cho việc giao tiếp. Tức là tiếp cận phương ngữ theo hướng cùng sử dụng một công cụ, cùng một lĩnh vực, cùng sở thích … 1. Tính cộng đồng và tính thời đại của ngôn ngữ 1.