Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Định nghĩa và sơ lược lịch sử Thai ngoài tử cung (TNTC) là trứng đã thụ tinh, làm tổ và phát triển ở một vị trí ngoài buồng tử cung. Hơn 95% thai ngoài tử cung liên quan đến ống dẫn trứng. Ngoài ra có thể gặp ở trong ổ bụng, chửa ở ống cổ tử cung.
Sơ lược lịch sử TNTC: TNTC được mô tả lần đầu tiên bởi Albucasis vào năm 936 sau công nguyên nhưng mãi đến năm 1937 mới được nhắc lại trong cuốn “Bài giảng sản khoa” của Mariceau. Sau đó các tác giả Rilani (1661), Vassal (1669) mô tả một cách chi tiết TNTC ở tử thi. Năm 1759, John Bard và Huck đã chẩn đoán và xử trí ngoại khoa thành công một trường hợp TNTC.M là người đầu tiên khởi xướng soi ổ bụng trong chẩn đoán nghi ngờ là TNTC. Năm 1955 Lund là người đầu tiên mô tả 119 ca TNTC được điều trị bằng phương pháp theo dõi, khối chửa tự thoái triển với tỷ lệ thành công là 57%.N mô tả phương pháp cắt dọc một phần VTC là một biện pháp bảo tồn VTC trong TNTC chưa vỡ.
Năm 1973, Shapiro và Adler điều trị thành công TNTC bằng soi ổ bụng và ngày này soi ổ bụng là phương pháp điều trị chuẩn mực TNTC [42]. Năm 1982, lần đầu tiên Tanaka và cộng sự đã điều trị thành công TNTC bằng MTX [41]. Ở Việt Nam điều trị TNTC bằng MTX được thực hiện từ năm 1998 [22]. Sơ lược giải phẫu, mô học, sinh lí hoạt động của vòi tử cung Hình 1.1 Giải phẫu VTC, Tử cung (Frank H.
Netter) Vòi tử cung (VTC) còn gọi là vòi trứng hay vòi Fallope là hai ống dài khoảng hơn 10cm chạy ngang từ buồng trứng tới góc bên tử cung, nằm giữa hai lá của bờ tự do của dây chằng rộng. Lỗ thông ở phúc mạc toả rộng như một loa, kích thước 7 – 8 cm [21]. VTC có thể phân làm 4 đoạn: phễu vòi, bóng vòi, eo vòi và đoạn kẽ. - Phễu vòi loe ra như hình cái phễu có lỗ bụng của vòi tử cung.
Xung quanh lỗ, phễu vòi có khoảng hơn 10 tua vòi trong đó có một tua dài nhất gọi là tua buồng trứng dính vào đầu vòi của buồng trứng. Trong thời kì rụng trứng, nhờ các nội tiết tố các tua này cương lên để chuẩn bị hứng trứng rụng vào VTC. - Bóng vòi là phần phình ra to nhất và dài nhất của VTC. Chiếm hơn nửa chiều dài phía ngoài của vòi, thành mỏng, đường kính khoảng 1cm, là nơi diễn ra sự thụ tinh.
5 - Eo vòi là đoạn hẹp nhất của vòi, tiếp theo bóng vòi tới dính vào góc bên tử cung. Trường hợp thai ở VTC, trứng thường hay tắc và làm tổ ở đoạn này. - Đoạn kẽ nằm trong thành tử cung, dài khoảng 1cm. Sự di chuyển và làm tổ của trứng đã thụ tinh Sự thụ tinh thường xảy ra ở 1/3 ngoài của VTC.
Tinh trùng muốn xâm nhập vào trong noãn phải xuyên qua được lớp tế bào hạt bao quanh noãn để tiến tới vỏ ngoài của noãn. Sau đó tinh trùng phải gắn và xuyên qua được màng trong suốt. Sau thụ tinh trứng mất 3 – 4 ngày để vào buồng tử cung. Noãn vào tử cung là nhờ sự vận động co bóp của cơ vòi trứng và hoạt động của tế bào lông chuyển ở VTC.
4 – 6 ngày sau phóng noãn do nồng độ progesteron tăng nên vòi di chuyển chậm lại tác dụng giãn cơ VTC cho phép trứng di chuyển vào buồng tử cung [27]. Vì lý do nào đó trứng đã thụ tinh không di chuyển vào buồng tử cung (ví dụ: do viêm tắc VTC) trứng có thể phát triển ngay tại VTC hoặc di chuyển vào ổ bụng gọi là TNTC [34]. Nguyên nhân bệnh sinh 1. Các yếu tố cơ học làm trứng di chuyển chậm lại - Tổn thương viêm nhiễm hay gặp nhất như viêm nhiễm sinh dục sau đẻ, sau sẩy thai, nạo hút thai, lạc nội mạc tử cung, nhiễm Chlamydia.
- Dính xung quanh vòi trứng là hậu quả của viêm nhiễm tiểu khung, lạc nội mạc tử cung. - Có tiền sử thai ngoài tử cung trước đó, lần có thai sau có khả năng bị TNTC từ 7 – 15% [36]. - Nạo hút thai nhiều lần làm tăng nguy cơ TNTC [40]. - Khối u (u xơ tử cung, khối u phần phụ) làm rối loạn chức năng vòi trứng.
- Người mang dụng cụ tử cung (DCTC) có nguy cơ bị TNTC cao gấp khoảng 6 2 lần so với người không mang DCTC [4]. - Hút thuốc lá cũng là một yếu tố nguy cơ gây TNTC ở ống dẫn trứng [39]. - Nghiên cứu của Yoder thụ tinh ống nghiệm gây TNTC với tỷ lệ 1,5 - 2,1% [45]. Một số yếu tố nguy cơ của TNTC (theo Fernandez – Pháp) [28] Tiền sử Nguy cơ tương đối Phẫu thuật bảo tồn vòi trứng trong TNTC 3,9 Phẫu thuật tạo hình vòi trứng 2,42 Nghiện thuôc lá 1,26 – 2,42 Kích thích phóng noãn 1,66 Nhiễm Chlamydia 1,5 Dụng cụ tử cung 1,34 Cắt ruột thừa 1,25 1.
Các yếu tố chức năng làm trứng chậm di chuyển về buồng TC - Rối loạn chức năng nhu động của vòi trứng do ảnh hưởng bởi các hormon estrogen và progesteron. Thực tế hình như TNTC bị tăng lên khi sử dụng viên thuốc tránh thai loại progestatif đơn thuần [33]. - Trào ngược dòng máu trong vòi trứng, độ kết dính của niêm dịch vòi trứng tăng lên. Trường hợp thụ tinh muộn hơn bình thường kết hợp với chảy máu bất thường, không đúng lúc làm ảnh hưởng đến sự di chuyển của trứng về buồng tử cung.
- Thời gian di chuyển của noãn kéo dài hơn bình thường [29]. Phân loại TNTC 1. Theo giải phẫu - Thai ở VTC hay gặp nhất, gặp ở các đoạn: 7 + Loa vòi chiếm khoảng 5%. + Đoạn bóng vòi gặp nhiều nhất tỷ lệ khoảng 80%.
+ Đoạn eo vòi khoảng 10%. + Đoạn kẽ vòi trứng (trứng làm tổ ở đoạn vòi trứng nằm trong bề dày lớp cơ tử cung) ít gặp hơn nhưng hay bị vỡ sớm. - Thai ở buồng trứng ít gặp, khoảng 1%. - Thai trong ổ bụng rất hiếm gặp, khoảng 1%.
Phân loại vị trí TNTC 1. Theo lâm sàng - TNTC chưa vỡ: bệnh nhân chậm kinh, ra máu âm đạo, phản ứng có thai dương tính. Dấu hiệu có thai không nổi bật, không rõ ràng.Âm đạo ra huyết đen. Thăm âm đạo kết hợp nắn bụng khám thấy cổ tử cung, thân tử cung mềm, tử cung to hơn bình thường không cân xứng với tuổi thai.
Nắn thấy cạnh tử cung có khối mềm, giới hạn rõ, ấn đau (50%). Các túi cùng thường không đau. - TNTC rỉ máu: thăm âm đạo kết hợp nắn bụng thấy cổ tử cung, thân tử cung mềm, tử cung to hơn bình thường không cân xứng với tuổi thai. Cạnh tử cung có khối mềm, giới hạn không rõ, ấn rất đau.
Phản ứng cùng đồ sau, chạm vào bệnh nhân đau chói. - TNTC vỡ chảy máu nhiều trong ổ bụng: cơn đau hạ vị xuất hiện đột ngột, 8 dữ dội, kích thích cơ hoành. Bệnh cảnh nổi bật là choáng nặng do chảy máu trong, mạch nhanh, huyết áp tụt. Bụng chướng căng, phản ứng thành bụng, gõ đục vùng thấp.
Cùng đồ sau căng đau, đầy máu dịch. Trường hợp này phải khẩn trương tiến hành hồi sức cấp cứu, nhanh chóng bồi phụ thể tích và mở bụng cầm máu. Có trường hợp quá trình chảy máu diễn ra từ từ, bệnh nhân thích ứng được nên các triệu chứng choáng hạ áp không rõ. - Huyết tụ thành nang (HTTN): máu chảy rỉ rả, ít một và đọng lại.
Sau đó ruột, các tạng khác và mạc nối phản ứng bao bọc lại tạo thành khối huyết tụ. Chẩn đoán thường khó vì triệu chứng không điển hình: rong huyết, sốt nhẹ, thiếu máu, vàng da nhẹ do tan máu ở khối huyết tụ. Xuất hiện các triệu chứng tiêu hoá, tiết niệu. Thăm âm đạo thấy khối rắn, chiếm cả vùng hố chậu, giới hạn không rõ, ấn đau, ít di động, dính với thành tử cung, khó phân biệt với tử cung [28], [29].
- Thể giả sảy: tử cung có các cơn co tống mảng tổ chức ra ngoài làm cho người bệnh đau bụng từng cơn, hết đau khi mảnh tổ chức bị tống ra. Xét nghiệm mảnh tổ chức rơi ra hay nạo ra thấy hình ảnh Arias Stella [28]. - Thai ở buồng trứng: được chẩn đoán sau khi mở bụng hay nội soi. Năm 1878, Spiegelberg đã đưa ra các tiêu chuẩn chẩn đoán: vòi trứng bên đó không có thương tổn, túi thai nằm ở buồng trứng, buồng trứng liên quan tử cung qua dây chằng tử cung - buồng trứng, tìm thấy tổ chức buồng trứng ở thành túi thai [43].
- Thai trong ổ bụng, nguyên phát hoặc thứ phát, thai có thể phát triển đến đủ tháng. ½ số trường hợp không chẩn đoán được trước khi mổ. - Thai trong ống cổ tử cung: hiếm gặp. Thai nghén thường kết thúc trước 20 tuần.
Triệu chứng nghèo nàn, không đặc hiệu, hầu hết được chẩn đoán là thai chết lưu hoặc sẩy thai. - Phối hợp chửa trong tử cung với ngoài tử cung: vô cùng hiếm gặp (1/30000 trường hợp). Ngày nay gặp nhiều trong trường hợp kích thích gây phóng noãn, thụ tinh ống nghiệm. Siêu âm thấy có túi ối trong buồng tử cung làm cho chúng ta “yên tâm một cách sai lầm” [22], [28].
Tiến triển của TNTC 1. Trường hợp làm tổ ở VTC - VTC căng giãn quá mức làm vỡ VTC, có thể do gai rau bám sâu vào lớp cơ làm thủng VTC, cùng các nhánh mạch máu tổ chức cũng bị vỡ gây chảy máu vào ổ bụng: máu chảy ít tạo thành khối máu khu trú được mạc nối, quai ruột bao bọc tạo thành khối huyết tụ thành nang, máu chảy nhiều ồ ạt sẽ làm ngập máu trong ổ bụng. - Do điều kiện phát triển không thuận lợi nên rau dễ bị bong ra gây sẩy thai. Thường gặp ở đoạn loa hoặc đoạn bóng VTC.
Nếu sẩy ở đoạn loa VTC, khối thai sẽ rơi vào ổ bụng có thể tiếp tục phát triển thành thai ở buồng trứng hay thai ngoài ổ bụng. Có thể gặp trường hợp khối thai sẩy hoàn toàn (TNTC thể thoái triển), phôi chết và tự tiêu đi, máu tự cầm, triệu chứng giảm dần và tự hết [5], [28], [29]. Trứng làm tổ ở buồng trứng Thai dễ bị vỡ hoặc sẩy gây chảy máu vào ổ bụng, có thể gặp một số trường hợp thai tự chết và tiêu đi [8]. Thai ngoài ổ bụng Thai thường tự tiêu đi hoặc vôi hoá.
Một số ít trường hợp gai rau có thể bám vào mạch máu của tạng trong ổ bụng để phát triển, thậm chí có thể phát triển đến khi đủ tháng [8]. Lâm sàng, cận lâm sàng của TNTC 1. Các triệu chứng lâm sàng: 1.