Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng phân loại và kết quả điều trị theo thang điểm chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân vảy nến tại bệnh viện da liễu cần thơ năm 2018 2020

Tài liệu nghiên cứu Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng phân loại và kết quả điều trị theo thang điểm chất lượng cuộc sống ở, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Nội Khoa (Da Liễu)

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Y Học

2020

86
5
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tổng quan bệnh vảy nến

1.2. Lâm sàng và cận lâm sàng bệnh vảy nến

1.3. Chất lượng cuộc sống và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân vảy nến

1.4. Điều trị bệnh vảy nến

1.5. Nghiên cứu trong và ngoài nước

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn chọn mẫu

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.5. Phương pháp nghiên cứu. Thiết kế nghiên cứu. Mẫu nghiên cứu. Nội dung nghiên cứu

2.6. Phương pháp thu thập và đánh giá số liệu

2.7. Kỹ thuật hạn chế sai số

2.8. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

2.9. Vấn đề y đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.2. Đặc điểm lâm sàng, phân loại thể bệnh ở bệnh nhân vảy nến

3.3. Chất lượng cuộc sống và một số yếu tố liên quan

3.4. Sự thay đổi chất lượng cuộc sống của bệnh nhân vảy nến sau điều trị

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

4.2. Đặc điểm lâm sàng, phân loại thể bệnh ở bệnh nhân vảy nến

4.3. Chất lượng cuộc sống và một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân vảy nến

4.4. Sự thay đổi chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân vảy nến sau điều trị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về bệnh vảy nến tại Bệnh viện Da Liễu Cần Thơ

Bệnh vảy nến là một bệnh lý da liễu phổ biến, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của nhiều bệnh nhân. Tại Bệnh viện Da Liễu Cần Thơ, nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị bệnh vảy nến từ năm 2018 đến 2020 đã được thực hiện nhằm cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình bệnh lý này. Bệnh vảy nến không chỉ gây ra các triệu chứng lâm sàng mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

1.1. Đặc điểm lâm sàng của bệnh vảy nến

Bệnh vảy nến có nhiều hình thái lâm sàng khác nhau, bao gồm vảy nến mảng, vảy nến giọt và vảy nến mụn mủ. Các thương tổn thường xuất hiện ở khu vực khuỷu tay, đầu gối và da đầu. Đặc điểm lâm sàng của bệnh vảy nến rất đa dạng, từ các dát đỏ đến các mảng lớn có vảy da dễ bong.

1.2. Tình hình bệnh vảy nến tại Cần Thơ

Tại Cần Thơ, tỷ lệ bệnh vảy nến trong dân số ước tính khoảng 2,2%. Nghiên cứu cho thấy bệnh vảy nến ảnh hưởng đến mọi lứa tuổi và giới tính, với nhiều yếu tố tác động đến sự khởi phát và tiến triển của bệnh.

II. Vấn đề và thách thức trong điều trị bệnh vảy nến

Điều trị bệnh vảy nến gặp nhiều khó khăn do tính chất mạn tính và khả năng tái phát cao. Các phương pháp điều trị hiện tại chưa hoàn toàn hiệu quả và thường đi kèm với tác dụng phụ. Việc tìm kiếm các phương pháp điều trị mới và hiệu quả hơn là một thách thức lớn trong lĩnh vực da liễu.

2.1. Những khó khăn trong điều trị bệnh vảy nến

Bệnh vảy nến thường không đáp ứng tốt với các liệu pháp điều trị hiện có. Nhiều bệnh nhân phải trải qua nhiều phương pháp điều trị khác nhau mà không đạt được kết quả như mong muốn, dẫn đến tâm lý chán nản và lo âu.

2.2. Tác động của bệnh vảy nến đến chất lượng cuộc sống

Bệnh vảy nến không chỉ gây ra các triệu chứng thể chất mà còn ảnh hưởng đến tâm lý và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Nghiên cứu cho thấy khoảng 39% bệnh nhân cảm thấy bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống tinh thần do bệnh.

III. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm lâm sàng bệnh vảy nến

Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Da Liễu Cần Thơ từ năm 2018 đến 2020, với mục tiêu mô tả đặc điểm lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị bệnh vảy nến. Phương pháp nghiên cứu bao gồm thu thập dữ liệu từ bệnh nhân và phân tích các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và đối tượng tham gia

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tả cắt ngang, với đối tượng là bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh vảy nến tại Bệnh viện Da Liễu Cần Thơ. Tiêu chuẩn chọn mẫu được xác định rõ ràng để đảm bảo tính đại diện.

3.2. Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu

Dữ liệu được thu thập thông qua bảng hỏi và phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân. Các chỉ số chất lượng cuộc sống được đánh giá bằng thang điểm DLQI, giúp xác định mức độ ảnh hưởng của bệnh đến cuộc sống hàng ngày.

IV. Kết quả nghiên cứu về bệnh vảy nến tại Cần Thơ

Kết quả nghiên cứu cho thấy đặc điểm lâm sàng của bệnh vảy nến tại Bệnh viện Da Liễu Cần Thơ rất đa dạng. Nhiều bệnh nhân có chất lượng cuộc sống bị ảnh hưởng nghiêm trọng, đặc biệt là sau khi điều trị. Sự thay đổi chất lượng cuộc sống sau điều trị cũng được ghi nhận rõ rệt.

4.1. Đặc điểm lâm sàng và phân loại thể bệnh

Nghiên cứu đã phân loại các thể bệnh vảy nến theo tiêu chuẩn Fitzpatrick, cho thấy sự phân bố đa dạng của các thể bệnh như vảy nến mảng, giọt và mụn mủ. Mỗi thể bệnh có những đặc điểm lâm sàng riêng biệt.

4.2. Sự thay đổi chất lượng cuộc sống sau điều trị

Kết quả cho thấy chất lượng cuộc sống của bệnh nhân vảy nến có sự cải thiện đáng kể sau 12 tuần điều trị. Các liệu pháp điều trị khác nhau đã mang lại hiệu quả khác nhau, nhưng nhìn chung, bệnh nhân đều cảm thấy tốt hơn về mặt tâm lý và thể chất.

V. Kết luận và triển vọng tương lai trong điều trị bệnh vảy nến

Nghiên cứu về bệnh vảy nến tại Bệnh viện Da Liễu Cần Thơ đã cung cấp nhiều thông tin quý giá về đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị. Tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu để tìm ra các phương pháp điều trị hiệu quả hơn, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc phát triển các liệu pháp điều trị mới, cũng như đánh giá tác động lâu dài của các phương pháp điều trị hiện tại đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

5.2. Hướng đi mới trong điều trị bệnh vảy nến

Các nghiên cứu mới về cơ chế bệnh sinh và các yếu tố tác động đến bệnh vảy nến sẽ mở ra hướng đi mới trong điều trị, giúp cải thiện hiệu quả điều trị và giảm thiểu tác dụng phụ cho bệnh nhân.

09/07/2025
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng phân loại và kết quả điều trị theo thang điểm chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân vảy nến tại bệnh viện da liễu cần thơ năm 2018 2020

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan bệnh vảy nến 1. Đại cương bệnh vảy nến Từ thời cổ đại trong y văn của Hyppocrates đã mô tả một nhóm bệnh da khô, bong vảy và mụn mủ bao gồm các bệnh về sau được tách riêng như: bệnh vảy nến, chốc, phong, lichen. Năm 1801, Robert là người đầu tiên tổng hợp những nét đặc trưng của một nhóm bệnh và đặt tên là “psoriasis”.

Ở Việt Nam, giáo sư Đặng Vũ Hy là người đầu tiên gọi bệnh này là bệnh “vảy nến”. Bệnh vảy nến là bệnh mạn tính, tiến triển từng đợt, dai dẳng suốt đời. Bệnh thông thường có thể bắt đầu mọi tuổi nhưng ít khi gặp dưới 10 tuổi và hay gặp nhất là 15 đến 30 tuổi[3]. Cơ chế bệnh sinh bệnh vảy nến Căn nguyên của bệnh vảy nến chưa rõ.

Người ta cho rằng bệnh vảy nến có liên quan đến rối loạn miễn dịch và yếu tố di truyền, thương tổn bùng phát khi gặp những yếu tố thuận lợi[41]. Yếu tố di truyền Vấn đề di truyền trong bệnh vảy nến được xác định có sự liên quan với HLA, có liên quan đến tiền sử gia đình, đến type vảy nến (type 1 có di truyền, type 2 không di truyền mà do những thay đổi trong cuộc sống). Bệnh vảy nến thường gặp ở những người có HLA-B13, B17, BW57 và CW6. Đặc biệt gen HLA-CW6 gặp ở 87% bệnh nhân vảy nến[38].

Rối loạn miễn dịch Bệnh vảy nến được xác định là một tình trạng tăng sinh quá mức của tế bào keratin ở biểu bì và tăng sinh mạn dưới kích thích của các tế bào lympho T (chủ yếu Th1) thông qua các cytokine. 4 Khi có các kháng nguyên, vi kháng nguyên (nội sinh và ngoại sinh) xâm nhập và xuất hiện được các tế bào trình diện kháng nguyên (ở da là tế bào langerhans) bắt giữ, xử lý kháng nguyên và trở thành tế bào trình diện kháng nguyên mẫn cảm. Tiếp theo, các tế bào trình diện kháng nguyên tiếp xúc với tế bào lympho T xâm nhập vào vùng biểu bì ở vùng da thương tổn và tế bào lympho T trở thành tế bào lympho hoạt hóa theo đường bạch mạch về hạch để phân triển. Các tế bào lympho T đã hoạt hóa tiếp tục vào máu đến da và tạo ra các đáp ứng miễn dịch thông qua các cytokine, chemokine.

Các tế bào lympho T sản xuất IL-2, interferon-γ (INF- γ) … được gọi là các tế bào Th1 đảm nhiệm miễn dịch qua trung gian tế bào và các cytokine là những chất tiền viêm và các tế bào lympho T sản xuất IL-4, IL-8… được gọi là Th2, chịu trách nhiệm miễn dịch dịch thể, các cytokine là những chất chống viêm. Bệnh vảy nến do vai trò chủ đạo chính là Th1[3]. Các yếu tố có thể gây khởi phát bệnh - Chấn thương tâm lý hay stress tâm lý: bao gồm stress tâm lực là những đợt lao động thể lực nặng nhọc, stress trí óc là những stress do căng thẳng trong công tác hoạt động khoa học, học tập và stress xúc cảm là những chấn thương đột ngột đến với người bệnh như người thân qua đời đột ngột, những tai họa bất ngờ và cả lâm sàng xấu xí của bệnh cũng là một stress tâm lý. Stress tâm lý là nguyên nhân gây ra bệnh gặp ở 31-88% bệnh nhân vảy nến.

Stress cũng là hậu quả của bệnh[39]. - Nhiễm khuẩn khu trú: chủ yếu là liên cầu đã tác động gây khởi phát vảy nến giọt hay làm nặng bệnh vảy nến có sẵn thường sau 1-5 tuần. Phòng ngừa và điều trị sớm bằng kháng sinh thích hợp, hạn chế sự tấn công của nhiễm khuẩn đường hô hấp trên ở trẻ em bị bệnh vảy nến đã ngăn cản xuất hiện vảy nến thể giọt[47]. - Chấn thương thượng bì: hiện tượng Koebner thường xảy ra ở bệnh nhân 5 vảy nến khởi phát sớm với đợt hoạt động của bệnh và chấn thương da phải đủ sâu.

Hiện tượng Koebner trong bệnh vảy nến có thể xuất hiện trên vết xước da, trên vết mổ, vết bỏng, nơi tiêm, nơi chủng đậu, nơi châm cứu[3]. - Vai trò một số thuốc: các thuốc như corticoid toàn thân, interferone, lithium, chẹn beta, chống viêm không steroid, ức chế enzym angiotensin, chống sốt rét, gemfibrozil… có thể làm xuất hiện thương tổn vảy nến ban đầu, hoặc làm bệnh trầm trọng hoặc làm tái phát của bệnh vảy nến trong quá trình điều trị. Đặc biệt, dùng corticoid toàn thân là một nguyên nhân hay gặp nhất gây khởi phát bệnh vảy nến mụn mủ do lạm dụng thuốc trong điều trị vảy nến thông thường đã làm xuất hiện vảy nến mụn mủ sau đó[41]. - Nghiện rượu, thuốc lá: Nghiện rượu là một yếu tố quan trọng tác động đến bệnh vảy nến, đặc biệt là làm cho bệnh trở nên mạn tính.

Những bệnh nhân nam bị vảy nến nặng thường là những người tiêu thụ rượu quá mức, sự tiêu thụ rượu làm giảm hiệu quả điều trị và chắc chắn gây các rối loạn tâm lý. Rượu là yếu tố nguy hiểm cho bệnh nguy hiểm cho bệnh vảy nến, uống liên tục liều nặng (>80g/ngày) gây tăng thêm ngứa, rối loạn giấc ngủ và ảnh hưởng đến kết quả điều trị[3]. Hút thuốc lá là một yếu tố kích thích như rượu đối với bệnh vảy nến. Sự liên quan giữa rượu, thuốc lá với bệnh vảy nến có thể là gián tiếp như qua trung gian tính cách cá nhân hoặc những sang chấn tinh thần[47].

- Vai trò của khí hậu, thời tiết: ánh nắng mặt trời có tác dụng tốt và dùng nước ấm có lợi đối với bệnh vảy nến, trong khi dùng nước lạnh dường như làm bệnh phát triển và màu lạnh làm bệnh phát triển lên[3]. Lâm sàng và cận lâm sàng bệnh vảy nến 1. Thương tổn lâm sàng bệnh vảy nến Thương tổn gặp chủ yếu ở da, ngoài ra còn ở móng và các khớp. Thương tổn da Thương tổn ở da điển hình là những dát, mảng đỏ, giới hạn rõ với da lành, trên dát phủ vảy da dễ bong.

Đặc điểm của dát, mảng thường có màu đỏ hoặc hồng, ranh giới rõ với da lành, hình tròn hoặc bầu dục, hoặc hình nhiều vòng cung, không tẩm nhuận, ấn kính mất màu, sờ mềm, không thâm nhiễm, không đau. Đặc điểm của vảy da là khô, gồm nhiều lớp xếp chồng lên nhau, độ dày không đều, dễ bong, màu trắng đục như xà cừ, phủ kín toàn bộ dát đỏ hoặc phủ một phần, thường để lại vùng ngoại vi. Số lượng thay đổi, từ vài mảng đến vài chục mảng. Kích thước to nhỏ khác nhau, từ vài mm đến vài cm.

Vị trí thương tổn thường ở chỗ tỳ đè, vùng hay bị cọ sát như khuỷu tay, đầu gối, mặt duỗi các chi, chỗ bị sang chấn hay vết bỏng, sẹo, vết cào gãi gọi là dấu hiệu Koebner. Thương tổn có khuynh hướng đối xứng. Mảng hồng ban bong vảy (Nguồn: Fitzpatrick's Color Atlas and Synopsis of Clinical Dermatology[15]) Cạo vảy theo phương pháp của Brocq: dùng thìa nạo cùn (curette) cạo trên thương tổn vảy nến từ vài chục đến hàng trăm lần thì thấy đầu tiên là vảy da bong thành lát mỏng có màu trắng đục. Tiếp tục cạo sẽ thấy một màng mỏng bong ra (gọi là màng bong).

Dưới lớp màng bong bề mặt đỏ, nhẵn, bóng, có 7 những điểm rớm máu gọi là hạt sương máu (dấu hiệu Auspitz)[41]. Thương tổn móng Thương tổn móng chiếm khoảng 30-50% tổng số bệnh nhân vảy nến, thường kèm với thương tổn da ở đầu ngón hoặc rải rác ở toàn thân[47]. Nếu chỉ có thương tổn móng đơn thuần thì khó chẩn đoán, phải sinh thiết móng. Thương tổn móng có thể là những chấm lõm ở mặt móng hoặc những vân ngang; móng mất trong, có những đốm trắng hoặc thành viền màu vàng đồng; bong móng ở bờ tự do; dày sừng dưới móng cùng với dầy móng và mủn; có thể biến mất toàn bộ móng để lại giường móng bong vảy sừng.

Ở vảy nến thể mủ thấy các mụn mủ dưới móng hoặc xung quanh móng. Thương tổn khớp Thương tổn khớp chiếm khoảng 10-20% tổng số bệnh nhân vảy nến[47]. Biểu hiện là đau các khớp; hạn chế và viêm một khớp; viêm đa khớp vảy nến, hình ảnh lâm sàng giống viêm đa khớp dạng thấp; viêm khớp cột sống vảy nến hiếm gặp hơn so với viêm đa khớp. Thể này rất khó phân biệt với viêm cột sống dính khớp.

Hình ảnh X-quang thấy hiện tượng mất vôi ở đầu xương, hủy hoại sụn, xương, dính khớp[44]. Thương tổn niêm mạc Thương tổn niêm mạc thường gặp ở niêm mạc qui đầu. Đó là những vết màu hồng, không thâm nhiễm, giới hạn rõ, ít hoặc không có vảy, tiến triển mạn tính. Ở lưỡi thương tổn giống viêm lưỡi hình bản đồ hoặc viêm lưỡi phì đại tróc vảy; ở mắt biểu hiện viêm kết mạc, viêm giác mạc, viêm mí mắt.

Phân loại bệnh vảy nến Phân loại theo Fitzpatrick 2019: 1. Vảy nến thông thường Vảy nến thông thường gồm vảy nến mảng, vảy nến giọt, vảy nến đảo ngược. Vảy nến mảng: đây là thể lâm sàng thường gặp nhất. 8 Thương tổn sừng hóa đỏ tồn tại nhiều tháng, nhiều năm.

Vị trí thương tổn ở khuỷu tay, đầu gối, da đầu, vùng mông và rốn. Các thương tổn có đường kính từ 5-10 cm, giới hạn rõ nên còn được gọi là vảy nến bản đồ. Thương tổn có thể mở rộng ra và tụ hợp lại tạo thành hình lá dương xỉ. Đôi khi có những có thương tổn hình tròn, phần trung tâm lành giống hình nhẫn gọi là vảy nến vòng.

Vảy nến giọt: đặc trưng bởi sự xuất hiện những sẩn nhỏ, đường kính khoảng 1-2 mm rải rác khắp người, màu đỏ tươi, có vảy nhẹ và mềm hơn vảy nến mảng thường gặp ở bệnh nhân trẻ. Dạng vảy nến này có mối liên quan mạnh với HLA-CW6, và nhiễm liên cầu vùng hầu họng thường có trước hoặc đi kèm với khởi phát hay bùng phát vảy nến giọt. Những bệnh nhân với tiền sử vảy nến mảng mạn tính có thể xuất hiện thương tổn vảy nến giọt. Vảy nến đảo ngược (vảy nến nếp gấp, vảy nến kẽ): thương tổn ở những nếp gấp chính của cơ thể như nách, vùng sinh dục-bẹn và cổ.

Thương tổn là hồng ban giới hạn rõ, láng, tróc vảy ít hoặc không có, thường nằm ở vùng da tiếp xúc với nhau. Sự tiết mồ hôi tại thương tổn bị ảnh hưởng. Vảy nến đỏ da toàn thân hay đỏ da toàn thân do vảy nến Đây là một biến chứng nặng, cấp tính. Biểu hiện là da toàn thân đỏ tươi lớn hơn 90% diện tích cơ thể, phù nề, căng, rớm dịch, phủ vảy mỡ khô, không còn vùng da lành.

Ngứa nhiều, nếp kẽ trợt loét, rớm dịch, nứt đau. Dấu hiệu toàn thân: sốt cao, rét run, rối loạn tiêu hóa, suy kiệt. Thể này có thể do biến chứng của điều trị không thích hợp như dị ứng DDS, lạm dụng corticoids[47].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng và Kết Quả Điều Trị Bệnh Vảy Nến Tại Bệnh Viện Da Liễu Cần Thơ (2018-2020)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các đặc điểm lâm sàng của bệnh vảy nến và hiệu quả điều trị tại một cơ sở y tế cụ thể. Nghiên cứu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về bệnh lý này mà còn chỉ ra những phương pháp điều trị hiệu quả, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân trong các bệnh lý khác, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa huyện mê linh và một số yếu tố liên quan năm 2015, nơi nghiên cứu về ảnh hưởng của điều trị đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đái tháo đường.

Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Tâm lý và chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư dạ dày sau truyền hóa chất tại viện ung thư bệnh viện trung ương quân đội 108, tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tác động tâm lý của bệnh nhân ung thư và chất lượng cuộc sống của họ.

Cuối cùng, tài liệu Luận văn chất lượng cuộc sống và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú tại bệnh viện ung bướu đà nẵng cũng là một nguồn thông tin quý giá, giúp bạn khám phá thêm về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư.

Những tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề sức khỏe và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân trong các lĩnh vực khác nhau.