Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Định nghĩa Ung thư vú là do các tế bào bất thường phát triển từ những tế bào ống hay những tế bào nang của vú. Nếu không chữa trị sớm, các tế bào ung thư này sẽ phát triển nhanh chóng trong vú, đi vào các mạch máu hay mạch bạch huyết, lan tới các hạch, và có thể lây lan đến các bộ phận khác, gây ra tắc nghẽn, đau đớn, và cuối cùng dẫn đến tử vong [4],[8]. Theo ACS (2015), Ung thư vú là một khối u ác tính bắt đầu từ trong các tế bào của vú.
Một khối u ác tính là một nhóm các tế bào ung thư có thể phát triển và xâm chiếm các mô xung quanh hoặc di căn tới các cơ quan khác trong cơ thể. Bệnh ung thư vú xảy ra gần như hoàn toàn ở phụ nữ nhưng nam giới cũng có thể mắc phải [8]. Các giai đoạn của ung thư vú Theo ACS (2015), mức độ nghiêm trọng của ung thư vú xâm lấn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi giai đoạn của bệnh thể hiện ở mức độ lây lan của ung thư trong lần chẩn đoán đầu tiên [8]. Giai đoạn cục bộ được xác định là giai đoạn mà ung thư vú chưa di căn đến các mô lân cận, tỷ lệ sống sót 5 năm là 99% đối với ung thư giai đoạn này.
Giai đoạn lân cận được xác định là ung thư vú đã di căn chỉ đến xung quanh mô hoặc hạch bạch huyết lân cận với tỷ lệ sống sót 5 năm là 84%. Giai đoạn xa được xác định là ung thư vú đã di căn đến các mô và các cơ quan khác, tỷ lệ sống sót trong 5 năm của giai đoạn này là 23%. Ngoài ra, hệ thống phân giai đoạn TNM thường được sử dụng trong các thiết lập lâm sàng dựa vào các thông tin về kích thước khối u, mức độ lan rộng tại vú, các cơ quan lân cận, sự tham gia của hạch bạch huyết và có di căn đến các cơ quan xa hơn hay không?. Các giai đoạn được đánh số từ 0 đến IV theo mức độ nghiêm trọng tăng dần.
Giai đoạn 0 tương ứng với ung thư cục bộ hay là tại chỗ, khi ung thư còn bị giới hạn trong ống dẫn sữa mà chưa lan vào những mô vú hay mô nâng đỡ bên 5 ngoài ống dẫn sữa. Giai đoạn I tương ứng với ung thư xâm lấn giai đoạn đầu, khi khối u còn nhỏ hơn 2 cm và chưa lan vào hạch nách, giai đoạn I có thể được chia thành giai đoạn IA và IB. Giai đoạn II khi khối u nhỏ hơn 2 cm và đã lan vào một số hạch nách, hay từ 2cm đến 5 cm và chưa lan vào hạch nách, giai đoạn II cũng được chia thành giai đoạn IIA và IIB. Giai đoạn III khi khối u lớn hơn 5cm, đã lan vào thành ngực, dưới da, ít nhất 10 hạch nách, hạch lympho cạnh xương ức và trên, dưới xương đòn nhưng chưa lây lan đi xa, giai đoạn III được chia thành giai đoạn IIIA, IIIB,IIIC.
Giai đoạn IV là giai đoạn nặng nhất, khi ung thư đã lây lan đến các cơ quan, bộ phận trong cơ thể, thường thấy ở gan, phổi, xương và não, giai đoạn này còn được gọi là giai đoạn di căn. Kích thước lớn hơn của khối u lúc chẩn đoán cũng có liên quan với sự giảm xuống về tỷ lệ sống sót, tỷ lệ sống sót 5 năm là 95% đối với các khối u nhỏ hơn hoặc bằng 2,0 cm, 82% đối với các khối u 2,1-5,0 cm và 63% cho các khối u lớn hơn 5,0 cm [9]. Điều trị ung thư vú Những tiến bộ trong điều trị và phát hiện sớm ung thư đã dẫn đến sự cải thiện về tỷ lệ sống sót cho mọi người bệnh ở mọi lứa tuổi, chủng tộc và ở tất cả các giai đoạn của ung thư vú từ năm 1989 đến năm 2012. Nhờ vậy, ở Hoa Kỳ, tỷ lệ phụ nữ tử vong do ung thư vú giảm được 36% [8].
Hơn 70% các ca tử vong do ung thư xảy ra ở các nước thu nhập thấp và trung bình, nơi mà nguồn lực sẵn có để phòng ngừa, chẩn đoán và điều trị ung thư không có hoặc còn nhạn chế [7],[99]. Việc điều trị ung thư vú phụ thuộc vào loại ung thư vú và khối u đã lan toả được bao xa. Có hai phương pháp chính trong điều trị ung thư vú, bao gồm: Liệu pháp cục bộ và liệu pháp bổ trợ. Liệu pháp cục bộ loại bỏ các bệnh ung thư từ một khu vực có giới hạn (cục bộ) giúp để đảm bảo ung thư không quay trở lại khu vực đó.
Nó bao gồm phương pháp phẫu thuật, có hoặc không có xạ trị vào vùng ngực. Liệu pháp bổ trợ nhằm mục đích loại bỏ các tế bào ung thư có thể đã lây lan từ ngực đến các bộ phận khác của cơ thể thông qua việc sử dụng thuốc điều trị bao gồm hóa trị liệu, liệu pháp hormone và liệu pháp nhắm trúng đích. Tuy nhiên, việc điều trị ung 6 thư cho mỗi người bệnh còn tuỳ thuộc vào từng cá nhân, loại ung thư, tình trạng bệnh và các thuốc đang được dùng [3], [4],[7],[8]. Phẫu thuật: Phẫu thuật điều trị ung thư vú có lịch sử lâu đời nhất trong các lĩnh vực ngoại khoa nói chung và ngoại khoa ung thư nói riêng [7].
Tuỳ vào mức độ xâm lấn của ung thư để có thể lựa chọn phương pháp phẫu thuật phù hợp. Các phương pháp phẫu thuật bao gồm: Cắt bỏ khối u vú còn được gọi là phẫu thuật bảo toàn vú, cách giải phẫu này chỉ lấy khối u ở vú ra với một vòng mô bình thường chung quanh. Thường thì sau đó người bệnh cần được xạ trị để giảm bớt nguy cơ tái phát bệnh trở lại. Ưu điểm của cắt bỏ u vú là có thể giữ lại hầu hết bầu vú [4],[7].
Cắt bỏ một phần vú: Cách phẫu thuật này chỉ cắt bỏ khối u cùng với màng mô bình thường chung quanh nó, có khi cả một ít da, mô lót của bắp cơ ngực ngay dưới khối u. Cách này cũng tương tự như phương pháp cắt bỏ khối u nhưng có thể phải lấy ra nhiều mô hơn. Cắt bỏ toàn bộ vú: Loại phẫu thuật này cắt bỏ toàn thể vú. Thường thì các hạch ở dưới nách không bị cắt bỏ.
Tuy nhiên, nếu có một số nhỏ ở gần sát vú, những hạch này có thể bị lấy ra khi cắt bỏ vú. Thường thì loại giải phẫu này được dùng điều trị ung thư vú tại vị, tức là ung thư vú chưa có tính xâm lấn. Giải phẫu hạch bạch huyết: Là cắt bỏ các hạch bạch huyết ở dưới nách, số hạch bạch huyết lấy ra ở mỗi phụ nữ khác nhau. Càng lấy nhiều hạch dưới nách ra thì nguy cơ bị sưng nề cánh tay càng cao, bởi vì sự lưu thông của các mạch bạch huyết đi từ bàn tay, cánh tay, qua nách vào đến mạch máu trong lồng ngực để được bài tiết qua thận, bị cắt đứt.
Phẫu thuật tạo hình: Tạo lại hình dáng của vú sau khi vú thật bị cắt bỏ hoàn toàn hay một phần và gây ra sự dị dạng của vú. Có nhiều cách tạo hình khác nhau: dùng chất độn silicone, hay chính mô tế bào của người bệnh để tái tạo vú [3],[4],[7],[8]. Xạ trị Xạ trị là một phần của liệu pháp bảo tồn vú. Xạ trị hay còn gọi là quang tuyến trị liệu là phương pháp trị liệu bằng năng lực quang tuyến X cao độ để giết chết tế bào ung thư.
Cách trị liệu này được dùng để ngăn chặn ung thư tăng trưởng trước khi giải phẫu, hay tiêu diệt tế bào ung thư còn sót lại sau cuộc giải phẫu. Xạ trị thường được chia ra làm nhiều ngày. Mỗi ngày, một phần nhỏ của tổng số quang tuyến sẽ được chiếu vào cơ phận bị bệnh. Đối với ung thư vú, người bệnh thường được chiếu quang tuyến khoảng từ sáu đến bảy tuần [4],[8].
Từ 17 nghiên cứu ngẫu nhiên với 10.081 phụ nữ có xạ trị và không xạ trị sau khi phẫu thuật ung thư vú, kết quả cho thấy xạ trị giúp giảm bớt nguy cơ tái phát lần đầu trong vòng 10 năm (đối với cả ung thư tại chổ hoặc di căn) từ 35% xuống còn 19,3% và làm giảm bớt nguy cơ tử vong do ung thư vú trong vòng 15 năm từ 25,2% xuống 21,4% [32]. Hóa trị liệu Hóa trị liệu được sử dụng để làm giảm nguy cơ tái phát ung thư vú, ngăn chặn sự nhân lên của tế bào ung thư và sự di căn của tế bào ung thư đến các mô khác. Hóa trị liệu gần như luôn luôn được khuyến cáo trong các trường hợp nếu có ung thư trong các hạch bạch huyết, bất kể kích cỡ của khối u như thế nào hay thời kỳ mãn kinh. Mỗi loại thuốc dùng trong hoá trị liệu sẽ hoạt động theo mỗi cách thức khác nhau và tác động lên tế bào ung thư ở những thời điểm sinh trưởng khác nhau.
Đó là lý do vì sao người ta thường phối hợp các loại thuốc trong quá trình điều trị ung thư.Ung thư vú có xu hướng xuất hiện nhiều hơn ở phụ nữ tiền mãn kinh, và do đó hóa trị liệu thường là một phần của kế hoạch điều trị [3],[4],[7],[8]. Hóa chất dùng trong hoá trị liệu là những dược liệu đặc biệt được dùng để tiêu diệt những tế bào ung thư. Hóa trị liệu thường được dùng thêm với việc giải phẫu, xạ trị thường được dùng để chống ung thư khi nó tái phát hay lây lan. Hóa chất trị liệu được dùng sau hay trước khi mổ sạch ung thư thuộc thời kỳ I, II, hay III, đã được chứng minh là có thể gia tăng cơ hội chữa lành bệnh cho nhiều người bệnh [4],[7].
8 Người bệnh thường được bắt đầu nhận hóa chất trong vòng sáu tuần sau khi phẫu thuật. Thuốc được cho vào mỗi hai hay ba tuần, và thường hoàn tất trong vòng ba đến sáu tháng. Nhiều trường hợp hóa chất được cho trước khi giải phẫu để việc giải phẫu được dễ dàng hơn nếu bướu ung thư quá lớn, hay nếu cho thuốc trước giúp người bệnh giữ được ngực bằng cách giải phẫu một phần thay vì toàn phần [4]. Liệu pháp nhắm trúng đích Những yếu tố di truyền hay kết quả của những yếu tố di truyền trong cơ thể được xem như những yếu tố gây ra bệnh ung thư có thể trở thành mục tiêu trị liệu.
Chẳng hạn như yếu tố di truyền gen HER2 là yếu tố tăng trưởng các tế bào biểu bì, trong đó có các tế bào ung thư vú. Khoảng 25% các phụ nữ mang ung thư vú là ung thư vú HER2 dương tính, với khuynh hướng phát triển mạnh và tiên lượng xấu.