ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là bệnh lý phổ biến, gây tử vong và tàn phế hàng đầu cho bệnh nhân trên toàn thế giới [57]. Theo Chƣơng trình nghiên cứu về gánh nặng bệnh phổi tắc nghẽn, năm 2016 ƣớc tính có 251 triệu ca mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và có khoảng 3 triệu ngƣời chết hàng năm trên toàn thế giới do bệnh lý này [107]. Tại Việt Nam, ƣớc tính khoảng 6,7 dân số bị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính [84], và là một trong 10 bệnh mắc cao nhất ở Đồng Bằng Sông Hồng và Duyên Hải Miền Trung theo thống kê của Bộ Y Tế năm 2016 [2]. Do cơ chế viêm hệ thống ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính [31] nên bệnh đồng mắc đƣợc quan tâm nhiều hơn trong thời gian gần đây.
Theo Ula Chetty và cộng sự (2017), 86% bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có ít nhất một bệnh đồng mắc trở lên, một nửa trong số đó liên quan đến bệnh tim mạch [48], điều này ảnh hƣởng rất lớn đến chất lƣợng cuộc sống và tiên lƣợng sống còn của bệnh nhân [47], [48]. Trong số các bệnh tim mạch đồng mắc ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, suy tim sung huyết có tần suất mắc cao độc lập với các yếu tố nguy cơ chung [47]. Các nghiên cứu gần đây cho thấy, tần suất suy tim tâm thu hoặc tâm trƣơng trong khoảng từ 2070% ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính [52]. Ngƣợc lại, tỷ lệ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở bệnh nhân suy tim dao động từ 2030% [47].
Tỷ lệ tử vong đƣợc ghi nhận tăng trung bình 2,1 lần ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đồng mắc suy tim sau thời gian theo dõi 4,2 năm so với bệnh nhân không đồng mắc suy tim [41]. Tuy nhiên, việc chẩn đoán suy tim trên bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính còn nhiều khó khăn, vì các triệu chứng lâm sàng thƣờng đan xen nhau [61]. Do đó suy tim dễ bị bỏ sót ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hậu quả là việc điều trị không thích hợp có thể gây nhiều bất lợi cho bệnh nhân [87]. Việc phát hiện sớm và điều trị hợp lý suy tim ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là rất quan trọng vì có thể làm cải thiện tỷ lệ tử vong và các biến cố tim mạch cho bệnh nhân [49], [79].
2 Trên thế giới, nghiên cứu về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đồng mắc suy tim còn khá mới, bƣớc đầu cho biết một số thông tin về tần suất, điều trị, tiên lƣợng, tăng cảnh báo về sự kết hợp quan trọng nhƣng thƣờng bị bỏ sót này [57]. Tại Việt Nam, cho đến nay số lƣợng nghiên cứu chúng tôi tìm đƣợc về bệnh lý tim mạch đồng mắc ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính còn khá khiêm tốn [5], [6], [8], [25]. Mặt khác, ảnh hƣởng qua lại giữa bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và bệnh lý tim mạch trên cùng cơ thể bệnh nhân và những vấn đề liên quan đến điều trị vẫn còn chƣa đƣợc quan tâm nghiên cứu. Việc cung cấp thông tin về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, cũng nhƣ kết quả điều trị bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đồng mắc suy tim sẽ là cơ sở khoa học giúp thầy thuốc lâm sàng nhận định tốt hơn về bệnh lý này ở bệnh nhân.
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài ―Nghiên cứu tình hình, đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị ở bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đồng mắc suy tim tại Bệnh viện Trƣờng Đại học Y dƣợc Cần Thơ và Bệnh viện Đa khoa Trung Ƣơng Cần Thơ năm 2017-2019‖ nhằm các mục tiêu sau: 1. Xác định tỷ lệ bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đồng mắc suy tim nhập viện tại Bệnh viện Trường Đại học Y dược Cần Thơ và Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ từ năm 2017-2019 2. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đồng mắc suy tim tại Bệnh viện Trường Đại học Y dược Cần Thơ và Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ từ năm 2017-2019 3. Đánh giá kết quả điều trị và các yếu tố liên quan kết quả điều trị đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đồng mắc suy tim tại Bệnh viện Trường Đại học Y dược Cần Thơ và Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ từ năm 2017-2019.
3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 1. Định nghĩa Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính BPTNMT là một bệnh phổ biến, có thể dự phòng và điều trị đƣợc, đặc trƣng bởi triệu chứng hô hấp trƣờng diễn và giới hạn luồng khí do bất thƣờng đƣờng dẫn khí và/hoặc phế nang thƣờng do tiếp xúc với các hạt hoặc khí độc hại [57]. Đợt cấp BPTNMT đƣợc định nghĩa nhƣ một biến cố trong tiến trình tự nhiên của bệnh đặc trƣng bởi sự thay đổi trạng thái khó thở nền tảng của bệnh nhân (BN), ho và/ hoặc khạc đàm vƣợt quá sự thay đổi hàng ngày bình thƣờng, cấp tính trong khởi phát và cần có sự thay đổi trong cách điều trị hàng ngày [10], [46].
Tình hình Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là một trong những nguyên nhân hàng đầu của gánh nặng bệnh tật và tử vong trên toàn thế giới [35]. Tỷ lệ hiện mắc cũng nhƣ tỷ lệ tử vong của BPTNMT khác nhau giữa các quốc gia [56], [57]. Theo điều tra của chƣơng trình ―Gánh nặng của BPTNMT‖ Burden Obstructive Lung Disease-BOLD đƣợc tiến hành trên một số vùng trên thế giới, đã báo cáo có 251 triệu trƣờng hợp mắc BPTNMT năm 2016 [107]. Tính trên toàn cầu, hàng năm có khoảng 3 triệu ngƣời chết do BPTNMT, đứng hàng thứ tƣ thế giới, và con số này có thể tăng lên đến 4,5 triệu ngƣời trƣớc năm 2030 và 7 triệu ngƣời năm 2060 [106].
Năm 2003, nghiên cứu tại khu vực châu Á - Thái Bình Dƣơng cho thấy tần suất BPTNMT ở ngƣời trên 30 tuổi là 6,3 , trong đó Việt Nam ƣớc tính khoảng 6,7 dân số bị BPTNMT, cao nhất khu vực [97]. Tỷ lệ lƣu hành của đợt cấp BPTNMT là rất khó xác định do không có định nghĩa chung về đợt cấp BPTNMT. Các nghiên cứu cho thấy ch có 32-50 triệu chứng đƣợc xác định của đợt cấp đƣợc bệnh nhân báo cáo cho các chuyên gia chăm sóc sức khỏe [98]. Đợt cấp BPTNMT tạo ra gánh nặng đáng kể cho hệ 4 thống y tế trên toàn thế giới, là một trong những nguyên nhân chính của bệnh tật tử vong và nghèo khó [50], [57], [73].
Đợt cấp BPTNMT chịu trách nhiệm cho hơn 0,9 trong tổng số 11,7 triệu lƣợt nhập viện và 2,4 trong tổng số 4,2 triệu lƣợt nhập cấp cứu tại Anh trong năm 2003-2004 [51]. Thời gian nằm viện trung bình của BN đợt cấp BPTNMT trong khoảng 7-10 ngày [57]. Phần lớn bệnh nhân BPTNMT vào đợt cấp cần phải nhập viện và hơn 50 tổng số chi phí cũng nhƣ các dịch vụ liên quan của BPTNMT đều liên quan đến đợt cấp [51]. Mặc dù y học có nhiều tiến bộ nhƣng khoảng 1/3 các trƣờng hợp đợt cấp BPTNMT đã nhập khoa cấp cứu thì có đến 1/3 các trƣờng hợp có đợt cấp tái phát trong vòng 14 ngày và 17 trong số đó cần phải nhập viện trở lại [51].
Tại khu vực Châu Á-Thái Bình Dƣơng, đợt cấp BPTNMT cũng là một trong những gánh nặng chính về sức khỏe và kinh tế. Trong một nghiên cứu trên 9 vùng lãnh thổ tại Châu Á-Thái Bình Dƣơng cho thấy có 46 bệnh nhân BPTNMT có ít nhất 1 đợt cấp trong năm trƣớc, và 19 phải nhập viện [53]. Một nghiên cứu ở Hokaido, Nhật Bản, báo cáo tần suất đợt cấp BPTNMT dao động từ 0,06-0,078 lần/ngƣời/năm. BN đợt cấp BPTNMT trong năm đầu tiên có tỷ lệ tái phát đợt cấp nhiều hơn và chất lƣợng cuộc sống xấu hơn.
Một nghiên cứu của trên hơn 8000 bệnh nhân BPTNMT tại vùng nông thôn Trung Quốc cho thấy có 36 BN nhập viện vì triệu chứng hô hấp [53]. Tại Việt Nam, BN đợt cấp BPTNMT cần điều trị nội trú chiếm 25 số giƣờng bệnh trong các khoa hô hấp [4]. Các yếu tố nguy cơ Yếu tố nguy cơ chính của BPTNMT là khói thuốc lá, tuy nhiên tiếp xúc với những yếu tố môi trƣờng nhƣ nhiên liệu sinh khối và ô nhiễm không khí cũng có thể là nguy cơ. Bên cạnh đó, có yếu tố chủ thể tiên định của cá thể bị BPTNMT.
Bao gồm bất thƣờng về di truyền, về sự phát triển theo tuổi [57], [108]. Các yếu tố nguy cơ của đợt cấp BPTNMT gồm: tuổi, mức độ tắc nghẽn đƣờng dẫn khí nặng, tăng tiết đàm, thời gian bị bệnh kéo dài, tăng ho và khò khè, 5 cần dùng kháng sinh hoặc corticosteroid, có bệnh đồng mắc đi kèm, có tiền căn bị đợt cấp, bị nhiễm khuẩn, tình trạng sức khỏe suy yếu có sẵn [82]. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đồng mắc suy tim và đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đồng mắc suy tim 1. Các khái niệm Bệnh đồng mắc comobidity là thuật ngữ ch một hay nhiều bệnh hoặc rối loạn kết hợp đồng thời với một bệnh khác đƣợc xem là bệnh chính index disease , và bệnh lý kết hợp này mang tính độc lập với bệnh chính [93].
Suy tim: Theo định nghĩa suy tim ST của Trƣờng môn Tim Hoa Kỳ/Hội Tim Hoa Kỳ American College of Cardiology/ American Heart Association- ACC/AHA thì suy tim là một hội chứng lâm sàng phức tạp, là hậu quả của bất kỳ tổn thƣơng thực thể hay rối loạn chức năng tim; dẫn đến tâm thất không đủ khả năng đổ đầy hoặc tống máu [109]. Định nghĩa của Hội Tim châu Âu năm 2016 (European Respiratory Society-ESC nhấn mạnh vấn đề lâm sàng cho thấy suy tim là một hội chứng lâm sàng đặc trƣng bởi các triệu chứng điển hình nhƣ khó thở, phù chân và mệt mà có thể kèm theo các dấu hiệu nhƣ tăng áp lực tĩnh mạch cổ, ran nổ ở phổi và phù ngoại vi gây ra bởi bất thƣờng cấu trúc và/ hoặc chức năng tim, dẫn đến cung lƣợng tim giảm và/ hoặc áp lực trong tim tăng khi ngh hoặc trong khi gắng sức [52]. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đồng mắc suy tim: sự xuất hiện đồng thời BPTNMT và suy tim (suy tim trái và/hoặc suy tim toàn bộ trên cùng một BN, trong đó, BPTNMT đƣợc xem là bệnh chính còn suy tim là bệnh đồng mắc [95]. Thuật ngữ suy tim sung huyết, hay đơn giản là suy tim, bao hàm tình trạng suy thất trái.