Tổng quan luận án

Dị tật tai nhỏ (Microtia) là một dị tật bẩm sinh của tai ngoài và tai giữa phát sinh do sự gián đoạn quá trình phát triển phôi thai trong ba tháng đầu thai kỳ. Tỷ lệ mắc dị tật trên thế giới dao động từ 0,5 đến 3,06 trên 10.000 trẻ sơ sinh tùy theo chủng tộc và khu vực địa lý. Dị tật thường gặp ở nam giới nhiều hơn nữ giới (chiếm 58% đến 64%) và khoảng 90% trường hợp xuất hiện ở một bên tai, trong đó tai bên phải có tần suất mắc cao hơn tai bên trái. Dị tật tai nhỏ không chỉ gây suy giảm chức năng thính giác (thường kèm theo tịt hoặc hẹp ống tai ngoài gây nghe kém dẫn truyền 45–60 dB) mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý, sự tự tin và khả năng hòa nhập xã hội của bệnh nhân do sự biến dạng cấu trúc giải phẫu vùng mặt.

Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu trước đây về phẫu thuật tạo hình vành tai chủ yếu thực hiện trên nhóm đối tượng hỗn hợp (cả người lớn và trẻ em), đồng thời áp dụng chung nhiều phương pháp hoặc tập trung vào kỹ thuật Nagata. Cho đến trước thời điểm thực hiện đề tài này, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện về đặc điểm lâm sàng và đánh giá kết quả phẫu thuật tạo hình vành tai áp dụng chuyên biệt kỹ thuật Brent trên quần thể bệnh nhi tại Việt Nam.

Luận án "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và đánh giá kết quả phẫu thuật tạo hình dị tật tai nhỏ theo kỹ thuật Brent" của nghiên cứu sinh Vũ Duy Dũng, thực hiện tại Trường Đại học Y Hà Nội (chuyên ngành Chấn thương chỉnh hình và Tạo hình, mã số: 6272 01 29) dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Lê Gia Vinh và TS. Nguyễn Roãn Tuất, được tiến hành nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu nêu trên.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm hai nội dung chính:

  1. Mô tả đặc điểm lâm sàng dị tật tai nhỏ ở trẻ em Việt Nam.
  2. Đánh giá kết quả phẫu thuật tạo hình dị tật tai nhỏ theo kỹ thuật Brent.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng: Gồm 188 bệnh nhân từ 16 tuổi trở xuống được chẩn đoán dị tật tai nhỏ đến khám và điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương.
  • Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10 năm 2015 đến tháng 10 năm 2019.
  • Địa bàn nghiên cứu: Bệnh viện Nhi Trung ương, Hà Nội.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Lịch sử phẫu thuật tạo hình vành tai trên thế giới đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển:

  • Năm 1920, Harold Gillies thực hiện phẫu thuật sửa chữa dị tật vành tai bẩm sinh đầu tiên bằng cách vùi mảnh sụn sườn gọt dưới da vùng chũm.
  • Năm 1930, Pierce công bố các tiêu chuẩn tạo hình tai ngoài bằng sụn tự thân.
  • Năm 1959, Radford Tanzer mở ra kỷ nguyên hiện đại cho phẫu thuật tạo hình vành tai bằng sụn sườn tự thân với quy trình gồm 6 thì phẫu thuật.
  • Năm 1971, Burton Brent cải tiến quy trình của Tanzer xuống còn 4 thì, và đến năm 1974 tiếp tục tinh giản quy trình xuống còn 2 đến 3 thì phẫu thuật, xác lập sụn sườn tự thân là vật liệu ghép tiêu chuẩn.
  • Năm 1985–1994, Satoru Nagata giới thiệu kỹ thuật tạo hình khung sụn không gian 3 chiều qua 2 thì phẫu thuật độc lập, nhưng đòi hỏi lấy khối lượng sụn sườn lớn (thường từ 5 sụn sườn) và phẫu thuật viên phải can thiệp khi trẻ từ 10 tuổi trở lên.
  • Năm 2001, Françoise Firmin tiếp tục cải tiến việc thiết kế khung sụn theo ba phân loại khuyết hổng lâm sàng cụ thể.
  • Bên cạnh sụn tự thân, các vật liệu nhân tạo như Silicone (Cronin, 1966 - nay không còn dùng do tỷ lệ thải loại cao) và Polyethylene xốp mật độ cao Medpor (John Reinisch, 1991) hay công nghệ nuôi cấy tế bào mô sụn (Green & Dickens 1972, Vacanti 1993, Guangdong Zhou 2018) cũng được thử nghiệm. Tuy nhiên, sụn sườn tự thân vẫn duy trì vị trí "tiêu chuẩn vàng" nhờ tính tương thích sinh học tuyệt đối, không bị đào thải và có độ bền cơ học lâu dài.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu đã công bố bao gồm:

  • Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thị Minh (1995) về tổn thương khuyết rộng vành tai bằng vạt cân thái dương nông bọc khung sụn tự thân 1 thì.
  • Phân loại lâm sàng dị tật vành tai ba thể (tăng sản, thiểu sản, bất sản) của Trần Thiết Sơn (2005).
  • Báo cáo chuyên khoa II của Nguyễn Thái Hưng (2006) về khuyết vành tai.
  • Luận văn Bác sĩ Nội trú của Nguyễn Thị Vân Bình (2012) trên 35 bệnh nhân thiểu sản vành tai cấy sụn tạo hình.
  • Luận văn Bác sĩ Nội trú của Nguyễn Thùy Linh (2015) trên 29 bệnh nhân phẫu thuật nâng khung sụn tạo rãnh sau tai.
  • Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Huy Cảnh (2016) sử dụng vạt cánh tay ngoài vi phẫu tạo hình vành tai.
  • Nghiên cứu của Trần Thị Thanh Huyền (2017) trên 30 bệnh nhân tạo hình tai nhỏ bằng sụn tự thân 2 thì tại Bệnh viện Việt Đức.
  • Luận án Tiến sĩ của Lý Xuân Quang (2018) trên 39 ca dị tật tai nhỏ bằng kỹ thuật Nagata cải tiến trên nhóm bệnh nhân hỗn hợp người lớn và trẻ em.

Vị trí của luận án: Luận án của Vũ Duy Dũng là công trình đầu tiên tại Việt Nam tập trung nghiên cứu đặc điểm lâm sàng trên cỡ mẫu lớn trẻ em (188 ca) và đánh giá một cách có hệ thống kỹ thuật tạo hình Brent (kinh điển và cải tiến) chuyên biệt cho đối tượng bệnh nhi từ 6 đến 16 tuổi.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở phôi thai học và giải phẫu ứng dụng

  • Phôi thai học: Tai ngoài hình thành từ trung mô của cung mang I và cung mang II xung quanh rãnh mang thứ nhất (tương lai là ống tai ngoài). Tuần thứ 6 của thai kỳ xuất hiện 6 nụ mang (gờ His), trong đó các thành phần có nguồn gốc từ cung mang II chiếm tới 85% cấu trúc tai ngoài trưởng thành. Sự gián đoạn kết hợp giữa các nụ từ tuần thứ 5 đến tuần thứ 20 gây ra các mức độ dị tật tai nhỏ.
  • Giải phẫu và nhân trắc: Vành tai người trưởng thành có chiều cao từ 5–6 cm, chiều rộng bằng khoảng 55% chiều cao (3,2–3,5 cm), trục nghiêng sau từ 15–20° so với mặt phẳng đứng dọc Frankford, góc vành tai – xương chũm bình thường từ 20–30° (tương ứng khoảng cách gờ luân – xương chũm từ 15–20 mm). Hệ thống cấp máu gồm động mạch thái dương nông ở phía trước và động mạch tai sau ở phía sau. Khung sụn sườn số 6, 7 (liên kết khớp sụn) và sụn sườn số 8 cung cấp khối lượng mô sụn phù hợp cho việc điêu khắc khung vành tai.
  • Phân loại dị tật: Luận án áp dụng bảng phân loại của Hermann Marx (1926) bổ sung bởi Meurman (1957) gồm 4 độ:
    • Độ I: Đầy đủ cấu trúc nhưng kích thước nhỏ, có thể hẹp ống tai.
    • Độ II: Biến dạng, mất một số mốc giải phẫu, thường kèm tịt ống tai ngoài.
    • Độ III: Chỉ còn di tích mô mềm hình hạt đỗ hoặc xúc xích, mất vành tai và tịt ống tai ngoài.
    • Độ IV: Không có vành tai (Anotia).

Thiết kế và phương pháp nghiên cứu

Luận án được kết hợp từ hai thiết kế nghiên cứu cho hai mục tiêu:

  1. Mục tiêu 1: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 188 bệnh nhi ≤ 16 tuổi mắc dị tật tai nhỏ.
    • Công thức tính cỡ mẫu: $n \ge \frac{Z_{1-\alpha/2}^2 \cdot p(1-p)}{d^2} = 139$ (với $\alpha = 0,05; Z = 1,96; p = 0,1; d = 0,05$). Cỡ mẫu thực tế thu thập là 188 bệnh nhân.
  2. Mục tiêu 2: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng không đối chứng trên nhóm bệnh nhân phẫu thuật theo kỹ thuật Brent.
Tiêu chuẩn lựa chọn nhóm can thiệp phẫu thuật Tiêu chuẩn loại trừ
• Chẩn đoán dị tật tai nhỏ độ III hoặc IV theo Marx.
• Tuổi từ > 6 đến ≤ 16 tuổi.
• Chu vi vòng ngực qua mũi ức $\ge 60\text{ cm}$.
• Hoàn thành ít nhất 2 thì phẫu thuật (đã xong thì dựng vành tai).
• Thời gian theo dõi sau mổ $> 3\text{ tháng}$.
• Bệnh nhân và gia đình đồng thuận phẫu thuật.
• Sẹo xấu, sẹo mổ cũ, tiền sử xạ trị vùng thái dương - chũm cùng bên.
• Dị dạng phối hợp nặng chưa xử trí (teo mặt nặng, rò tai cổ).
• Dị dạng lồng ngực, gù vẹo cột sống, sẹo mổ cũ vùng ngực lấy sụn.
• Bệnh lý toàn thân chống chỉ định gây mê/phẫu thuật (thiểu sản phổi, bệnh mềm sụn).

Quy trình kỹ thuật phẫu thuật Brent áp dụng

  • Thì I: Tạo khung sụn và cấy dưới da:
    • Lấy mẫu tai lành trên phim X-quang trong suốt làm dưỡng định vị.
    • Rạch da ngực bên đối diện qua khoang liên sườn 6–7, lấy khối sụn sườn 6–7 làm nền khung và sụn sườn 8 để uốn gờ luân, lấy thêm mảnh sụn sườn 6 nhỏ làm sụn chêm dự trữ cho thì sau.
    • Khắc gọt, liên kết các thành phần sụn bằng chỉ thép hoặc chỉ Ethibond 3.0. Áp dụng khung Brent cải tiến (tạo sẵn gờ bình) hoặc Brent kinh điển (nếu còn gờ bình).
    • Rạch da vùng chũm hình chữ Z, bóc tách khoang dưới da rộng hơn khung sụn $\ge 1\text{ cm}$, chuyển vị dái tai, đặt khung sụn, đặt 2 dẫn lưu áp lực âm duy trì từ 100–115 mmHg trong 5–7 ngày.
  • Thì II: Dựng vành tai và ghép da (thực hiện sau thì I ít nhất 6 tháng):
    • Rạch da cách bờ tự do vành tai 5 mm, bóc tách nâng khung sụn khỏi nền xương chũm, đặt mảnh sụn chêm dự trữ phía sau để tạo độ nhô và góc sau tai.
    • Che phủ mặt sau bằng vạt mạc/mô tại chỗ kết hợp ghép da dày toàn bộ kích thước $3 \times 4\text{ cm}$ lấy từ vùng bẹn, sau tai đối diện hoặc vết mổ thành ngực cũ.
  • Thì III: Chỉnh sửa và tạo gờ bình/hõm xoăn (nếu cần, sau thì II từ 3–6 tháng):
    • Tạo gờ bình bằng mảnh ghép phức hợp da - sụn lấy từ tai đối diện (đối với kỹ thuật kinh điển) và chỉnh sửa trục, sẹo.

Nội dung chính theo từng chương

Đặt vấn đề

Trình bày dịch tễ học dị tật tai nhỏ, tác động nặng nề của dị tật lên sự phát triển tâm lý trẻ em, phân tích sự tiến hóa của các phương pháp phẫu thuật tạo hình vành tai trên thế giới, từ đó xác lập sự cần thiết của việc nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và chuẩn hóa kỹ thuật Brent cho trẻ em tại Việt Nam.

Chương 1: Tổng quan tài liệu

  • Phôi thai học và giải phẫu: Tổng quan chi tiết 6 nụ mang của His từ hai cung mang I và II; phân bố mạch máu của động mạch thái dương nông và động mạch tai sau; các thông số nhân trắc học vành tai bình thường và bất thường.
  • Đặc điểm sụn sườn: Phân tích sự tăng trưởng sụn sườn theo lứa tuổi. Dẫn chứng nghiên cứu của Masanao Oki (chu vi ngực 60 cm tương ứng 10 tuổi có sụn 6, 7, 8 dài lần lượt 7, 10, 12 cm), Steven (2013), Kang (2015) và Zhongyang Sun (2018) về kích thước sụn sườn 8 để tạo gờ luân.
  • Bệnh căn học và dị tật phối hợp: Trình bày các yếu tố di truyền (đột biến gen TCOF1 trong hội chứng Treacher Collins, gen SALL1 trong hội chứng Townes-Brocks), giả thuyết thiếu máu cục bộ động mạch đế đạp thời kỳ phôi thai (Poswillo, Craig), và các hội chứng thuộc phổ mắt - tai - cột sống (OAVS, Goldenhar, Klippel-Feil, BOR).
  • Phân loại lâm sàng: So sánh 4 hệ thống phân loại chính gồm Hermann Marx, Radford Tanzer, Hilko Weerda và Satoru Nagata.
  • Các phương pháp điều trị: Phân tích ưu nhược điểm của các kỹ thuật Tanzer, Brent, Nagata, Firmin, khung Medpor, khung Silicone, công nghệ tổ chức và tai giả. Điểm lại các nghiên cứu tạo hình vành tai tại Việt Nam từ năm 1995 đến 2018.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

  • Mô tả chi tiết tiêu chuẩn chọn và loại trừ bệnh nhân cho hai nhóm (nghiên cứu mô tả 188 ca và nhóm can thiệp phẫu thuật kỹ thuật Brent).
  • Trình bày công thức tính cỡ mẫu, quy trình thăm khám lâm sàng toàn diện, khám chuyên khoa tai mũi họng, đánh giá thính lực, đo nhân trắc lồng ngực và vùng tai.
  • Chi tiết hóa từng bước phẫu thuật từ lập kế hoạch mổ, lấy dưỡng tai, rạch da ngực, bóc tách sụn sườn, khắc gọt tạo hình khung sụn kiểu Brent (kinh điển và cải tiến), chuyển vị dái tai, đặt dẫn lưu áp lực âm, đến thì dựng vành tai ghép da và thì chỉnh sửa.
  • Mô tả phác đồ chăm sóc hậu phẫu, kiểm soát đau, phòng ngừa và xử trí các biến chứng (tràn khí màng phổi qua nghiệm pháp Valsalva, hoại tử da, nhiễm trùng).

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

  • Đặc điểm chung: Phân bố lứa tuổi, giới tính, địa dư, tiền sử sản khoa và các yếu tố nguy cơ của nhóm 188 bệnh nhi.
  • Đặc điểm lâm sàng: Tỷ lệ phân bố dị tật theo bên (phải, trái, hai bên), phân loại mức độ dị tật theo thang điểm Marx (tỷ lệ độ III, IV chiếm ưu thế), tình trạng tịt/hẹp ống tai ngoài, và tỷ lệ các dị tật/hội chứng phối hợp vùng sọ mặt và toàn thân.
  • Kết quả phẫu thuật theo kỹ thuật Brent: Đánh giá các thông số trong mổ (thời gian phẫu thuật, lượng máu mất, chiều dài sụn sườn lấy được), thời gian liền vết thương, tình trạng sống của vạt da và mảnh ghép da, tỷ lệ biến chứng sớm (chảy máu, tụ dịch, rò khí màng phổi) và biến chứng muộn (lộ khung sụn, co rút vạt, sẹo lồi). Đánh giá kết quả thẩm mỹ vành tai sau thì dựng tai theo các tiêu chí hình thái giải phẫu, góc và độ nhô vành tai.

Chương 4: Bàn luận

  • Bàn luận về đặc điểm dịch tễ và lâm sàng: So sánh tỷ lệ nam/nữ, tỷ lệ tai phải/tai trái, và tần suất mắc dị tật tai nhỏ đơn thuần so với dạng kết hợp hội chứng (Goldenhar, Treacher Collins) với các công bố quốc tế và trong nước.
  • Bàn luận về thời điểm phẫu thuật và chỉ định: Phân tích tính tối ưu của ngưỡng tuổi (> 6 tuổi) và chu vi vòng ngực ($\ge 60\text{ cm}$) đối với việc đảm bảo đủ chất liệu sụn sườn mà không gây biến dạng thành ngực trầm trọng.
  • Bàn luận về kỹ thuật mổ Brent: Đánh giá ưu điểm của kỹ thuật Brent cải tiến (tạo sẵn gờ bình ở thì I giúp giảm số thì phẫu thuật xuống còn 2–3 thì), hiệu quả của hệ thống dẫn lưu áp lực âm trong việc ép da bám sát các rãnh sụn, giải pháp sử dụng sụn chêm tự thân dự trữ ở thì II để tạo góc nhô vành tai ổn định, và kinh nghiệm xử trí các tai biến trong phẫu thuật.

Kết quả và những đóng góp mới

Kết quả nghiên cứu chính

  • Xác lập bức tranh lâm sàng toàn diện về dị tật tai nhỏ ở trẻ em tại một trung tâm nhi khoa tuyến cuối: dị tật chủ yếu gặp ở một bên, ưu thế bên phải và nam giới; dị tật mức độ nặng (Marx độ III) chiếm tỷ lệ cao nhất và đa số kèm theo tịt ống tai ngoài dạng xương.
  • Chứng minh tính khả thi, an toàn và hiệu quả thẩm mỹ của kỹ thuật Brent (kinh điển và cải tiến 2–3 thì) trên bệnh nhi từ 6 tuổi trở lên có chu vi ngực $\ge 60\text{ cm}$.
  • Ghi nhận tỷ lệ biến chứng thấp tại vùng ngực nơi lấy sụn nhờ kỹ thuật bóc tách bảo tồn màng sụn và kiểm soát rò màng phổi bằng nghiệm pháp Valsalva trong mổ.

Những đóng góp mới của luận án

  1. Về mặt khoa học và lý luận:
    • Cung cấp bộ dữ liệu dịch tễ học và lâm sàng có hệ thống trên 188 bệnh nhi dị tật tai nhỏ tại Việt Nam, làm rõ mối liên quan giữa dị tật tai nhỏ và các bất thường sọ mặt trong phổ OAVS.
    • Chuẩn hóa quy trình đánh giá nhân trắc học vùng tai và lồng ngực ở trẻ em Việt Nam phục vụ chỉ định phẫu thuật tạo hình vành tai.
  2. Về mặt thực tiễn lâm sàng:
    • Hoàn thiện và áp dụng thành công quy trình kỹ thuật Brent cải tiến (tích hợp tạo gờ bình ngay từ thì I) giúp rút ngắn số lần mổ từ 4 thì xuống còn 2–3 thì, giảm gánh nặng phẫu thuật và gây mê cho bệnh nhi.
    • Đưa ra giải pháp kỹ thuật bảo tồn sụn chêm dưới da ở thì I để tái sử dụng ở thì II nhằm dựng vành tai đạt độ nhô từ 20–30° sinh lý mà không cần lấy thêm sụn lần hai.
    • Thiết lập quy trình chăm sóc hậu phẫu sử dụng hút áp lực âm liên tục 100–115 mmHg giúp da áp sát khung sụn, bộc lộ rõ nét các mốc giải phẫu (gờ luân, gờ đối luân, hố thuyền, hố tam giác).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Nghiên cứu được thực hiện tại một trung tâm duy nhất (Bệnh viện Nhi Trung ương) với phương pháp chọn mẫu thuận tiện cho nhóm can thiệp phẫu thuật, chưa có nhóm chứng đối đầu trực tiếp giữa kỹ thuật Brent và kỹ thuật Nagata trên cùng một quần thể bệnh nhi.
  • Thời gian theo dõi sau phẫu thuật tối thiểu ở một số ca còn ngắn (> 3 tháng), cần theo dõi dài hạn hơn đến tuổi trưởng thành để đánh giá sự phát triển tương quan giữa vành tai tái tạo và vành tai bên lành.
  • Luận án chưa đi sâu vào đánh giá kết quả cải thiện thính lực thông qua phẫu thuật mở ống tai ngoài kết hợp hoặc cấy ghép thiết bị trợ thính đường xương.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng nghiên cứu đa trung tâm, so sánh đối chứng ngẫu nhiên giữa kỹ thuật Brent cải tiến và kỹ thuật Nagata trên các nhóm tuổi khác nhau.
  • Theo dõi dọc sự phát triển của khung sụn tự thân sau 5–10 năm để đánh giá mức độ cốt hóa, tiêu sụn hoặc biến dạng lồng ngực lâu dài.
  • Nghiên cứu phối hợp liên chuyên khoa Tạo hình - Tai Mũi Họng nhằm kết hợp phục hồi thẩm mỹ vành tai với tái tạo sức nghe bằng phẫu thuật chỉnh hình ống tai ngoài hoặc cấy máy trợ thính dẫn truyền đường xương (BAHA).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo có giá trị cao cho:

  • Bác sĩ phẫu thuật tạo hình và chấn thương chỉnh hình: Nắm vững từng bước kỹ thuật khắc gọt sụn sườn 6, 7, 8, kỹ thuật tạo vạt da vùng chũm, phương pháp hút áp lực âm và kỹ thuật dựng vành tai bằng sụn chêm.
  • Bác sĩ Tai - Mũi - Họng và Bác sĩ Nhi khoa: Tham khảo các đặc điểm lâm sàng, hệ thống phân loại Marx, Weerda, Nagata để chẩn đoán sớm dị tật tai nhỏ, phát hiện các hội chứng phối hợp (Goldenhar, Treacher Collins) và tư vấn thời điểm phẫu thuật thích hợp cho gia đình bệnh nhân.
  • Học viên sau đại học, nghiên cứu sinh: Sử dụng làm tài liệu tham khảo về phương pháp luận nghiên cứu can thiệp ngoại khoa, cách xây dựng biểu mẫu bệnh án nghiên cứu và tiêu chí đánh giá kết quả phẫu thuật tạo hình.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao kỹ thuật Brent lại yêu cầu độ tuổi phẫu thuật tối thiểu từ 6 tuổi và chu vi vòng ngực từ 60 cm trở lên?

Ở độ tuổi 6–7 tuổi, vành tai của trẻ đã đạt khoảng 85–90% kích thước người lớn, giúp phẫu thuật viên lấy mẫu kích thước gần như hoàn chỉnh. Đồng thời, chu vi vòng ngực qua mũi ức đạt $\ge 60\text{ cm}$ là điều kiện tiên quyết đảm bảo khối sụn sườn 6, 7 và sụn sườn 8 đủ độ dày và chiều dài để khắc gọt khung tai mà không gây suy yếu nghiêm trọng thành ngực của trẻ.

2. Kỹ thuật Brent cải tiến khác gì so với kỹ thuật Brent kinh điển?

Kỹ thuật Brent kinh điển gồm 4 thì độc lập: (1) Đặt khung sụn, (2) Xoay dái tai, (3) Dựng vành tai ghép da, (4) Tạo gờ bình và hõm xoăn. Kỹ thuật Brent cải tiến gắn thêm mảnh sụn làm gờ bình trực tiếp vào khung sụn ngay ở thì I và kết hợp chuyển vị dái tai, giúp giảm tổng số lần phẫu thuật xuống còn 2 đến 3 thì tùy theo tổn thương cụ thể.

3. Khung sụn tự thân trong luận án được chế tác từ những sụn sườn nào?

Khung sụn được tạo từ ba sụn sườn đối bên tai dị tật:

  • Khớp sụn sườn 6 và 7 liên kết được gọt mỏng làm thân và nền khung sụn.
  • Sụn sườn số 8 được xẻ đôi uốn cong tạo thành gờ luân và gờ đối luân.
  • Một mẩu sụn sườn 6 dự trữ được lấy thêm và vùi dưới da để làm sụn chêm nâng tai ở thì II.

4. Vai trò của hệ thống dẫn lưu áp lực âm ở thì I là gì?

Hệ thống dẫn lưu kín áp lực âm (duy trì 100–115 mmHg liên tục từ 5–7 ngày) có nhiệm vụ hút sạch máu, dịch ứ đọng, đồng thời kéo toàn bộ vạt da phủ dính sát vào các rãnh, gờ của khung sụn, giúp da nuôi dưỡng tốt và làm lộ rõ các chi tiết giải phẫu của tai mới.

5. Khung sụn nhân tạo (Medpor) có ưu và nhược điểm gì so với sụn tự thân theo tổng quan của luận án?

Khung Medpor có ưu điểm là không cần lấy sụn sườn, không gây sẹo ngực, có thể mổ sớm hơn (4–5 tuổi) và chỉ cần 1 thì phẫu thuật bọc vạt mạc thái dương nông. Tuy nhiên, nhược điểm lớn là vật liệu nhân tạo có nguy cơ nhiễm trùng, thải loại cao hơn sụn tự thân và dễ bị lộ khung khi có chấn thương tại chỗ.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Vũ Duy Dũng đã mô tả toàn diện các đặc điểm lâm sàng của dị tật tai nhỏ ở trẻ em Việt Nam, khẳng định ưu thế phân bố ở tai phải, nam giới và thể tổn thương nặng độ III theo phân loại Marx. Đề tài đã chuẩn hóa và chứng minh tính hiệu quả, an toàn của kỹ thuật tạo hình vành tai bằng sụn sườn tự thân theo kỹ thuật Brent (kinh điển và cải tiến 2–3 thì) cho bệnh nhi từ 6 tuổi trở lên có chu vi ngực $\ge 60\text{ cm}$. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc cho chuyên ngành Phẫu thuật Tạo hình tại Việt Nam trong việc điều trị dị tật tai nhỏ bẩm sinh ở trẻ em.