Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 GIẢI PHẪU HỌC VÙNG HẬU MÔN Hậu môn là đoạn cuối cùng của ống tiêu hóa, nằm dưới trực tràng và tận cùng ở mép hậu môn. Ống hậu môn phẫu thuật bao gồm ống hậu môn giải phẫu và 2cm dưới của trực tràng ở phía trên đường lược. Do đó, ống hậu môn giải phẫu dài 2,5-3cm trong khi ống hậu môn phẫu thuật dài 4-5cm [2]. Hậu môn được đóng mở một cách chủ động nhờ hệ thống cơ vân.1 Niêm mạc ống hậu môn Đoạn trên ống hậu môn được lót bởi biểu mô trụ, chứa các tế bào bài tiết và hấp thu với nhiều ống tuyến.
Lớp dưới niêm khá di động, căng phồng và chứa các đám rối động tĩnh mạch phong phú. Đoạn dưới ống hậu môn là biểu mô lát tầng không sừng hóa, chứa ít tuyến mồ hôi và tuyến bã nên ít bài tiết và rất khô. Tuy nhiên, ở đây chứa rất nhiều đầu tận cùng của thần kinh cảm giác ngoại biên, góp phần quan trọng trong cơ chế kiểm soát đi tiêu. Lớp dưới niêm của vùng này chứa các đám rối động tĩnh mạch phong phú và nhiều mô liên kết hơn đoạn trên.
Ở giữa ống hậu môn, có 6-10 nếp dọc gọi là cột hậu môn. Mỗi cột chứa một nhánh tận của động tĩnh mạch trực tràng trên. Các mạch máu này lớn nhất ở các vị trí phải trước, phải sau và trái bên tương ứng với vị trí 3 bó trĩ trên lâm sàng ở các vị trí 3 giờ-7 giờ-11 giờ. Tận cùng phía dưới của các cột có các nếp liềm gọi là van hậu môn, có 8-16 van và có thể được nhìn thấy qua nội soi hậu môn.
Giữa các van là các xoang hậu môn, các tuyến hậu môn đổ vào các xoang này [2]. Đường lược được tạo nên bởi các van và xoang hậu môn, đồng thời đây cũng là nơi giao nhau của biểu mô trụ và biểu mô lát. Đường lược là ranh giới quan trọng để phân biệt trĩ nội và trĩ ngoại.2 Các lớp cơ của ống hậu môn Ở hậu môn có 2 lớp cơ: cơ thắt trong và cơ thắt ngoài. Cơ thắt trong là cơ trơn, do lớp cơ vòng ống hậu môn dày lên, hình thành nên một vòng khép kín dày 2-3mm, dài 2,5-3cm.
Phần trên có thể bóc tách lớp niêm mạc ra khỏi lớp cơ thắt trong dễ dàng. Ở phần dưới do có nhiều mô liên kết nên việc bóc tách khó khăn hơn. Bờ dưới của cơ thắt trong rất thay đổi, có khi xuống hết hậu môn, có khi còn cách hậu môn khoảng 1,5cm [12], [22]. Cơ thắt ngoài hậu môn được tạo bởi mô cơ vân gồm: cơ thắt ngoài hậu môn nông và cơ thắt ngoài hậu môn sâu.
Khi thăm khám hậu môn sẽ thấy cơ thắt trong như một vòng thắt chặt hơn so với cơ thắt ngoài. Cơ thắt ngoài giúp chúng ta chủ động điều khiển được việc đi tiêu. Giúp giữ vững góc hậu môn-trực tràng là một cơ rất quan trọng của hệ thống cơ nâng hậu môn, đó là cơ mu trực tràng. Cơ này bắt đầu từ xương mu đến phần trong nhất của cơ nâng hậu môn và liên tục với phần sâu của cơ thắt hậu môn ngoài.1 Giải phẫu ống hậu môn (Nguồn: Atlat Giải phẫu người) 5 1.3 Phân bố mạch máu vùng hậu môn-trực tràng 1.1 Động mạch Hậu môn và trực tràng được nuôi dưỡng nhờ 3 động mạch: - Động mạch trực tràng trên (động mạch trĩ trên): là nhánh tận của động mạch mạc treo tràng dưới, có vai trò chủ yếu cấp máu cho vùng hậu môn-trực tràng.
Các nhánh này nối thông với nhau và thông với cái tĩnh mạch qua các mạch nối. - Động mạch trực tràng giữa (động mạch trĩ giữa): xuất phát từ động mạch hạ vị, cấp máu cho phần dưới của bóng trực tràng và phần trên của ống hậu môn. - Động mạch trực tràng dưới (động mạch trĩ dưới): xuất phát từ động mạch thẹn trong, cấp máu cho hệ thống cơ thắt, các nhánh tận cấp máu cho 1/3 dưới hậu môn và vùng da hậu môn.2 Tĩnh mạch Hình 1.2 Động mạch và tĩnh mạch của vùng hậu môn-trực tràng (Nguồn: Phạm Văn Cường) Lưu thông trở về của dòng máu từ hậu môn-trực tràng đi theo trục của các động mạch tương ứng và có sự thông thương qua hệ tĩnh mạch cửa-chủ. 6 Máu ở vùng hậu môn khi trở về đổ vào 2 nơi: ở phía trên đường lược, máu đổ về tĩnh mạch trực tràng trên, rồi đổ vào hệ cửa; ở phía dưới đường lược, máu đổ về tĩnh mạch trực tràng dưới, rồi đổ vào hệ chủ.
Hai đám rối tĩnh mạch này được phân cách bởi dây chằng Parks. Dây chằng này giúp treo niêm mạc vào lớp cơ thắt trong hậu môn. Khi dây chằng này thoái hóa, mất độ bền chắc chúng sẽ chùng ra, hai đám rối này nằm sát vào nhau, trĩ nội sẽ liên kết với trĩ ngoại thành trĩ hỗn hợp. Khi trĩ hỗn hợp to ra, không nằm riêng lẻ mà liên kết với nhau sẽ tạo thành trĩ vòng.4 Phân bố thần kinh ở vùng hậu môn Ở phía trên đường lược có ít thần kinh cảm giác hơn so với ở dưới đường lược.
Do đó, trĩ nội thường không gây đau. Các dây thần kinh S2, S3, S4 chi phối hoạt động cho hệ thống cơ thắt ở hậu môn: cơ thắt ngoài (cơ vân) được điều khiển bởi S4, cơ thắt trong (cơ trơn) được điều khiển bởi S2, S3 và cả S4.2 SINH BỆNH HỌC BỆNH TRĨ Các cấu trúc trĩ là các cấu trúc giải phẫu bình thường ở người được tạo bởi động mạch, tiểu động mạch, tĩnh mạch, tiểu tĩnh mạch và các hệ thống mạch nối [24]. Khi các cấu trúc neo giữ bị suy yếu, có hiện tượng viêm hoặc có sự thay đổi của lớp niêm mạc che phủ thì bệnh trĩ xuất hiện [12]. Một số yếu tố thuận lợi gây bệnh trĩ như [23], [27], [38]: chế độ ăn ít chất xơ, đứng hoặc ngồi quá lâu, táo bón mạn tính hoặc tiêu chảy, tiền sử gia đình bị trĩ, bệnh gan mạn, tính bệnh tim mạch, đứng hoặc ngồi quá lâu, phụ nữ có thai trong 3 tháng cuối thai kỳ (thường tự khỏi sau khi sinh [35]), vận động viên cử tạ, giao hợp qua đường hậu môn,.
Ngoài ra một số yếu tố khác cũng được đề cập như: thay đổi nội tiết tố, căng thẳng quá mức, nôn ói thường xuyên hay mặc quần áo quá chật cũng là nguy cơ gây bệnh trĩ.3 CHẨN ĐOÁN, PHÂN LOẠI VÀ PHÂN ĐỘ TRĨ 1.1 Các triệu chứng lâm sàng Hai triệu chứng thường đưa bệnh nhân đến khám nhất là chảy máu khi đi tiêu và sa búi trĩ [8], [19]. Chảy máu trong bệnh trĩ hiếm khi xảy ra ồ ạt, nhưng nếu để lâu ngày có thể gây nên tình trạng thiếu máu mạn và nặng. Chảy máu lúc đầu có thể ít, kín đáo, bệnh nhân (BN) phát hiện được sau khi đi tiêu nhìn vào giấy vệ sinh hoặc nhìn thấy máu dính vào phân. Về sau, các búi trĩ to dần thì máu có thể chảy thành giọt hay tia nhỏ.
Đôi khi máu chảy ra đọng lại trong lòng trực tràng và bệnh nhân sẽ đi cầu ra máu cục. Sa búi trĩ cũng là một triệu chứng thường gặp. Biểu hiện của sa búi trĩ rất khác nhau tùy theo phân độ trĩ trên lâm sàng. Mức độ sa càng nặng càng gây cho bệnh nhân nhiều khó chịu.
Một số triệu chứng khác cũng có thể gặp như: đau, tắc mạch, ngứa rát ở vùng hậu môn, nứt hậu môn, ổ áp xe hậu môn đi kèm, chảy dịch nhầy ở hậu môn, rò phân và táo bón [8], [29].1 Phân biệt trĩ và những bệnh lý khác ở hậu môn-trực tràng Các triệu chứng của bệnh trĩ cũng có thể gặp trong nhiều bệnh lý khác của vùng hậu môn như [28]: nứt hậu môn, polyp hậu môn, mảnh da thừa, sùi mào gà, bệnh viêm ruột, ung thư đại trực tràng,. Tất cả các bệnh lý này đều có thể chẩn đoán loại trừ bằng cách hỏi về tiền sử, đặc điểm đau ở hậu môn, đặc điểm chảy máu khi đi cầu và thăm khám hậu môn-trực tràng trên lâm sàng. Một số trường hợp ung thư trực tràng ở trên cao làm bệnh nhân mót rặn, đi tiêu nhiều lần trong ngày làm xuất hiện trĩ. Do đó, ta dễ bỏ qua các triệu chứng của ung thư mà chỉ lưu tâm điều trị triệu chứng của bệnh trĩ [10].2 Thăm khám lâm sàng Thăm khám bệnh nhân mắc bệnh trĩ trên lâm sàng được thực hiện ở các tư thế nghiêng trái, tư thế gối khủy hay tư thế sản khoa.3 Trĩ ngoại Búi trĩ ngoại nằm ở 1/3 xa của ống hậu môn dưới đường lược và được che phủ bởi một lớp da, ở đây có nhiều thần kinh cảm giác nên trĩ ngoại sẽ gây đau cho bệnh nhân khi bị thuyên tắc hay hoại tử.
Khi sờ, các búi trĩ ngoại mềm và có thể ấn xẹp, khi có tắc mạch, sờ có cảm giác như những hạt tấm và rất đau.4 Trĩ nội Các búi trĩ nội sa được nhìn thấy khi yêu cầu bệnh nhân rặn mạnh. Nếu mức độ sa của búi trĩ nhiều, có thể nhìn thấy được một vòng niêm mạc gồm nhiều búi trĩ to nhỏ không đều nhau, giữa các búi trĩ là các ngấn nông sâu khác nhau. Trong trường hợp bệnh nhân đã tự ý điều trị trước đó, có thể thấy vùng da quanh hậu môn bị viêm tấy đỏ [8].2 Phân loại và phân độ trĩ Theo vị trí giải phẫu, lấy đường lược làm mốc người ta chia trĩ thành các loại: trĩ nội, trĩ ngoại, trĩ hỗn hợp và trĩ vòng [7].1 Trĩ nội Trĩ nội nằm ở phía trên đường lược và có thể được phân thành 4 độ như sau [12], [16], [34]: Độ 1: trĩ xuất hiện trong lòng hậu môn và chỉ thấy khi bệnh nhân rặn. Độ 2: trĩ sa ra ngoài khi đi đại tiện và tự thụt vào.
Độ 3: trĩ sa ra ngoài khi đi đại tiện, bệnh nhân phải dùng tay đẩy vào. Độ 4: trĩ sa ra ngoài ngay cả khi không đi đại tiện.2 Trĩ ngoại Trĩ ngoại nằm ở dưới đường lược, có da phủ lên trên các búi trĩ [8].3 Trĩ hỗn hợp Khi bệnh nhân mắc cả trĩ nội lẫn trĩ ngoại, sau một thời gian 2 búi trĩ này sẽ liên kết với nhau và tạo thành trĩ hỗn hợp [8].4 Trĩ vòng Lúc đầu các búi trĩ còn nhỏ, nằm tách biệt nhau, về sau các búi trĩ lớn dần lên và xuất hiện các búi trĩ phụ. Các búi trĩ chính và phụ này tụt ra tạo thành trĩ vòng với các búi trĩ to nhỏ khác nhau [8].4 NỘI SOI TRONG BỆNH TRĨ Đây là bước cần thiết để chẩn đoán chính xác được bệnh. Phương pháp này được dùng để chẩn đoán trĩ nội độ 1 và độ 2 [7].