Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng các yếu tố liên quan và đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân chóng mặt tư thế kịch phát lành tính bằng nghiệm pháp epley tại cần thơ 2019 2021

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và hiệu quả điều trị chóng mặt tư thế kịch phát bằng nghiệm pháp Epley tại Cần Thơ giai đoạn 2019-2021.

Chuyên ngành

Nội Thần Kinh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn bác sĩ nội trú

2021

87
10
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Sinh lý hệ tiền đình ốc tai

1.2. Đại cương chóng mặt tư thế lành tính

1.3. Nguyên nhân chóng mặt tư thế kịch phát lành tính

1.4. Chẩn đoán

1.5. Các yếu tố liên quan

1.6. Điều trị thuốc

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu chóng mặt tư thế kịch phát lành tính tại Cần Thơ

Chóng mặt tư thế kịch phát lành tính (BPPV) là một trong những nguyên nhân phổ biến gây chóng mặt, chiếm khoảng 20-30% các trường hợp. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá hiệu quả điều trị BPPV bằng nghiệm pháp Epley tại Cần Thơ trong giai đoạn 2019-2021. Mục tiêu là cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình và các yếu tố liên quan đến bệnh lý này.

1.1. Định nghĩa và triệu chứng của chóng mặt tư thế kịch phát lành tính

BPPV được định nghĩa là cảm giác chóng mặt xoay tròn xảy ra khi thay đổi tư thế đầu. Triệu chứng điển hình bao gồm chóng mặt kéo dài từ một phút đến vài phút, thường khởi phát khi bệnh nhân thay đổi tư thế như nằm xuống hoặc đứng dậy.

1.2. Tình hình nghiên cứu BPPV tại Cần Thơ

Hiện tại, chưa có nhiều nghiên cứu về BPPV tại Cần Thơ. Nghiên cứu này nhằm lấp đầy khoảng trống thông tin và cung cấp dữ liệu cần thiết cho việc điều trị và quản lý bệnh nhân.

II. Vấn đề và thách thức trong điều trị chóng mặt tư thế kịch phát lành tính

Mặc dù BPPV có thể điều trị hiệu quả bằng các phương pháp như nghiệm pháp Epley, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức trong việc chẩn đoán và điều trị. Các yếu tố như sự thiếu hiểu biết về bệnh lý và sự đa dạng trong triệu chứng có thể gây khó khăn cho bác sĩ trong việc đưa ra chẩn đoán chính xác.

2.1. Những khó khăn trong chẩn đoán BPPV

Chẩn đoán BPPV thường gặp khó khăn do triệu chứng có thể tương tự như các bệnh lý khác. Việc phân biệt giữa BPPV và chóng mặt do nguyên nhân khác như hạ huyết áp tư thế hay migraine là rất quan trọng.

2.2. Tác động của các yếu tố nguy cơ đến hiệu quả điều trị

Các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, đái tháo đường và tiền sử chấn thương đầu có thể ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị BPPV. Nghiên cứu cho thấy những bệnh nhân có yếu tố nguy cơ này thường có tỷ lệ tái phát cao hơn.

III. Phương pháp điều trị chóng mặt tư thế kịch phát lành tính hiệu quả

Nghiệm pháp Epley là một trong những phương pháp điều trị chính cho BPPV. Phương pháp này đã được chứng minh là hiệu quả trong việc giảm triệu chứng chóng mặt và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

3.1. Nguyên lý hoạt động của nghiệm pháp Epley

Nghiệm pháp Epley hoạt động dựa trên nguyên lý tái định vị sỏi tai trong ống bán khuyên. Thao tác này giúp đưa sỏi ra khỏi vị trí gây chóng mặt, từ đó giảm triệu chứng cho bệnh nhân.

3.2. Quy trình thực hiện nghiệm pháp Epley

Quy trình thực hiện nghiệm pháp Epley bao gồm các bước cụ thể, từ việc xác định tư thế đầu đến việc theo dõi triệu chứng của bệnh nhân. Điều này đảm bảo rằng bệnh nhân nhận được sự chăm sóc tốt nhất.

IV. Kết quả nghiên cứu về hiệu quả điều trị BPPV bằng nghiệm pháp Epley

Nghiên cứu cho thấy nghiệm pháp Epley có hiệu quả cao trong việc điều trị BPPV. Kết quả cho thấy tỷ lệ bệnh nhân cải thiện triệu chứng ngay sau khi thực hiện nghiệm pháp là rất cao, lên đến 85%.

4.1. Đánh giá kết quả điều trị sau 1 giờ

Sau 1 giờ thực hiện nghiệm pháp Epley, nhiều bệnh nhân đã báo cáo giảm triệu chứng chóng mặt rõ rệt. Điều này cho thấy hiệu quả nhanh chóng của phương pháp này.

4.2. So sánh hiệu quả giữa nghiệm pháp Epley và thuốc

Kết quả nghiên cứu cho thấy nghiệm pháp Epley có hiệu quả hơn so với điều trị bằng thuốc. Bệnh nhân điều trị bằng Epley có tỷ lệ tái phát thấp hơn so với nhóm điều trị bằng thuốc.

V. Kết luận và triển vọng tương lai trong điều trị BPPV

Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng nghiệm pháp Epley là một phương pháp điều trị hiệu quả cho BPPV tại Cần Thơ. Tuy nhiên, cần có thêm nhiều nghiên cứu để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị và phát triển các phương pháp điều trị mới.

5.1. Tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức về BPPV

Nâng cao nhận thức về BPPV trong cộng đồng và trong giới y tế là rất quan trọng. Điều này giúp bệnh nhân nhận biết triệu chứng sớm và tìm kiếm điều trị kịp thời.

5.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Các nghiên cứu trong tương lai nên tập trung vào việc xác định các yếu tố nguy cơ và phát triển các phương pháp điều trị mới nhằm nâng cao hiệu quả điều trị BPPV.

09/07/2025
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng các yếu tố liên quan và đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân chóng mặt tư thế kịch phát lành tính bằng nghiệm pháp epley tại cần thơ 2019 2021

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Sinh lý hệ tiền đình ốc tai - Hệ thống tiền đình đáp ứng vận động đầu tiên liên quan với không gian và trọng lực. - Soan nang và cầu nang phát hiện những thay đổi gia tốc nghiêng, do lực li tâm và xoay tròn. Tuy nhiên soan nang và cầu nang không phân biệt rõ ràng giữa nghiêng và xoay tròn nhiệm vụ này do ba ống bán khuyên đảm nhận.

Vì vậy soan nang và cầu nang cảm giác vận động thẳng, ba ống bán khuyên cảm giác vận động xoay trong ba mặt phẳng [34]. - Soan nang và cầu nang chứa vùng biểu mô cảm giác gọi là vết (hoành điểm) có các tế bào lông tiền đình mỗi tế bào lông tiền đình có khoảng 50 lông mao. Các lông mao gắn vào gelatin chứa nhiều tinh thể CaCO3 có khối lượng riêng 2,95g/cm3 và đường kính từ 3-30µm [34]. Chất nền galetin chứa nhiều tinh thể CaCO3 gọi màng ốc tai có tỷ trọng lớn hơn nội dịch nên các chuyển động liên quan đến trọng lực đều liên quan đến màng ốc tai.

Trong gia tốc thẳng, màng ốc tai do quán tính nên ngã ra sau khi ngã hướng về lông rung gây kích thích tế bào (gia tăng phát xung động sợi thần kinh cảm giác hướng tâm dây VIII) và ức chế khi di chuyển hướng ngược lại.1: Cấu tạo vết soan nang và cầu nang (Nguồn: Handbook of Clinical Neurology 2016 [34]) - Trong vết soan nang và cầu nang có một gờ gọi là striola, tế bào lông của vết soan nang hướng về phía striola, trong khi vết cầu nang hướng về phía ngược lại. Striola là đường định hướng cho lông rung của vết. Phát hiện gia tốc thẳng, soan nang chủ yếu chiều ngang trong khi cầu nang thì theo chiều dọc. Sự khử cực và tăng cực của tế bào lông cho phép dây thần kinh VIII hoạt động, phân tích vectơ hoạt động 4 chiều từ 4 vết sẽ định hướng đầu trong không gian.2: Hướng tế bào lông trong soan nang và cầu nang (Nguồn: Handbook of Clinical Neurology 2016 [34]) 5 - Ống bán khuyên: trong bóng của ống bán khuyên có mào cấu tạo bởi các tế bào lông (thụ thể tế bào cảm giác của ống bán khuyên), lông của tế bào nằm trong chất nền gelatin gọi là vòm.

Vòm đi từ bên này sang bên kia nên bít bóng lại hoàn toàn.3: Cấu tạo bóng của ống bán khuyên (Nguồn: Handbook of Clinical Neurology 2016 [34]) - Các ống bán khuyên bị kích thích trong chuyển động tròn tăng tốc của đầu, trong giai đoạn tăng tốc nội dịch di chuyển ngược chiều chuyển động. - Trong bóng ống bán khuyên các tế bào lông cảm giác được sắp xếp theo cùng một hướng, nên các tế bào lông nhận cảm sự di chuyển nội dịch. Nên mỗi kênh bán nguyệt nhạy cảm chiều các vòng xoay theo hướng cụ thể của kênh.4: Hướng chuyển động gây kích thích tế lông trong ống bán khuyên (Nguồn: Handbook of Clinical Neurology 2016 [34]) 6 - Trong chuyển động vòm bị lệch đi, các lông bị đẩy về một phía. Nếu lông bị đẩy về phía lông rung, màng tế bào tăng tính thấm với cation và khử cực, các chất trung gian thần kinh phóng thích vào khe synapse làm tăng phát xung động trong dây tiền đình.

Hướng ngược lại màng tế bào tăng cực, chất trung gian thần kinh giảm và phát xung động thần kinh tiền đình chậm lại hay ngừng hẳn. Trong giai đoạn chuyển động vận tốc ổn định vòm trở về vị trí đứng thẳng. Đại cương chóng mặt tư thế lành tính 1. Lịch sử và định nghĩa chóng mặt tư thế kịch phát lành tính - Bệnh chóng mặt tư thế kịch phát lành tính (BPPV) là chóng mặt xoay tròn có nguồn gốc ngoại biên liên quan đến tư thế đầu, được Barany mô tả đầu tiên vào năm 1921, tuy nhiên đến năm 1952 Dix và Hallpike thiết lập test tư thế và đưa các triệu chứng kinh điển của bệnh như: rung giật nhãn cầu xoay, giảm đáp ứng khi lặp lại tư thế [13].

- BPPV cũng được gọi là chóng mặt tư thế lành tính, chóng mặt tư thế kịch phát, chóng mặt tư thế, rung giật nhãn cầu kịch phát lành tính và rung giật nhãn cầu tư thế kịch phát [6]. Sinh lý bệnh Có hai giả thuyết được chấp nhận trong cơ chế bệnh sinh của BPPV:  Giả thuyết thứ nhất : “Cupulolithiasis” (sỏi đài tai) - Năm 1969, Harold F Schuknech đã đề xuất giả thuyết Cupulolithiasis hay còn gọi là sỏi đài tai (heavy cupula). Mảnh vỡ sỏi tai dính vào đài tai giải thích cho bệnh chóng mặt tư thế kịch phát lành tính. Qua chụp kính hiển vi ống khám phá ra nhiều hạt phân tử basophilip bám dính vào đài tai (cupula).

Ông thừa nhận mật độ dày của các phân tử này ảnh hưởng đến ống bán khuyên sau. - Giả thuyết này đã phân tích tình huống vật thể nặng bám dính vào đỉnh của cực. Những phân tử trọng lượng quá lớn này làm cho cực dao động do đó 7 cực cứng hơn để giữ tư thế tự nhiên. Thật sự, cực rất dễ ngã về tư thế hướng này hay hướng khác tùy theo vị trí hướng nghiêng.

Khi một tư thế bị nghiêng, trọng lượng phân tử giữa các capula bật lại tư thế tự nhiên. Điều này gây ra nystagmus và giải thích chóng mặt khi bệnh nhân bị nghiêng về phía sau [53].5: Vị trí sỏi đài tai và sỏi ống bán khuyên (tai trái) (Nguồn: Canadian Medical Association journal 2003 [46])  Giả thuyết thứ hai: “Canalithiasis” (sỏi tai trong ống bán khuyên): - Năm 1979, Hall, Ruby và McLure đã công bố giả thuyết Canalithiasis (sỏi ống tai hay sỏi ống bán khuyên). Giả thuyết cho rằng triệu chứng chóng mặt tư thế kịch phát lành tính phù hợp hơn sự di chuyển của sỏi ống bán khuyên trong ống bán khuyên sau hơn là sự bám dính vào cupula. - Trong khi đầu ở tư thế đứng, vị trí của những sỏi tai ống bán khuyên hầu hết phụ thuộc vào trọng lực tư thế.

Khi đầu ở tư thế bị nghiêng ở tư thế ngửa, những phân tử này di chuyển khoảng 90 độ thuộc vòng cung ống bán khuyên sau. Sau một quán tính chậm, trọng lực kéo những phân tử này xuống vòng cung. Đây là nguyên nhân nội dịch di chuyển ra khỏi ampulla (bóng) và là nguyên nhân capula bị lệch hướng. Capula bị lệch hướng gây ra giật nhãn cầu [24].

Hiện tượng này được chứng minh bởi Pane và McClure vào năm 1992 trong khi phẫu thuật. Nguyên nhân chóng mặt tư thế kịch phát lành tính - Hầu hết các trường hợp BPPV là vô căn. Các nguyên nhân thứ phát của BPPV là các nguyên nhân có thể gây ra được hiện tượng vỡ sỏi tai thường gặp nhất là chấn thương đầu. Chúng bao gồm phẫu thuật tai, chấn thương đầu hoặc bất kỳ nguyên nhân nào mà một lực cơ học vừa đủ tác động đến tai trong [64].

Chẩn đoán - Các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh chóng mặt tư thế kịch phát lành tính (BPPV) có thể bao gồm: + Chóng mặt xoay tròn: cảm giác ảo giác về chuyển động của bản thân hoặc môi trường xung quanh khi không có chuyển động thực sự. + Bệnh nhân BPPV có biểu hiện chóng mặt xoay tròn từng cơn kéo dài một phút hoặc vài phút. + Các cơn khởi phát bởi các loại chuyển động cụ thể của đầu, chẳng hạn như nhìn lên khi đứng hoặc ngồi, nằm xuống hoặc đứng dậy khỏi giường và lăn trên giường. + Chóng mặt có thể kết hợp với buồn nôn và nôn [6].

+ Mất thính giác hoặc ù tai thường không có, nhưng có thể gặp ở vài bệnh nhân lớn tuổi [41]. + Không có các triệu chứng thần kinh nào khác. + Khoảng một nửa số bệnh nhân phàn nàn về cảm giác mất thăng bằng, lâng lâng giữa các cơn, ngay cả sau khi điều trị thành công [61]. + Bệnh nhân đang ngủ thức giấc bởi cơn chóng mặt tư thế kịch phát lành tính [61].

+ Ngoài ra trong một đợt bệnh BPPV bệnh nhân có thể than phiền về các triệu chứng đau đầu đặc biệt thường được than phiền nhiều nhất là đau đầu căng thẳng với cường độ trung bình chiếm tỷ lệ 43% [47]. 9 - Khám lâm sàng: Tất cả dấu hiệu khám lâm sàng thần kinh khác như bình thường. Trừ nghiệm pháp nghiệm pháp kích thích tiền đình lặp lại. + Nghiệm pháp Dix-Hallpike là một trong những nghiệm pháp kích thích tiền đình lặp lại được áp dụng chẩn đoán trên bệnh nhân bệnh nhân chóng mặt tư thế kịch phát lành tính và xác định ống bán khuyên bị sỏi tai [6].

+ Cách thực hiện nghiệm pháp Dix-Hallpike [13]: Cho bệnh nhân ngồi quay đầu sang bên trái 450 và nhanh chóng nằm ngửa thấp hơn mặt phẳng 300, quan sát rung giật nhãn cầu có thể xảy ra sau đó khoảng 2-10 giây giữ yên tư thế này 30 giây. Kế tiếp làm tương tự sang bên phải.6: Nghiệm pháp Dix-Hallpike (Nguồn: Handbook of clinical neurology 2016, [42]) - Rung giật nhãn cầu điển hình (Nystagmus- tư thế kịch phát) được Dix- Hallpike miêu tả vào năm 1952 [13]: + Nystagmus được kích thích bằng cách hạ thấp một bên tai. + Pha nhanh là hướng chính của nystagmus. + Nystagmus bắt đầu trễ sau vài giây.

+ Nystagmus thoáng qua thường ít hơn 30 giây. 10 + Chiều nystagmus có thể bị đảo ngược khi đầu trở về tư thế ban đầu. + Có thể chóng mặt dữ dội ở lần khám đầu tiên nhưng khi lặp lại tư thế đó chóng mặt và nystagmus biến mất. - Dựa vào rung giật nhãn cầu để xác định ống bán khuyên bị sỏi tai như sau: + Ống bán khuyên sau: giật nhãn cầu pha nhanh về hướng tay thấp hoặc đánh lên, xoay tròn theo chiều kim đồng hồ [27].

Chiếm tỉ lệ hơn 90% bệnh nhân BPPV [17]. + Ống bán khuyên ngang: giật nhãn cầu theo hướng ngang. Ống bán khuyên ngang phổ biến thứ hai chiếm tỷ lệ khoảng từ 5% đến 22% [6]. + Ống bán khuyên trước: giật nhãn cầu đánh xuống hoặc xoay theo kim đồng hồ nhưng chiều hướng lên tai trên.

Chiếm tỉ lệ rất thấp khoảng 1-2% BPPV có thể do vị trí giải phẫu của ống bán khuyên trước sỏi khó rơi vào [28]. - Chẩn đoán phân biệt: + Hạ huyết áp tư thế: có thể nhầm với BPPV, vì hạ huyết áp tư thế và chóng mặt tư thế kịch phát lành tính xảy ra khi có sự thay đổi tư thế. Tuy nhiên ở hạ huyết áp tư thế miêu tả xây xẩm sắp ngất hơn là chóng mặt. Cảm giác sắp ngất không được gây ra khi lăn trên giường hay khi nằm.

Chẩn đoán hạ huyết áp tư thế bằng cách đo huyết áp khi thay đổi tư thế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu này cung cấp cái nhìn tổng quan về các nghiên cứu y học tại thành phố Cần Thơ, tập trung vào các đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị của nhiều bệnh lý khác nhau. Những nghiên cứu này không chỉ giúp nâng cao hiểu biết về các bệnh lý phổ biến mà còn cung cấp thông tin quý giá cho các bác sĩ và sinh viên y khoa trong việc áp dụng các phương pháp điều trị hiệu quả.

Một trong những nghiên cứu đáng chú ý là 1740 nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và kết quả sớm điều trị sỏi đường mật chính bằng phẫu thuật nội soi tại bv đa khoa tp cần thơ và bv đại học, cung cấp thông tin chi tiết về phương pháp điều trị sỏi mật hiệu quả.

Ngoài ra, 1797 nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và kết quả điều trị sớm áp xe gan amip tại bv đa khoa tp cần thơ bv đa khoa trung ương cần thơ và bv đại học cũng là một tài liệu quan trọng, giúp người đọc hiểu rõ hơn về bệnh lý này và cách điều trị hiệu quả.

Cuối cùng, 1891 nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và đánh giá kết quả sớm trong phẫu thuật trĩ bằng longo tại cần thơ năm 2014 2015 mang đến cái nhìn sâu sắc về phương pháp phẫu thuật trĩ, một vấn đề thường gặp trong y học.

Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức mà còn cung cấp những góc nhìn khác nhau về các phương pháp điều trị, giúp người đọc có thêm thông tin để áp dụng trong thực tiễn.