1740 nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và kết quả sớm điều trị sỏi đường mật chính bằng phẫu thuật nội soi tại bv đa khoa tp cần thơ và bv đại học

Nghiên cứu 1740 ca phẫu thuật nội soi điều trị sỏi đường mật chính tại BV Đa khoa TP Cần Thơ và BV Đại học, phân tích lâm sàng và kết quả sớm.

Chuyên ngành

Bác Sĩ Đa Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Tốt Nghiệp

2015

75
12
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM TẠ

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. DỊCH TỄ SỎI ĐƯỜNG MẬT

1.2. GIẢI PHẪU ĐƯỜNG MẬT

1.3. SINH LÝ BỆNH SỎI ĐƯỜNG MẬT

1.4. CHẨN ĐOÁN SỎI ĐƯỜNG MẬT CHÍNH

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3. CÁCH TIẾN HÀNH

2.4. PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG

3.2. TIỀN SỬ PHẪU THUẬT SỎI ĐƯỜNG MẬT CHÍNH

3.3. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG

3.4. ĐẶC ĐIỂM CẬN LÂM SÀNG TRƯỚC PHẪU THUẬT

3.5. ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT NỘI SOI

3.6. DIỄN TIẾN SAU PHẪU THUẬT

3.7. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

4.2. TIỀN SỬ PHẪU THUẬT SỎI ĐƯỜNG MẬT CHÍNH

4.3. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG

4.4. ĐẶC ĐIỂM CẬN LÂM SÀNG TRƯỚC PHẪU THUẬT

4.5. PHẪU THUẬT NỘI SOI SỎI ĐƯỜNG MẬT CHÍNH

4.6. DIỄN TIẾN SAU PHẪU THUẬT

4.7. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Sỏi Đường Mật và Phẫu Thuật Nội Soi

Sỏi đường mật là bệnh lý ngoại khoa phổ biến, đặc biệt ở khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Khác với các nước phương Tây, sỏi đường mật chính ở Việt Nam thường là sỏi nguyên phát, hình thành tại ống mật chủ. Thành phần chủ yếu là sỏi sắc tố. Tình trạng này thường liên quan đến nhiễm trùng đường mật và giun đũa. Các phương pháp chẩn đoán hiện đại như siêu âm, CT-Scan, và MRCP đã giúp phát hiện bệnh sớm. Điều trị sỏi đường mật bao gồm nhiều phương pháp, trong đó phẫu thuật nội soi lấy sỏi đang ngày càng được ưa chuộng. Mục tiêu chung của các phương pháp là loại bỏ hết sỏi và tái lập lưu thông đường mật. Nghiên cứu này tập trung vào đánh giá đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị sỏi đường mật chính bằng phẫu thuật nội soi tại Cần Thơ.

1.1. Dịch Tễ Học Sỏi Đường Mật So Sánh Quốc Tế và Việt Nam

Ở các nước phương Tây, sỏi đường mật thường là thứ phát từ túi mật, chủ yếu là sỏi Cholesterol. Tại Việt Nam, sỏi đường mật chính chiếm tỷ lệ cao, đặc biệt là sỏi sắc tố. Yếu tố thuận lợi bao gồm nữ giới, độ tuổi 40-60, đời sống kinh tế thấp, ăn uống thiếu đạm và vệ sinh kém. Nghiên cứu của Lê Văn Cường chỉ ra rằng sỏi đường mật chính của người Việt Nam chủ yếu là sỏi sắc tố (79,3%).

1.2. Giải Phẫu Đường Mật Hiểu Rõ Cấu Trúc và Chức Năng

Mật được tiết ra từ tế bào gan, đổ vào các tiểu quản mật trong gan. Sau đó, mật đổ vào ống gan phải và trái, hợp lại thành ống gan chung. Ống gan chung hợp với ống túi mật thành ống mật chủ (OMC). OMC đổ vào nhú tá lớn ở niêm mạc phần xuống tá tràng. OMC có chiều dài khoảng 5-6 cm, đường kính từ 5-6 mm. OMC được chia thành bốn đoạn: trên tá tràng, sau tá tràng, sau tụy và trong thành tá tràng.

II. Thách Thức Chẩn Đoán Sỏi Đường Mật Tam Chứng Charcot

Chẩn đoán sỏi đường mật chính đặt ra nhiều thách thức. Nhiều trường hợp sỏi có thể tồn tại trong đường mật chính mà không gây ra triệu chứng. Tuy nhiên, đa số bệnh nhân có bệnh cảnh điển hình với tam chứng Charcot: đau bụng ở hạ sườn phải, sốt, và vàng da. Các triệu chứng này có thể tái đi tái lại nhiều lần. Nếu không được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời, sỏi đường mật có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng như viêm đường mật, viêm phúc mạc mật, rối loạn đông máu, nhiễm trùng huyết, sốc nhiễm trùng và thậm chí tử vong.

2.1. Triệu Chứng Cơ Năng Sỏi Đường Mật Nhận Biết và Đánh Giá

Cơn đau thường đột ngột, kéo dài từ 12-24 giờ. Vị trí đau thường ở hạ sườn phải hoặc thượng vị, lan lên bả vai phải. Sốt thường xuất hiện sau đau vài giờ (6-12 giờ), sốt cao 39-400C. Vàng da vàng mắt xảy ra sau đau và sốt từ 24-48 giờ. Nước tiểu sẫm màu do có nhiều sắc tố mật. Ngứa là do ứ đọng sắc tố mật.

2.2. Triệu Chứng Thực Thể Khám Lâm Sàng và Nghiệm Pháp Murphy

Da niêm vàng sẽ dễ phát hiện trong những trường hợp rõ ràng. Khám bụng có thể phát hiện gan to và đau, sờ được dưới hạ sườn phải. Mức độ gan to phụ thuộc vào mức độ tắc mật. Có thể sờ chạm túi mật khi nó căng to. Nếu sờ không được thì làm nghiệm pháp Murphy sẽ dương tính.

2.3. Phương Pháp Chẩn Đoán Hình Ảnh Ưu và Nhược Điểm

Siêu âm đường mật giúp ích rất nhiều trong chuẩn đoán các bệnh gan mật, độ chính xác cao (90%), rẻ tiền, chẩn đoán sớm, sử dụng trong cấp cứu. Tuy nhiên, có những hạn chế với những bệnh nhân béo phì hay bị chướng hơi ở ống tiêu hóa. Chụp cắt lớp vi tính (CT-Scan) hiện đại, góp phần chẩn đoán chính xác. Tuy nhiên, phương pháp này được chỉ định khi siêu âm gặp khó khăn.

III. Phẫu Thuật Nội Soi Sỏi Đường Mật Phương Pháp Điều Trị

Phẫu thuật nội soi lấy sỏi đường mật chính là một phương pháp điều trị hiệu quả. Phương pháp này được ứng dụng rộng rãi trên thế giới, nhiều nghiên cứu cho thấy kết quả thành công từ 80-100%. Với phương pháp này, tỷ lệ biến chứng thấp, thời gian nằm viện ngắn hơn so với một số phương pháp khác. Tại Việt Nam, phẫu thuật nội soi qua trocar, mở dọc ống mật chủ lấy sỏi sau đó kiểm tra đường mật bằng nội soi đường mật ngay trong lúc mổ hay chụp kiểm tra đường mật sau mổ đã mang lại nhiều lợi ích.

3.1. Ưu Điểm Phẫu Thuật Nội Soi So Sánh Với Phẫu Thuật Mở

Phẫu thuật nội soi có nhiều ưu điểm so với phẫu thuật mở. Tỷ lệ biến chứng thấp hơn, thời gian nằm viện ngắn hơn, và bệnh nhân phục hồi nhanh hơn. Phẫu thuật nội soi cũng ít gây đau đớn hơn so với phẫu thuật mở.

3.2. Các Bước Thực Hiện Phẫu Thuật Nội Soi Lấy Sỏi Đường Mật

Phẫu thuật nội soi lấy sỏi đường mật thường bao gồm các bước sau: tạo đường vào ổ bụng bằng trocar, xác định vị trí sỏi trong ống mật chủ, mở dọc ống mật chủ để lấy sỏi, kiểm tra đường mật để đảm bảo không còn sỏi sót, và đóng ống mật chủ.

3.3. Biến Chứng và Cách Xử Lý Trong Phẫu Thuật Nội Soi

Biến chứng có thể xảy ra trong phẫu thuật nội soi lấy sỏi đường mật bao gồm chảy máu, nhiễm trùng, viêm tụy cấp, và tổn thương đường mật. Xử lý biến chứng phụ thuộc vào loại và mức độ nghiêm trọng của biến chứng.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Điều Trị Sỏi Đường Mật tại Cần Thơ

Nghiên cứu này tập trung vào việc xác định đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả sớm điều trị sỏi đường mật chính bằng phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ và Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ năm 2014-2015. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin hữu ích để cải thiện chất lượng điều trị sỏi đường mật tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

4.1. Đặc Điểm Lâm Sàng và Cận Lâm Sàng Bệnh Nhân Nghiên Cứu

Nghiên cứu sẽ phân tích các đặc điểm lâm sàng như tuổi, giới tính, tiền sử bệnh, triệu chứng cơ năng và triệu chứng thực thể của bệnh nhân. Nghiên cứu cũng sẽ đánh giá các kết quả cận lâm sàng như xét nghiệm máu, siêu âm, CT-Scan và MRCP.

4.2. Đánh Giá Kết Quả Sớm Điều Trị Phẫu Thuật Nội Soi

Nghiên cứu sẽ đánh giá kết quả sớm điều trị phẫu thuật nội soi dựa trên các tiêu chí như tỷ lệ thành công, tỷ lệ biến chứng, thời gian nằm viện, và chi phí điều trị. Tỷ lệ thành công là số bệnh nhân được loại bỏ hết sỏi và tái lập lưu thông đường mật.

V. Bàn Luận So Sánh Kết Quả Nghiên Cứu Với Các Nghiên Cứu Khác

Kết quả nghiên cứu tại Cần Thơ sẽ được so sánh với các nghiên cứu khác trong và ngoài nước để đánh giá hiệu quả của phẫu thuật nội soi trong điều trị sỏi đường mật. So sánh sẽ giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị và đề xuất các giải pháp cải thiện.

5.1. Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Thành Công Phẫu Thuật Nội Soi

Các yếu tố ảnh hưởng đến thành công của phẫu thuật nội soi bao gồm kích thước và số lượng sỏi, vị trí sỏi, tiền sử phẫu thuật, và kinh nghiệm của phẫu thuật viên. Những bệnh nhân có nhiều sỏi kích thước lớn thường khó điều trị nội soi hơn.

5.2. Hướng Dẫn Phòng Ngừa và Quản Lý Sỏi Đường Mật Hiệu Quả

Phòng ngừa sỏi đường mật bao gồm chế độ ăn uống lành mạnh, tập thể dục thường xuyên, và điều trị các bệnh lý liên quan. Quản lý sỏi đường mật bao gồm theo dõi định kỳ, điều trị triệu chứng, và can thiệp phẫu thuật khi cần thiết. Phòng ngừa tái phát sỏi sau phẫu thuật rất quan trọng.

VI. Kết Luận Triển Vọng Phẫu Thuật Nội Soi Sỏi Đường Mật

Phẫu thuật nội soi lấy sỏi đường mật chính là một phương pháp điều trị hiệu quả và an toàn. Nghiên cứu này cung cấp thêm bằng chứng về lợi ích của phương pháp này. Cần có thêm các nghiên cứu quy mô lớn hơn để đánh giá toàn diện hiệu quả của phẫu thuật nội soi trong điều trị sỏi đường mật và tìm kiếm các phương pháp điều trị sỏi đường mật mới.

6.1. Tầm Quan Trọng Nghiên Cứu và Ứng Dụng Thực Tiễn

Nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị sỏi đường mật có tầm quan trọng lớn trong việc cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân. Kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng trong việc xây dựng phác đồ điều trị sỏi đường mật hiệu quả.

6.2. Đề Xuất Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo về Sỏi Đường Mật

Các hướng nghiên cứu tiếp theo về sỏi đường mật bao gồm nghiên cứu về các yếu tố nguy cơ gây sỏi đường mật, nghiên cứu về các phương pháp phòng ngừa sỏi đường mật, và nghiên cứu về các phương pháp điều trị sỏi đường mật mới.

27/05/2025
1740 nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và kết quả sớm điều trị sỏi đường mật chính bằng phẫu thuật nội soi tại bv đa khoa tp cần thơ và bv đại học

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Sỏi đƣờng mật là bệnh lý ngoại khoa khá phổ biến trên thế giới. Tại các nƣớc phƣơng Tây, sỏi đƣờng mật chính thƣờng thứ phát từ túi mật di chuyển xuống, thành phần chủ yếu là sỏi Cholesterol. Ở các nƣớc Đông Nam Á, cũng nhƣ Việt Nam, sỏi đƣờng mật chính là sỏi nguyên phát thƣờng đƣợc hình thành tại ống mật chủ, thành phần chủ yếu là sỏi sắc tố [17]. Đôi khi, sỏi đƣờng mật chính lại kết hợp với sỏi trong gan hay sỏi túi mật mà nguyên nhân hình thành sỏi thì liên quan đến tình trạng nhiễm trùng đƣờng mật và giun đũa.

Nghiên cứu cho thấy, khi cắt lớp sỏi ống mật chủ và sỏi gan, tỷ lệ trứng giun và xác giun khoảng 15-30%, tỷ lệ nhiễm khuẩn dịch mật khoảng 90-95% [13]. Trƣớc đây, bệnh lý sỏi đƣờng mật thƣờng đƣợc chẩn đoán bằng phƣơng pháp chụp đƣờng mật cản quang. Những năm gần đây, phƣơng pháp này ít đƣợc sử dụng vì ít chính xác, phiền phức và nhiều tai biến [23]. Ngày nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, bệnh lý sỏi đƣờng mật đã đƣợc chẩn đoán dễ dàng với các phƣơng tiện hiện đại nhƣ: Siêu âm, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hƣởng từ mật- tụy, chụp mật tụy ngƣợc dòng,…[6].

Tuy nhiên, nếu không đƣợc chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời, bệnh lý sỏi đƣờng mật dễ dẫn đến các biến chứng: Viêm đƣờng mật, viêm phúc mạc mật, rối loạn đông máu hay nặng hơn là nhiễm trùng huyết, sốc nhiễm trùng… và thậm chí là tử vong [13]. Hiện nay, để điều trị sỏi đƣờng mật có rất nhiều phƣơng pháp: Mổ mở lấy sỏi có hoặc không kèm theo ống dẫn lƣu Kehr, cắt cơ vòng Oddi lấy sỏi qua nội soi mật-tụy ngƣợc dòng, phẫu thuật nội soi lấy sỏi, tán sỏi qua đƣờng hầm Kehr,… Dù thực hiện phƣơng pháp nào thì mục tiêu chung vẫn là lấy hết sỏi và lập lại lƣu thông đƣờng mật. Đầu thập niên 1990, phẫu thuật nội soi điều trị sỏi đƣờng mật chính bắt đầu đƣợc thực hiện [5]. Hiện nay, phẫu thuật nội soi lấy sỏi đã đƣợc ứng dụng rộng rãi trên thế giới, nhiều nghiên cứu cho thấy kết quả thành công từ 80-100% [18], [37].

Với phƣơng pháp này, tỷ lệ biến chứng thấp, thời gian nằm viện ngắn hơn so với 2 một số phƣơng pháp khác. Gần cuối thập niên 2000, tại Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Đại học Y Dƣợc thành phố Hồ Chí Minh, Bệnh viện Việt Đức, phẫu thuật nội soi qua trocar, mở dọc ống mật chủ lấy sỏi sau đó kiểm tra đƣờng mật bằng nội soi đƣờng mật ngay trong lúc mổ hay chụp kiểm tra đƣờng mật sau mổ đã mang lại nhiều lợi ích nhƣ giảm tỷ lệ tử vong, hạn chế sót sỏi và các biến chứng,… [5],[14]. thành phố Trƣờng Đại học Y Dƣợc Cần Thơ Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả sớm điều trị sỏi đƣờng mật chính bằng phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ và Bệnh viện Trƣờng Đại học Y Dƣợc Cần Thơ năm 2014-2015”. Đề tài đƣợc thực hiện với những mục tiêu: 1.

Mục tiêu tổng quát: Xác định đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả sớm điều trị sỏi đƣờng mật chính bằng phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ và Bệnh viện Trƣờng Đại học Y Dƣợc Cần Thơ năm 2014-2015. Mục tiêu chuyên biệt:  Xác định một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng sỏi đƣờng mật chính tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ và Bệnh viện Trƣờng Đại học Y Dƣợc Cần Thơ.  Đánh giá kết quả sớm điều trị sỏi đƣờng mật chính bằng phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ và Bệnh viện Trƣờng Đại học Y Dƣợc Cần Thơ. 3 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

DỊCH TỄ SỎI ĐƢỜNG MẬT 1. Trên thế giới Ở các nƣớc phƣơng Tây bệnh lý sỏi mật chiếm 15% ở ngƣời lớn tuổi, trong đó 80% sỏi đƣợc hình thành trong túi mật sau đó đi qua ống túi mật rơi vào ống mật chủ, chủ yếu là sỏi Cholesterol [13],[32]. Tại Pháp, có 3-4 triệu ngƣời mắc bệnh lý sỏi túi mật.000 ngƣời phải cắt bỏ túi mật [31]. Ở Mỹ có trên 20 triệu ngƣời bị sỏi mật và khoảng 70.000 ngƣời phải cắt bỏ túi mật mỗi năm [32].

Trong nƣớc Vào những năm trƣớc, tỷ lệ sỏi ống mật chủ rất cao chiếm 80-90% trong số bệnh nhân mổ sỏi mật. Các năm gần đây, với sự ra đời của các phƣơng tiện chẩn đoán hiện đại nhƣ siêu âm, CT-Scan và đời sống kinh tế có sự phát triển đã làm thay đổi đáng kể tỷ lệ vị trí sỏi. Lý do chính có lẽ do siêu âm đã trở thành phƣơng tiện chẩn đoán bệnh gan mật phổ biến, đã phát hiện nhiều trƣờng hợp sỏi túi mật không triệu chứng. Do đó, tỷ lệ sỏi túi mật tăng lên rất nhiều 50-60% và tỷ lệ sỏi ống mật chủ giảm xuống 30-40%.

Yếu tố thuận lợi để tạo sỏi: Nữ giới gặp nhiều hơn gấp đôi so với nam giới, tuổi từ 40 đến 60, đời sống kinh tế thấp, ăn uống thiếu đạm và vệ sinh kém [13]. Dựa theo kết quả nghiên cứu của tác giả Lê Văn Cƣờng, sỏi đƣờng mật chính của ngƣời Việt Nam có thành phần hóa học chủ yếu là sỏi sắc tố 79,3%, sỏi hỗn hợp là 17,2% và sỏi Cholesterol là 3,4% [11]. GIẢI PHẪU ĐƢỜNG MẬT Mật đƣợc tiết ra từ tế bào gan đổ vào các tiểu quản mật trong gan. Tiếp theo đó mật sẽ đổ vào ống gan phải và trái ở ngoài gan.

Hai ống gan này hợp lại thành ống gan chung chạy trong cuống gan. Ống gan chung dài 3 cm, đƣờng kính 5 mm, khi 4 tới bờ trên tá tràng, hợp với ống túi mật thành một ống chung gọi là ống mật chủ (OMC). Ống mật chủ đi từ bờ trên tá tràng tới sau phần trên tá tràng, rồi lách sau tụy, đổ vào nhú tá lớn ở niêm mạc phần xuống tá tràng. Ở nhú tá lớn OMC đổ vào bóng gan tụy.

OMC có chiều dài khoảng 5-6 cm, đƣờng kính từ 5-6 mm, nơi hẹp nhất ở bóng gan tụy có đƣờng kính khoảng 3 mm. OMC đƣợc chia thành bốn đoạn [32]: Đoạn trên tá tràng: OMC nằm ngay trong cuống gan, liên quan bên trái với động mạch gan riêng và phía sau tĩnh mạch cửa. Đoạn sau tá tràng: Dài từ 10-25mm, OMC đi sau phần trên của tá tràng. Đoạn sau tụy: Dài khoảng 20 mm, OMC xẻ sau đầu tụy một rãnh càng xuống dƣới càng sâu.

Đoạn trong thành tá tràng: Dài từ 10-15 mm, OMC chui vào trong thành tá tràng ở phần xuống nơi nối 1/3 dƣới với 2/3 trên chạy xuyên qua các lớp của thành tá tràng tạo với ống tụy Wirsung mọt ống chung (85% các trƣờng hợp) [26],[31]. SINH LÝ BỆNH SỎI ĐƢỜNG MẬT 1. Cơ chế hình thành sỏi Theo Tôn Thất Tùng và nhiều tác giả trong nƣớc đều xác nhận sỏi OMC ở Việt Nam có những đặc tính riêng đặc trƣng cho khu vực nhiệt đới. Sỏi đƣợc hình thành tại chỗ liên quan nhiễm trùng đƣờng mật và giun đũa, thành phần cấu tạo là sắc tố mật và muối mật.

Vi khuẩn đƣờng ruột theo giun đũa lên đƣờng mật qua cơ vòng Oddi hay từ ruột vào máu theo hệ cửa về hệ thống gan mật. Những vi khuẩn này, chủ yếu là E. Coli sản xuất ra men β-Glucuronidase ngoại sinh, phá vỡ sự kết hợp của Bilirubin diglucuronide thành Bilirubin tự do, sau đó kết hợp với Calcium tạo thành Calcium Bilirubinate dƣới dạng sỏi bùn và sỏi vụn. Các loại sỏi này ban đầu có thể trôi qua cơ vòng Oddi xuống tá tràng một cách dễ dàng.

Nhƣng nếu quá trình trên xảy ra thƣờng xuyên và lặp đi lặp lại thì những sỏi vụn có thể trở thành sỏi viên với số lƣợng ngày càng nhiều, với nhân sỏi là xác giun, trứng giun hay mảng niêm mạc ống mật tróc ra do quá trình viêm hoại tử. Khi bệnh kéo dài, tái đi tái lại, quá trình viêm xơ phát triển làm ống mật hẹp lại. Cuối cùng ống mật bị dãn rộng phía trên chỗ hẹp, chứa đầy sỏi bị kẹt lại tạo thành túi sỏi. Một yếu tố khác là tình trạng suy dinh dƣỡng, thiếu đạm của bệnh nhân làm giảm thiểu Glucaro-1,4-Lactone trong dịch mật.

Đây là một men đƣợc sản xuất ở gan từ Glucuronide, bình thƣờng có tác dụng ức chế β-Glucuronidase, khi có sự mất cân bằng giữa hai men này sẽ tăng nguy cơ tạo sỏi [13]. Theo Đỗ Kim Sơn, có các thuyết tạo sỏi nhƣ sau: * Thuyết nhiễm trùng: Do vi khuẩn tấn công làm tổn thƣơng thành đƣờng mật, làm đảo lộn cấu trúc mật và các tế bào viêm loét bong vào dịch mật, các muối Calci cùng các tổ chức hoại tử và các sắc tố mật kết tủa và hình thành sỏi. * Thuyết nhiễm ký sinh trùng: Ký sinh trùng đƣờng mật chủ yếu là giun đũa, khi chui lên ống mật mang theo cả trứng giun hoặc cả bản thân con giun bị mắc kẹt và chết trong đƣờng mật, để lại các mảnh vỏ xác, tạo nòng cốt cho sắc tố mật lắng đọng, bám vào ngày càng nhiều dần dần hình thành viên sỏi. 6 * Thuyết chuyển hóa và tăng Cholesterol máu: Gặp ở bệnh nhân béo phì, đái tháo đƣờng, thiểu năng giáp trạng, phụ nữ mang thai,… lƣợng Cholesterol tăng cao dẫn đến hình thành sỏi mật [23].2 Các yếu tố hình thành sỏi OMC Sỏi OMC phát triển trực tiếp từ ống mật chủ, nhất là ở cơ vòng Oddi và bóng Vater, cũng có thể trên gan hoặc túi mật rơi xuống [31].

- Theo nghiên cứu tại Bệnh viện Trung ƣơng Quân Đội 108 từ tháng 1/1990 đến tháng 12/2003, trong 828 bệnh nhân đƣợc mở OMC lấy sỏi có 261 bệnh nhân sỏi OMC đơn thuần, 184 bệnh nhân sỏi OMC kết hợp sỏi túi mật và 118 bệnh nhân có sỏi OMC kết hợp sỏi trong gan [10]. - Tổng kết tại Bệnh viện Đại học Y Dƣợc thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 4/1999 đến tháng 4/2004, thực hiện 173 phẫu thuật nội soi lấy sỏi đƣờng mật chính, trong đó có 107 trƣờng hợp sỏi OMC kèm sỏi mật, chiếm tỷ lệ 61,8% và 52 trƣờng hợp sỏi OMC kèm sỏi trong gan, tỷ lệ 30,1% [33]. - Tại Bệnh viện Việt Đức từ tháng 2/2000 đến tháng 11/2005, trong tổng số 93 bệnh nhân phẫu thuật nội soi điều trị sỏi đƣờng mật chính có 61 bệnh nhân có sỏi OMC đơn thuần, chiếm tỷ lệ 65,59% và 6,45% sỏi OMC kèm sỏi trong gan [4]. Đặc điểm sỏi đƣờng mật chính Phân loại sỏi dựa vào thành phần chiếm ƣu thế trong sỏi, gồm có: Sỏi Cholesterol và sỏi sắc tố.

7 - Sỏi Cholesterol: Sỏi có định lƣợng Cholesterol chiếm trên 50% trọng lƣợng viên sỏi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng và Kết Quả Điều Trị Sỏi Đường Mật Chính Bằng Phẫu Thuật Nội Soi Tại Cần Thơ" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân mắc sỏi đường mật chính và hiệu quả của phương pháp phẫu thuật nội soi trong điều trị. Nghiên cứu này không chỉ giúp các bác sĩ và chuyên gia y tế hiểu rõ hơn về tình trạng bệnh mà còn cung cấp thông tin quý giá về kết quả điều trị, từ đó nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các nghiên cứu liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu 1810 nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và kết quả điều trị phẫu thuật tắc ruột do dính bằng phẫu thuật nội soi tại địa bàn tp cần thơ năm 2014, nơi cung cấp thông tin về phẫu thuật nội soi trong điều trị tắc ruột. Bên cạnh đó, tài liệu 1797 nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và kết quả điều trị sớm áp xe gan amip tại bv đa khoa tp cần thơ cũng sẽ giúp bạn hiểu thêm về các phương pháp điều trị khác trong lĩnh vực ngoại khoa. Cuối cùng, tài liệu 1961 nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị viêm túi mật cấp bằng phẫu thuật nội soi tại bv đại học y dược cần thơ sẽ cung cấp thêm thông tin về điều trị viêm túi mật, một chủ đề liên quan mật thiết đến sỏi đường mật. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp điều trị trong lĩnh vực này.