ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm ruột thừa cấp là cấp cứu ngoại khoa thƣờng gặp nhất trong các bệnh lý ngoại khoa vùng bụng, bệnh có thể gặp cả nam lẫn nữ và ở mọi lứa tuổi, gặp nhiều nhất ở tuổi thanh thiếu niên, khoảng 70% bệnh nhân viêm ruột thừa cấp dƣới 30 tuổi, trong đó có phụ nữ mang thai. Đây là cấp cứu ngoại khoa thƣờng gặp nhất ở bệnh nhân có thai. Viêm ruột thừa cấp ở phụ nữ mang thai chiếm tỷ lệ 1/1500, xuất độ tƣơng đƣơng ở cả ba tam cá nguyệt. Tỷ lệ mổ bụng trắng lên đến 20 - 35%, trong đó tỷ lệ này chỉ khoảng 5 - 10% ở bệnh nhân cùng nhóm tuổi này không mang thai.
Có sự khó khăn trong chẩn đoán là do: các triệu chứng cơ năng nhƣ chán ăn, buồn nôn - nôn cũng gặp khi có thai; vị trí ruột thừa thay đổi khi thai to, trong tam cá nguyệt giữa ruột thừa sẽ bị đẩy lên ngang rốn và có thể lên hạ sƣờn phải khi thai ở tam cá nguyệt cuối; phản ứng thành bụng và co cứng không rõ khi thai to do cơ thành bụng căng dãn. Các xét nghiệm về máu và nƣớc tiểu không đáng tin cậy, có hạn chế sử dụng các phƣơng tiện chẩn đoán nhƣ X - quang, chụp cắt lớp vi tính,. Ổ nhiễm trùng cạnh tử cung kích thích làm xuất hiện các cơn co tử cung. Mặt khác, sự tăng cao các hormone sinh dục (steroid) làm thay đổi đáp ứng bình thƣờng đối với quá trình viêm, làm giảm khả năng khu trú ổ viêm nhiễm.
Những thay đổi sinh lý, hormone của thời kỳ thai nghén cũng làm cho phản ứng và co cứng của thành bụng không còn rõ ràng, gây khó khăn cho chẩn đoán [4], [6], [8], [21]. Viêm ruột thừa ở phụ nữ mang thai đặt bác sĩ lâm sàng vào một trong những tình huống chẩn đoán, điều trị khó khăn. Mặc khác vấn đề quyết định phẫu thuật hay không phẫu thuật cũng là một quyết định khó khăn vì nếu để ruột thừa vỡ gây biến chứng thì tỷ lệ sẩy thai, sanh non, các biến chứng khác càng tăng lên [8], [21]. 10 Vì thế, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng bệnh viêm ruột thừa ở phụ nữ có thai tại khoa ngoại các bệnh viện trên địa bàn thành phố Cần Thơ năm 2014 - 2015” với hai mục tiêu sau: - Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng bệnh lý viêm ruột thừa ở phụ nữ có thai tại khoa ngoại các bệnh viện trên địa bàn thành phố Cần Thơ.
- Đánh giá kết quả điều trị sớm bệnh viêm ruột thừa ở phụ nữ có thai. 11 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về viêm ruột thừa Từ năm 1581, có một số báo cáo mô tả một bệnh lý gây tử vong đặc trƣng bởi viêm mủ vùng quanh manh tràng và gọi là “viêm quanh manh tràng” (perityphlytis). Năm 1736, Amyand mổ thành công trƣờng hợp ruột thừa nằm trong túi thoát vị, bị đâm thủng do một cái kim. Năm 1886, Reginald Fitz lần đầu tiên mô tả bệnh lý viêm ruột thừa cấp nhƣ một thực thể lâm sàng - giải phẫu bệnh.
Seen là phẫu thuật viên đầu tiên chẩn đoán đƣợc bệnh viêm ruột thừa khi ruột thừa viêm chƣa thủng, mổ cắt ruột thừa, bệnh nhân khỏi [1], [11]. Năm 1889, Charles Mac Burney, phẫu thuật viên ngƣời Mỹ, mô tả triệu chứng lâm sàng của viêm ruột thừa, tên tuổi ông gắn liền với bệnh này. Điểm Mac Burney mà ông mô tả năm 1889 là điểm đau của viêm ruột thừa. Đƣờng Mac Burney mà ông mô tả năm 1894 là đƣờng mổ ở hố chậu phải xé cơ thành bụng để vào xoang bụng cắt ruột thừa [10], [11], [19].1 Đặc điểm giải phẫu học Ruột thừa hình con giun dài từ 3 - 12 cm, trung bình 8 cm.
Đƣờng kính khoảng 5 - 6 mm, lòng ruột thừa hẹp, dung tích lòng ruột thừa 0,1 - 0,6 ml. Ruột thừa thông với manh tràng qua lỗ ruột thừa đƣợc đậy bởi một van còn gọi là van Gerlach. Ruột thừa do phần đầu manh tràng thoái hóa. Gốc ruột thừa dính vào mặt sau trong của manh tràng, cách phía dƣới gốc hồi manh tràng 2 - 3 cm, nơi hội tụ của 3 dải cơ dọc của manh tràng [3], [11].
Ruột thừa thƣờng nằm ở hố chậu phải, tuy nhiên theo sự quay nụ manh tràng lúc phôi thai mà có thể gặp ruột thừa ở những vị trí bất thƣờng khác nhƣ ở dƣới gan, tiểu khung, hố chậu trái,. Ruột thừa đƣợc Trève mô tả xoay quanh manh tràng nhƣ mặt kim đồng hồ. 12 Pierre De Matos nhận thấy các vị trí thƣờng gặp trong viêm ruột thừa: Bình thƣờng: 40% Sau manh tràng: 30% Sau hồi tràng: 20% Tiểu khung: 10% Hình 1.1 Các thay đổi vị trí của ruột thừa 1. Vị trí trƣớc hồi tràng; 2.
Vị trí sau hồi tràng; 3. Vị trí ngang gò nhô; 4. Vị trí trong chậu hông bé; 5. Vị trí dƣới manh tràng; 6.
Vị trí cạnh và trƣớc manh tràng; 7.Vị trí sau manh tràng. Nguồn “Appendix”, Maingot’s Abdominal operations, 12th Edition [3], [27] Trong trƣờng hợp ở vị trí bình thƣờng, ruột thừa nằm phía trong manh tràng và ngoài các quai ruột non, trƣớc hố chậu và bó mạch chậu ngoài, sau thành bụng trƣớc. Trên thành bụng, gốc ruột thừa chiếu lên điểm nằm giữa đƣờng nối từ gai chậu trƣớc trên bên phải đến rốn, tƣơng đƣơng với điểm Mac Burney. Thành của ruột thừa cũng nhƣ các đoạn khác của đại tràng gồm có 4 lớp: Niêm mạc, dƣới niêm, cơ và thanh mạc.
Niêm mạc ruột thừa có nhiều nang bạch huyết, nhiều đến nỗi có ngƣời xem ruột thừa nhƣ một tuyến hạnh nhân. Trong lòng ruột thừa thƣờng có ít chất nhầy do tuyến niêm mạc tiết ra, có thể chứa một ít phân hoặc sỏi phân. 13 Thanh mạc ruột thừa dính vào lớp cơ, nhƣng có thể tách ra đƣợc khi ruột thừa bị viêm. Vì thế có thể cắt ruột thừa dƣới thanh mạc, tránh tách thanh mạc ruột thừa khi thanh mạc này dính vào các phúc mạc lân cận.2 Cấu tạo ruột thừa Nguồn Nguyễn Quang Quyền, Frank H.Netter (2009) [22] Thành ruột thừa lúc bình thƣờng thì dày, nhƣng lúc có nhiều mủ hay có sạn phân gây tắc nghẽn thì phồng to, căng và dãn mỏng nên dễ vỡ.
Vì thế khi mổ không nên cặp ruột thừa bằng kìm để kéo ra mà phải tách bằng tay nhẹ nhàng. Thành của manh tràng (trừ các dải cơ dọc) mỏng và dễ rách, nên trong thủ thuật cắt bỏ ruột thừa cũng phải tránh cặp bằng kìm có răng vào manh tràng, tránh làm dập nát và gây ra lỗ rò. Mạc treo: Ruột thừa cũng đƣợc bọc kín bởi phúc mạc và đƣợc treo vào manh tràng và hồi tràng bởi một mạc treo gọi là mạc treo ruột thừa. Mạc treo ruột thừa có hình tam giác, bên trong có mạch máu và thần kinh của ruột thừa.
Bệnh nhân gầy, mạc treo ruột thừa thƣờng mỏng, trong lúc mổ dễ quan sát thấy động mạch ruột thừa, nhờ đó việc tách và kẹp động mạch dễ dàng. Nếu mạc treo dài, ruột thừa thƣờng thẳng và dễ tách, nếu mạc treo ngắn ruột thừa thƣờng bị gấp hay xoắn ốc, nên khó tách hơn và thƣờng phải cắt mạc treo trƣớc khi cắt ruột thừa. 14 Khi dính chậm và ít, manh tràng di động rất dễ dàng trong ổ bụng. Khi dính nhanh và nhiều thì manh tràng dính vào thành bụng sau giống nhƣ đại tràng lên, vì vậy ruột thừa thƣờng dính vào thành bụng bên.
Có khi manh tràng bị trật hẳn ra sau phúc mạc, mặt sau không có phúc mạc bọc (áp ngay thành bụng sau), muốn thấy ruột thừa phải rạch phúc mạc ngay trên thành của manh tràng nên rất nguy hiểm [3], [7].3 Hình thể ngoài ruột thừa và manh tràng Nguồn Nguyễn Quang Quyền, Frank H.Netter (2009) [22] Tóm lại: Phẫu thuật cắt ruột thừa dễ hay khó tùy theo tình trạng manh tràng và ruột thừa dính nhiều hay ít. Manh tràng di động thì cắt ruột thừa dễ, manh tràng dính thì cắt ruột thừa khó khăn. Manh tràng nằm sau phúc mạc, cắt ruột thừa càng khó hơn và có khi nguy hiểm. Động mạch ruột thừa là một nhánh của động mạch hồi - manh đại tràng, là một nhánh của động mạch mạc treo tràng trên xuất phát từ động mạch chủ bụng.
Cung cấp máu cho ruột thừa đôi khi còn có thêm một nhánh động mạch phụ xuất phát từ động mạch manh tràng sau. Tĩnh mạch ruột thừa đổ vào tĩnh mạch hồi tràng, tiếp tục đổ vào tĩnh mạch mạc treo tràng trên rồi về tĩnh mạch cửa. Thần kinh của ruột thừa là hệ thần kinh tự động, không đƣợc phân bố từ những sợi cảm giác đau. Do không có các sợi thần kinh cảm giác đau nên khó xác định đƣợc triệu chứng cho đến khi ruột thừa bị viêm kích thích phúc mạc.2 Đặc điểm sinh lý ruột thừa Các nghiên cứu cho thấy ruột thừa có 3 chức năng chính.
+ Chức năng miễn dịch: Gorgollon cho rằng ruột thừa là tổ chức lympho phát triển với chức năng miễn dịch. Fichtelius xem ruột thừa nhƣ là cơ quan bạch huyết trung tâm, liên quan đến quá trình trƣởng thành của tế bào lympho B. + Chức năng bảo vệ: E.Sinhennhicốp và Gross cho rằng ruột thừa có nhiều đám bạch huyết đóng một vai trò quan trọng trong chức năng bảo vệ cơ thể chống lại vi trùng. Chức năng phòng chống nhiễm trùng của ruột thừa có sự đóng góp của hệ thống bạch huyết ở ruột thừa cũng không kém phần quan trọng nhƣ chức năng của hệ thống bạch huyết ở cổ họng của Amygdale.
+ Chức năng tiêu hóa: Ruột thừa tiết ra chất dịch kiềm, gồm các men nhƣ: Amylaza, Pepsin và chất nhầy. Trong 24 giờ ruột thừa ngƣời trƣởng thành tiết ra khoảng 2 ml dịch nhầy, Amylaza và các men tiêu hóa protid [4], [6], [14].2 Nguyên nhân và bệnh sinh 1.1 Nguyên nhân - Tắc lòng ruột thừa là nguyên nhân gây ra viêm ruột thừa thƣờng thấy nhất. Nhiều tác giả cho rằng trên 70% viêm ruột thừa là do nguyên nhân tắc lòng ruột thừa. Các nguyên nhân gây tắc nghẽn gồm: + Do phì đại các nang bạch huyết, chiếm 60% các trƣờng hợp.
Các nang bạch huyết dƣới niêm mạc phì đại do đáp ứng tại chỗ (nhiễm trùng đƣờng ruột do Salmonella, Shingella .) đối với các nhiễm trùng gây phản ứng tăng bạch cầu. + Ứ đọng sạn phân trong lòng ruột thừa, chiếm 35% các trƣờng hợp. - Bệnh viêm ruột thừa rất cần đƣợc chẩn đoán sớm và mổ sớm trƣớc 24 giờ, vì nếu để muộn khi ruột thừa đã vỡ gây viêm phúc mạc thì trƣớc mắt là bệnh trở nên nặng nề hơn và nguy cơ tắc ruột do dính sau mổ [11], [14].1 Ruột thừa viêm Tuy lòng ruột thừa bị tắc nhƣng quá trình bài tiết của niêm mạc ruột thừa vẫn tiến triển.