Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược giải phẫu, sinh lý của ổ bụng liên quan đến tắc ruột do dính 1.1 Giải phẫu Phúc mạc hay màng bụng là một màng thanh mạc trơn láng và óng ánh che phủ tất cả các thành ổ bụng, bao bọc các tạng thuộc hệ tiêu hóa và che phủ phía trước hay phía trên các tạng thuộc bộ tiết niệu sinh dục. - Lá phúc mạc là một màng liên tục gồm có hai phần: + Phúc mạc thành là phần phúc mạc lót mặt trong thành bụng. + Phúc mạc tạng là phần phúc mạc bao bọc mặt ngoài các tạng. - Liên tiếp giữa phúc mạc thành và phúc mạc tạng là các mạc treo, mạc nối, mạc chằng, mạc dính [19].
- Xoang phúc mạc là một xoang ảo, chứa 75-100ml dịch vàng trong, có chứa nhiều protein, đảm bảo độ trơn láng của phúc mạc [17].2 Mô học Về mặt tổ chức học, phúc mạc được cấu tạo bởi hai lớp: - Lớp thanh mạc: được cấu tạo bởi một lớp tế bào thượng mô hình vảy làm cho phúc mạc rất trơn láng và óng ánh. Mặt khác chính lớp thượng mô này luôn tiết ra một lớp dịch mỏng làm thấm ướt phúc mạc. Nhờ đó mà bề mặt phúc mạc luôn tiếp xúc trực tiếp với nhau nhưng lại trượt lên nhau rất dễ dàng, tạo điều kiện cho các tạng di động không có sự ma sát trong ổ bụng. Vì vậy khi lớp thượng mô hình vảy này bị tổn thương do viêm nhiễm hay bị chấn thương làm trầy xát thì các tạng rất dễ bị dính với nhau hoặc dính vào thành bụng.
- Lớp dưới thanh mạc: là lớp mô sợi liện kết, lớp này có độ đàn hồi cao. Nhờ lớp sợi liên kết này mà phúc mạc có độ chắc chắn và đàn hồi cao [19].3 Sinh lý lá phúc mạc Phúc mạc có nhiều chức năng sinh lý rất phức tạp: - Chức năng cơ học: phúc mạc lót mặt trong ổ bụng và bao bọc các tạng để che chở 4 các tạng và làm cho thành của các tạng vững chắc thêm. Nhờ đặc tính trơn láng giúp cho các tạng di động dễ dàng trong ổ bụng, giảm thiểu sự ma sát. Khi phúc mạc bị viêm, tính trơn láng bị mất gây dính phúc mạc (nguyên nhân của tắc ruột).
- Chức năng bảo vệ: phúc mạc có vai trò đề kháng với sự nhiễm trùng. Khi có nhiễm trùng thì phúc mạc có khuynh hướng làm tường vây quanh để khu trú ổ nhiễm trùng hay tổn thương. - Chức năng trao đổi chất: phúc mạc có tính hấp thu nhanh rất nhanh nhờ có diện tích bề mặt rộng. Bình thường trong khoang phúc mạc có một lớp dịch mỏng giữa các tạng, có tác dụng làm cho các tạng trượt lên nhau một cách dễ dàng.
Khi bị chấn thương hay nhiễm trùng, phúc mạc tiết dịch. - Cảm giác của phúc mạc tùy theo vùng của các lá phúc mạc + Phúc mạc thành bụng trước: nhạy cảm nhất do được chi phối bởi sáu đôi dây thần kinh ngực dưới cùng, cho cảm giác thụ thể vị trí. + Phúc mạc thành bụng sau và ở tiểu khung nhạy cảm kém hơn. + Phúc mạc tạng gần như vô cảm nhưng cũng có thể nhận biết được nếu những kích thích gây ra đủ mạnh và kéo dài; thường phúc mạc tạng bị kích thích do sự căng dãn thành ống tiêu hóa hay do áp lực trong các mô tăng lên khi có viêm nhiễm [17], [19].2 Phân khu ổ bụng Các nếp phúc mạc phân chia ổ bụng ra từng khu làm cho mủ đọng lại trong khu hay làm cô lập một vùng phúc mạc bị viêm.
- Mạc nối lớn và các mạc nối khác quây ở trong ổ phúc mạc lớn một hậu cung gọi là hậu cung mạc nối hay túi mạc nối. - Mạc treo kết tràng ngang chia ổ phúc mạc ra làm hai tầng: tầng trên và tầng dưới mạc treo kết tràng ngang. Hai tầng này có cấu tạo và tính chất bệnh lý khác hẳn nhau. Ở tầng trên các tạng như gan, dạ dày, lách, tá tràng, tụy đều quây quanh túi mạc nối.
Ở tầng dưới có mạc treo ruột non chạy chếch từ trái sang phải, chia ổ phúc mạc ở tầng dưới ra làm hai khu phải và trái [19].1 Giải phẫu học Ruột non là phần ồng tiêu hóa giữa dạ dày và ruột già, từ môn vị đến lỗ hồi manh tràng, chiếm phần lớn ổ bụng, phía dưới mạc treo kết tràng ngang. Ruột non dài từ 5,5-9m, trung bình là 6,5m, gồm ba phần chính: tá tràng, hỗng tràng, hồi tràng. - Tá tràng: là phần đầu của ruột non đi từ môn vị đến góc tá hỗng tràng, dài khoảng 25cm. - Hỗng tràng và hồi tràng: không có ranh giới rõ rệt tuy nhiên cũng có một số điểm khác biệt: đường kính hỗng tràng lớn hơn hồi tràng và các quai hỗng tràng nằm ngang phía trên và bên trái ổ bụng, còn các quai hồi tràng nằm dọc bên phải và phía dưới [20].2 Mô học Từ ngoài vào trong, ruột non có 5 lớp: thanh mạc, lớp dưới thanh mạc, lớp cơ, lớp dưới niêm mạc, niêm mạc [20].3 Sinh lý ruột non Hai loại co cơ của ống tiêu hóa Một là, co liên tục, cử động đẩy: - Là hiện tượng co cơ kéo dài nhiều phút, có thể nhiều giờ.
- Các co cơ dọc co liên tục giúp điều hòa sự di chuyển của thức ăn dọc theo ống tiêu hóa, với vận tốc thích hợp cho sự tiêu hóa và sự hấp thu thức ăn. - Cử động đẩy căn bản là nhu động ruột. Nhu động xuất hiện tại bất cứ nơi nào của ruột bị kích thích: thông thường nhất là căng thành ruột, có thể do đụng chạm, do kích thích hệ phó giao cảm hoặc khi có cảm xúc mạnh. - Cử động đẩy gây ra bởi: tính lặp lại của các sóng nhọn với các tần số và biên độ cao hơn, hormon hoặc các yếu tố khác làm khử cực liên tục màng cơ trơn của ruột.
- Phản nhu động ruột: đẩy ngược sóng nhu động, tác dụng nhào trộn và làm tăng quá trình tiêu hóa và hấp thu ở ruột. Hai là, co ngắt quãng, cử động co thắt: 6 - Do lớp cơ vòng của ruột tạo ra. Điển hình là các sóng trộn, giúp nhào trộn thức ăn với dịch tiêu hóa. Cử động nhào trộn rất khác nhau ở những đoạn khác nhau của ống tiêu hóa.
- Ở một số nơi, chính nhu động cũng giữ vai trò nhào trộn thức ăn, nhất là khi gặp các cơ vòng co thắt, thì nhu động không đẩy tới được nên phải đẩy lui, mang tính chất nhào trộn. Các loại cử động của ruột non - Nhào trộn: khi dưỡng chấp làm căng một đoạn ruột non, sẽ gây ra những co thắt tại chỗ, mỗi co thắt dài khoảng 1cm nên chia ruột thành những đoạn cách quãng nhau. Chúng xuất hiện vào khoảng 12 lần/phút ở tá tràng và 8 lần/phút ở hồi tràng. Các cử động này giúp dưỡng chấp được nhào trộn kỹ với dịch tiêu hóa và tiếp xúc với diện tích hấp thu của ruột non.
Tần số cao hơn ở tá tràng giúp đẩy dưỡng chấp về phía hồi tràng. - Nhu động: nhu động ruột non thường rất yếu, chỉ đẩy được dưỡng chấp với tốc độ 1cm/phút nên phải mất 3-5 giờ dưỡng chấp mới đi qua hết được ruột non. - Cử động lúc đói: các sóng co thắt lưu động xuất hiện ở dạ dày lúc đói, lan truyền từ dạ dày xuống ruột non, khoảng 60-69 phút một lần. Chúng có vai trò đẩy các dịch tiêu hóa dư thừa vào ruột già và đồng thời cũng ngăn chặn sự trào ngược các vi khuẩn từ ruột già về ruột non [11].2 Sinh lý bệnh của tắc ruột 1.1 Rối loạn tại chỗ Vì lòng ruột bị tắc nghẽn nên các chất chứa đựng trong lòng ruột không lưu thông được, ứ trệ lại làm ruột dãn dần ra, chướng dần lên phía trên chỗ tắc.
Trong tắc ruột do nghẹt, thành ruột không được cung cấp máu, chỉ sau vài ba giờ các tổn thương của thành ruột diễn tiến rất nhanh đến họai tử ruột [21].2 Rối loạn toàn thân Nôn làm cho bệnh nhân mất nước và các chất điện giải. Một người nặng 50kg, khối lượng dịch tiêu hóa mỗi ngày được ước tính tổng cộng 7-8 lít. Khi lòng ruột lưu thông bình thường, khối lượng này được hấp thu trở lại và trong phân chỉ còn từ 7 100-200ml dịch. Nôn ra ngoài, ứ đọng trong lòng ruột, thoát huyết tương vào trong khoang phúc mạc làm cho bệnh nhân tắc ruột mất nước, điện giải, huyết tương.
Vai trò của vi khuẩn càng rõ rệt hơn trong tắc ruột thắt nghẽn [21].3 Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của dính trong ổ bụng Bệnh sinh của dính ruột được nghiên cứu nhiều. Trước đây bao giờ cũng xem tổn thương phúc mạc là khởi điểm, tiếp đến là tạo nút fibrin bao phủ tổn thương, sau cùng là hiện tượng ly giải fibrin vốn xảy ra từ ngày thứ ba sau tổn thương. Nếu quá trình ly giải fibrin không đủ, các nguyên bào sợi sẽ phát triển trên cơ sở khung fibrin còn tồn tại và tạo mô xơ kết nối hai bề mặt tạng, dính được tạo thành. Gần đây, nhiều nghiên cứu đi sâu vào nghiên cứu sự tạo dính ở mức độ phân tử cho rằng dính liên quan đến ba quá trình: (1) Ức chế hệ thống hủy fibrin; (2) Đáp ứng viêm gây phóng thích cytokines và yếu tố tăng trưởng β (TGF- β1), chất điều hòa chính của quá trình xơ hóa mô và (3) Thiếu oxy mô do quá trình gián đoạn máu nuôi đến các tế bào trung mô và các nguyên bào sợi dưới lớp tế bào trung mô, dẫn đến tăng biểu hiện của yếu tố gây thiếu oxy 1α (hypoxia-induced factor- 1α) và yếu tố tăng trưởng nội mạch (vascular endothelial growth factor) vốn chịu trách nhiệm cho sự tạo collagen và sinh mạch (angiogenesis) [3].4 Chẩn đoán tắc ruột do dính Đa phần bệnh nhân nhập viện với bệnh cảnh lâm sàng của tắc ruột cơ học, không có dấu hiệu đặc trưng cho dính, được gợi ý bởi tiền sử phẫu thuật ổ bụng trước đó.
Chẩn đoán tắc ruột do dính được xác định khi mở bụng để xử trí tắc ruột.1 Lâm sàng - Triệu chứng toàn thân: phụ thuộc trước hết vào cơ chế tắc ruột, vị trí tắc và thời gian tắc. Nếu đến sớm, dấu hiệu rối loạn nước và điện giải thường không rõ. Nếu đến càng muộn và tắc càng cao thì dấu hiệu mất nước càng rõ rệt với các triệu chứng khát nước, mắt trũng, môi khô, da nhăn, nước tiểu ít, thậm chí là có dấu hiệu sốc do giảm khối lượng tuần hoàn. Sốt thường nhẹ 37,5 – 38,50C.
Sốt do tình trạng thiếu nước và do nhiễm trùng dịch ứ đọng trên chỗ tắc [21], [22].