ĐẶT VẤN ĐỀ Gãy xương cẳng tay là một trong những bệnh lý thường gặp của chấn thương, chiếm khoảng 30% gãy xương nói chung theo Nguyễn Quang Long [11]. Trong đó gãy hai xương cẳng tay chiếm khoảng 23,5% gãy xương mới tại bệnh viện Việt Đức năm 1993 [24]. Gãy xương cẳng tay do nhiều nguyên nhân khác nhau như: tai nạn giao thông, tai nạn lao động, tai nạn thể thao, tai nạn sinh hoạt,… Trong số đó, tai nạn giao thông là nguyên nhân quan trọng hàng đầu [21], [23], [32], trong chấn thương gãy xương nói chung và gãy xương cẳng tay nói riêng. Hiện nay ở nước ta, cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền công nghiệp và hiện đại hoá đất nước, các phương tiện giao thông gia tăng nhanh chóng trong khi cơ sở hạ tầng chưa phát triển đồng bộ và ý thức chấp hành giao thông còn kém đã kiến cho tai nạn giao thông và chấn thương do tai nạn giao thông trở thành một vấn đề đáng quan tâm, bên cạnh đó tai nạn lao động, tai nạn sinh hoạt và tai nạn thể thao cũng góp phần vào nguyên nhân của chấn thương nói chung.
Cẳng tay có chức năng sinh lý rất quan trọng là sấp, ngửa cẳng tay; động tác này mang lại sự khéo léo trong phức hợp các động tác của cẳng tay, cổ tay và bàn tay. Để thực hiện tốt chức năng sấp ngửa cẳng tay cần có sự tham gia của nhiều yếu tố phối hợp của cả hai xương: xương trụ và xương quay, vì thế việc xử trí di lệch của cả hai xương là hết sức quan trọng. Nếu không xử trí tốt sẽ để lại những biến chứng ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân và làm tăng gánh nặng kinh tế cho toàn xã hội vì đa số bệnh nhân bị gãy hai xương cẳng tay đều nằm trong độ tuổi lao động [21], [22], [23], [28]. 2 Ở Việt Nam, hiện tại đang có nhiều cách điều trị cho bệnh nhân gãy hai xương cẳng tay, bao gồm điều trị bảo tồn như: nắn chỉnh và bó bột cánh – bàn tay,.
Hoặc phẫu thuật như: mổ kết hợp xương nẹp vít, mổ đóng đinh nội tủy,… Mỗi phương pháp đều có ưu và nhược điểm riêng. Trước đây, với các gãy xương kín hai xương cẳng tay nếu không có biến chứng thì thường được điều trị bảo tồn bằng phương pháp nắn chỉnh bó bột, trong những nghiên cứu gần đây cho thấy điều trị bằng nắn chỉnh bó bột tuy là phương pháp dễ làm nhưng có nhiều nhược điểm về phục hồi chức năng và có nhiều biến chứng hơn các phương pháp khác [18], [34], [35]. Trong những năm gần đây, phương pháp điều trị sớm bằng nẹp vít mà không cần phải bó bột đã được thực hiện rộng rãi tại các cơ sở chuyên khoa. Với khả năng cố định ổ gãy tốt, ít di lệch và biến chứng, điều trị bằng nẹp vít cho kết quả cải thiện phục hồi chức năng tốt hơn và khả năng tập vận động sớm hơn phương pháp nắn chỉnh bó bột đơn thuần [31], [33].
Với khuynh hướng ngày càng có nhiều phương pháp điều trị mới thì việc tái đánh giá hiệu quả của điều trị bằng nẹp vít là cần thiết, để từ đó có thể rút ra những ưu điểm cũng như khuyết điểm mà phương pháp này mang lại. Vì vậy, với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả điều trị, mang lại kết quả tốt nhất cho bệnh nhân, chúng tôi thực hiện đề tài: ”Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, X-quang và đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật gãy thân hai xương cẳng tay bằng nẹp vít tại địa bàn Thành Phố Cần Thơ năm 2014- 2015” với các mục tiêu sau: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, X-quang của bệnh nhân gãy thân hai xương cẳng tay được điều trị bằng nẹp vít tại địa bàn Thành Phố Cần Thơ năm 2014- 2015. Đánh giá kết quả liền xương.
Đánh giá kết quả phục hồi chức năng tay bị tổn thương. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nhắc lại một số đặc điểm về giải phẫu và sinh lý cẳng tay 1.1 Giải phẫu hai xƣơng cẳng tay Hình 1.1: Hình ảnh xƣơng quay và xƣơng trụ Nguồn: Netter’s Atlas Of Human Anatomy [13] Cẳng tay có hai xương: xương trụ và xương quay. Đầu trên xương trụ cao hơn xương quay, nhưng đầu dưới xương quay lại thấp hơn đầu dưới 4 xương trụ nên khi ngã chống bàn tay xuống đất, trọng lượng cơ thể sẽ dồn vào đầu dưới xương quay và làm gãy đầu này.
- Xương quay: + Xương quay là xương dài, gồm 1 thân và 2 đầu, đầu lớn ở dưới. + Giữa cổ xương và thân xương hợp thành một góc mở ra ngoài gọi là góc cổ thân. Nhờ góc này nên xương quay có thể quay quanh xương trụ làm cho bàn tay sấp ngửa được. Khi gãy, xương quay có thể bị gập góc hoặc hai khúc gãy chồng lên nhau làm cho cử động sấp ngửa bị giảm hoặc mất [19], [25].
+ Khi gãy 1/3 dưới xương quay nếu có di lệch chồng thì kèm theo có sai khớp quay trụ dưới, loại gãy này được gọi là gãy Galeazzi [40]. - Xương trụ: + Xương trụ là xương dài, hình lăng trụ tam giác có ba mặt ba bờ. Xương có 2 đầu, đầu lớn ở trên [25]. + Xương trụ nằm ở phía trong cẳng tay, dài hơn xương quay, nhưng mỏm trâm xương quay xuống thấp hơn mỏm tram xương trụ.
Mặt khác, xương quay cong như cánh cung còn xương trụ ví như dây cung, vì vậy xương quay có thể quay quanh xương trụ làm cho bàn tay có thể sấp ngửa được. + Thân xương trụ thẳng hơn xương quay nên trong khi kết xương nẹp vít thì thuận lợi hơn xương quay. - So sánh hai xương ta thấy ở khớp khuỷu xương trụ là chính, ở khớp cổ tay xương quay là chính. Ở trên xương trụ cao hơn xương quay, còn ở dưới xương quay thấp hơn xương trụ khoảng 1,5 cm.
Nếu thấy hai mỏm ở ngang nhau trên cùng một mặt phẳng, có thể nói xương quay đã gãy và ngắn lại [3]. - Xương trụ và xương quay đều có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chức năng của cẳng tay là sấp ngửa tay. Vì thế, trong điều trị gãy hai xương cẳng tay phải chú ý điều trị cả hai xương. Khác với điều trị gãy xương cẳng chân, chỉ cần chú ý điều trị xương chày.2 Các cơ vùng cẳng tay Hình 1.2: Các cơ vùng cẳng tay sau Nguồn: Netter’s Atlas Of Human Anatomy [13] Cẳng tay có 20 cơ bao bọc quanh hai xương: xương quay và xương trụ [20].
- Khu cơ cẳng tay trước: Có nhiều cơ và được xếp làm 4 lớp + Lớp nông có 04 cơ: cơ sấp tròn, cơ gấp cổ tay quay, cơ gan tay bé, cơ gấp cổ tay trụ hay cơ trụ trước. + Lớp giữa có cơ gấp nông cẳng tay. + Lớp sâu có cơ gấp sâu ngón tay và cơ gấp dài ngón cái. + Lớp thứ 4 có cơ sấp vuông.
6 - Khu cẳng tay ngoài gồm có 4 cơ: cơ cánh tay quay, cơ ngửa, cơ duỗi cổ tay quay dài và cơ duỗi cổ tay quay ngắn. - Khu cẳng tay sau gồm 8 cơ xếp thành 2 lớp: + Lớp nông có 4 cơ: cơ khuỷu, cơ duỗi chung các ngón tay, cơ duỗi riêng ngón út và cơ duỗi cổ tay trụ. + Lớp sâu có 4 cơ: cơ dạng dài ngón cái, cơ duỗi ngắn ngón cái, cơ duỗi dài ngón cái và cơ duỗi riêng ngón trỏ [25]. - Các cơ khu cẳng tay ngoài và các cơ khu cẳng tay sau đều do thần kinh quay chi phối vận động.3 Màng liên cốt, các mạch máu và thần kinh cẳng tay 1.1 Màng liên cốt: - Là một màng xơ sợi nối liền giữa xương quay và xương trụ.
- Màng liên cốt có đặc điểm là khi gãy xương có thể bị vôi hoá, mất tính đàn hồi và hậu quả là hạn chế, thậm chí không thể sấp, ngửa cẳng tay được [16].2 Mạch máu và thần kinh cẳng tay: - Chi phối cho cẳng tay gồm 5 bó mạch thần kinh [12]: + Bó mạch thần kinh quay: Gồm có động mạch quay, tĩnh mạch quay và thần kinh quay. Dây thần kinh quay có thể bị tổn thương khi phẫu thuật. + Bó mạch thần kinh giữa: Gồm có thần kinh giữa và động mạch nuôi dây thần kinh. + Bó mạch thần kinh trụ: Gồm có động mạch trụ, tĩnh mạch trụ và thần kinh trụ.
+ Bó mạch thần kinh liên cốt trước: Gồm động mạch liên cốt trước (nhánh của động mạch trụ) và dây thần kinh liên cốt trước (nhánh của thần kinh giữa) chạy áp sát mặt trước màng liên cốt. 7 + Bó mạch thần kinh liên cốt sau: Gồm động mạch liên cốt sau là một nhánh của động mạch liên cốt bắt nguồn từ động mạch trụ, chạy qua bờ trên màng liên cốt ra sau và đi giữa 2 cơ duỗi chung ngón tay và duỗi riêng ngón út. Ngành sau thần kinh quay là ngành vận động, ngành này lách giữa 2 lớp cơ ngửa vòng quanh cổ xương quay chếch xuống dưới [4].3: Mạch máu và thần kinh ở cẳng tay Nguồn: Netter’s Atlas Of Human Anatomy [13] 8 1.4 Chức năng của cẳng tay Hai xương cẳng tay có chức năng quan trọng nhất là sấp ngửa cẳng tay. Chức năng này rất cần cho nhiều động tác sinh hoạt chính xác và động tác nghề nghiệp.
Động tác sấp, ngửa của cẳng tay muốn thực hiện được đòi hỏi phải có các yếu tố: - Chiều dài và độ cong sinh lý của xương quay phải được đảm bảo. - Khớp quay trụ trên và dưới tạo ra như một bản lề trong động tác xoay phải bình thường. - Màng liên cốt nối giữa hai xương phải mềm mại, khoang liên cốt phải đủ rộng. - Các cơ sấp ngửa phải bình thường: Hai cơ chính để sấp cẳng tay là cơ sấp tròn và cơ sấp vuông, ngoài ra thêm 2 cơ phụ nữa là cơ gan tay lớn và cơ gấp nông.
Chi phối động tác ngửa gồm có 2 cơ chính là cơ ngửa và cơ nhị đầu, 2 cơ phụ là cơ ngửa cánh tay quay và cơ duỗi cổ tay quay dài. - Mạch máu thần kinh chi phối phải bình thường. => Việc nắn chỉnh trong gãy hai xương cẳng tay phải chú ý đến cả 2 xương sao cho thật hoàn chỉnh, như vậy mới có thể phục hồi động tác sấp ngửa tốt cho bệnh nhân. Gãy hai xƣơng cẳng tay 1.1 Định nghĩa gãy hai xƣơng cẳng tay Gãy thân hai xương cẳng tay là loại gãy ở vị trí: Phía trên cách 2 cm dưới mấu nhị đầu, phía dưới cách 5 cm trên mỏm trâm quay.2 Nguyên nhân và cơ chế chấn thƣơng - Cơ chế chấn thương trực tiếp: Do lực chấn thương tác động trực tiếp vào cẳng tay và gây ra gãy xương ở ngay vị trí lực tác động.