ĐẶT VẤN ĐỀ Mất đoạn thân xương dài do chấn thương, đặc biệt nếu có liên quan đến nhiễm trùng vẫn là một thách thức lớn đối với các phẫu thuật viên chỉnh hình, mặc dù hiện nay đã có nhiều tiến bộ trong y học với kỹ thuật hiện đại. Với tỷ lệ khoảng 0,4 – 11,4% sau gãy xương hở1, tổn thương này không phải hiếm gặp. Theo các báo cáo, tỷ lệ biến chứng nhiễm trùng sau mất đoạn xương lên đến 33,1 – 58,5%2. Việc điều trị khá khó khăn và phức tạp, bởi lẽ phải giải quyết 2 vấn đề cốt lõi, đó là lành xương chức năng và kiểm soát nhiễm trùng trong điều kiện sinh học tại chỗ đa phần bị tổn thương nặng nề.
Dự hậu điều trị có thể dẫn đến suy giảm chức năng nghiêm trọng, gây tàn phế thậm chí phải cắt cụt chi 1-5. Theo y văn, các phương pháp điều trị mất đoạn xương lớn như: ghép xương có nối mạch, tạo xương kéo dãn và tạo xương với màng cảm ứng là những lựa chọn ưu tiên vì các chứng cứ lâm sàng cho thấy chúng mang lại hiệu quả cao 1,3-6. Tuy nhiên, phương pháp nối mạch đòi hỏi thời gian đào tạo phẫu thuật viên, dụng cụ vi phẫu và mạch máu ở nơi tiếp nhận tốt. Phương pháp tạo xương kéo dãn yêu cầu bệnh nhân phải mang khung cố định trong thời gian khá dài, thành thạo cách kéo dãn theo y lệnh, chấp nhận khả năng can thiệp lần 2 tại nơi nén ép.
Kỹ thuật màng cảm ứng của Masquelet7 được xem như một chọn lựa mới cho điều trị mất đoạn xương sau chấn thương. Kỹ thuật này gồm hai giai đoạn. Giai đoạn I bao gồm: cắt lọc triệt để và đặt khối xi măng polymethylmethacrylate (PMMA) lấp vào nơi xương mất đoạn; tạo hình mô mềm và cố định ngoài xương gãy. Giai đoạn II: thực hiện sau giai đoạn I từ 6 – 8 tuần, bao gồm: tháo khối xi măng,cố định xương chính thức, ghép xương xốp tự thân vào khoảng trống mất xương và khâu lớp màng cảm ứng bao bọc xương ghép7-9.
Đây là phương pháp tương đối đơn giản, không đòi hỏi các dụng cụ phức tạp, thời gian lành xương không phụ thuộc vào chiều dài xương mất đoạn5,8,10,11 nên dễ phù hợp với hầu hết bối cảnh. Phương pháp này đã được sử dụng khá rộng rãi trên thế giới10,12,13, với tỷ lệ lành xương khá cao5 từ 85 – 92%. 2 Tuy nhiên, thách thức đầu tiên khi sử dụng phương pháp này là cần có thể tích xương ghép lớn. Wang14 (2016) ghi nhận, một bên xương mào chậu trước chỉ cung cấp 15 cm3 (8 – 20 cm3) và một bên mào chậu sau cung cấp 48 cm3 (28 – 60 cm3) xương xốp, trong khi theo Peng Wang15 (2021) thì thể tích xương ghép yêu cầu cho xương chày mất đoạn chiều dài 5 cm vào khoảng 36,07 cm3 đến 41,98 cm3.
Siboni16 (2018), khuyên nên sử dụng cả mào chậu trước và sau kết hợp vật liệu thay thế xương hoặc xương đồng loại để đạt thể tích cần thiết. Chính Masquelet8 phải sử dụng mào chậu sau để đủ xương ghép. Thách thức thứ hai là kiểm soát tái nhiễm trùng sau giai đoạn II. Tỷ lệ tái nhiễm trùng sau khi ghép xương khoảng 8%17 đến 24,3%18 – một con số đáng quan ngại.
Giải pháp được chấp nhận rộng rãi là sử dụng xi măng kháng sinh ở giai đoạn I. Han19 (2017) và Nauth20 (2018) khuyến cáo sử dụng xi măng kháng sinh. Một báo cáo phân tích gộp của Hsu18 (2020), cho thấy nhóm sử dụng xi măng không có kháng sinh có tỷ lệ tái nhiễm cao hơn và số lần can thiệp ghép xương thêm để đạt lành xương sau giai đoạn II nhiều hơn so với nhóm sử dụng xi măng có kháng sinh. Chúng tôi giả thuyết rằng nếu cải biên phương pháp Masquelet bằng cách sử dụng xi măng kháng sinh ở giai đoạn I và xương ghép giai đoạn 2 bao gồm mào chậu trước tự thân(xương vỏ và xương xốp) trộn với vật liệu thay thế xương, có thể khắc phục hai thách thức trên.
Vấn đề đặt ra là liệu xi măng kháng sinh có làm biến đổi màng cảm ứng ở giai đoạn I và sự pha trộn giữa xương xốp vỏ với vật liệu thay thế xương có ảnh hưởng đến sự lành xương ở giai II hay không. Đó là lý do chúng tôi thực hiện “Nghiên cứu điều trị gãy hở nhiễm trùng mất đoạn thân xương dài theo phương pháp Masquelet cải biên” trên cả thực nghiệm và đánh giá lâm sàng, với các mục tiêu sau: 1. Đánh giá sự an toàn và hiệu quả của phương pháp Masquelet cải biên trên thực nghiệm. Đánh giá sự an toàn và hiệu quả của phương pháp Masquelet cải biên trên lâm sàng.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về điều trị mất đoạn thân xương dài nhiễm trùng 1. Khái niệm và dịch tễ học Mất đoạn thân xương dài là tổn thương không phải hiếm gặp tại khoa Chấn thương chỉnh hình, đặc biệt ở các bệnh viện tuyến cuối nước ta. Nguyên nhân có thể là do chấn thương, không lành xương, viêm xương tủy xương hay sau phẫu thuật cắt rộng bướu.
Vì các xương dài chi dưới như xương đùi, xương chày có vai trò rất quan trọng giúp con người di chuyển và nâng đỡ cơ thể, mất đoạn thân xương dài làm suy giảm chức năng vận động và gây ra nguy cơ cao tàn phế cho bệnh nhân. Đây thực sự là một thách thức lớn đối với các phẫu thuật viên chuyên ngành Chấn thương chỉnh hình, không những đòi hỏi kỹ thuật, kinh nghiệm chuyên sâu mà còn về quá trình chăm sóc sau mổ tích cực, theo dõi cẩn thận và sự tuân thủ, hợp tác của người bệnh. Mất đoạn thân xương dài tạo ra gánh nặng về mặt chăm sóc y tế cho bản thân bệnh nhân, cho gia đình và xã hội. Nghiên cứu hồi cứu của Norris (2021)2 tại Hoa Kỳ thực hiện trên cơ sở dữ liệu theo dõi 2 năm 2.884 bệnh nhân mất đoạn thân xương dài do các nguyên nhân khác nhau và được điều trị bằng nhiều phương pháp khác nhau.
Kết quả cho thấy tỷ lệ biến chứng nhiễm trùng 33,1 – 58,5%, không lành xương 7,8 – 54,8% và cắt cụt chi 8,1 – 14,5%, với chi phi y tế của mỗi bệnh nhân dao động từ 120. Mất đoạn xương lớn được định nghĩa là tình trạng mất xương mà xương không thể lành tự nhiên nếu chỉ sử dụng các phương pháp kết hợp xương đơn thuần20. Cho đến nay, y văn vẫn chưa thống nhất kích thước bao nhiêu là lớn. Một số tác giả đề nghị mất đoạn lớn là khi mất xương với chiều dài lớn hơn 1,5 lần đường kính thân xương, hoặc lớn hơn 1/5 đến 1/4 chiều dài của toàn bộ xương đó21.
4 Điều trị mất đoạn xương đã là một thử thách, nhưng đối với điều trị mất đoạn xương nhiễm trùng thì thử thách này càng khó khăn hơn gấp bội, do không chỉ giải quyết vấn đề lành xương chức năng mà còn phải giải quyết vấn đề nhiễm trùng xương và mô mềm xung quanh22,23. Phần lớn các các giả đều đồng thuận điều trị mất đoạn thân xương nhiễm trùng cần trải quả 2 giai đoạn riêng biệt24: giai đoạn cắt lọc triệt để ổ nhiễm trùng kèm cố định xương và tiếp theo là giai đoạn tái tạo đoạn xương mất khi tình trạng nhiễm trùng đã ổn định. Trong đó, giai đoạn cắt lọc là hết sức quan trọng, việc cắt lọc phải bao gồm loại bỏ tất cả mô xương và mô mềm hoại tử, đồng thời tháo bỏ các phương tiện kết hợp xương ở vùng nhiễm trùng. Phim X-quang trước mổ có thể giúp xác định vùng xương hoại tử có viền xương xơ đặc phân cách với xương lành.
Tuy nhiên, việc xác định giới hạn giữa mô xương còn sống và mô xương hoại tử không phải lúc nào cũng rõ ràng, dễ dẫn đến tình trạng hoặc không loại bỏ hết mô xương hoại tử hoặc cắt lọc xương quá mức. Mặc dù hiện nay có những phương pháp mới như xạ hình xương, nhưng mức độ xương hoại tử chỉ có thể xác định được rõ ràng trong lúc phẫu thuật22. Dấu hiệu paprika25-27 (xác định bằng có sự chảy máu ở vỏ xương khi khoang bằng mũi khoang 2.5mm) được cho là hữu dụng để đánh giá xương vùng xương còn sống. Sau khi cắt lọc, vùng xương nhiễm trùng cần được cố định để vừa bất động được xương vừa tăng cường ổn định mô mềm xung quanh, hỗ trợ chống nhiễm trùng hiệu quả.
Về mặt tổng quát, phương tiện cố định xương trong giai đoạn này là cố định ngoài để không can thiệp trực tiếp vào vùng xương mất đoạn vừa cắt lọc, giúp hạn chế nguy cơ tái nhiễm trùng22. Giai đoạn tiếp theo theo sau khi tình trạng nhiễm trùng ổ định là tái tạo lại xương mất đoạn. Giai đoạn này cũng khó khăn không nhỏ, điểm cần lưu ý là bên cạnh kích thước, các yếu tố như tuổi, vị trí xương, mức độ che phủ của mô mềm, những rối loạn tại chỗ và bệnh lý toàn thân cũng ảnh hưởng đến khả năng lành xương. Do đó, việc lựa chọn phương pháp điều trị không chỉ dựa trên kích thước của đoạn xương bị mất mà còn phải cân nhắc đến những khía cạnh khác.
Các phương pháp điều trị mất đoạn thân xương dài Trong y văn, đã có nhiều phương pháp điều trị mất đoạn thân xương dài được báo cáo. Các phương pháp này được chia thành 3 nhóm chính dựa trên mức độ dịch chuyển của hai đầu của đoạn xương bị mất: tĩnh, thúc ngắn xương tức thì và tạo xương bằng kéo dãn. Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và nhược điểm khác nhau và chỉ định tùy thuộc nhiều vào kích thước xương mất đoạn và tình trạng mô mềm xung quanh. Các phương pháp tĩnh Nguyên lý chung của các phương pháp tĩnh là đầu gần và đầu xa của vị trí mất đoạn xương được giữ cố định trong suốt quá trình lành xương bằng phương tiện kết hợp xương bên trong hoặc bên ngoài, đồng thời lấp đầy đoạn xương khuyết hổng bằng xương ghép tự thân, xương ghép đồng loại và/hoặc các vật liệu thay thế xương.
Ghép xương xốp tự thân không có cuống mạch Xương xốp tự thân là nguyên liệu ghép tốt nhất cho việc hình thành xương mới do sử hữu sự vượt trội về cảm ứng xương và dẫn nhập xương. Mặc dù hành xương của hầu hết xương dài có thể là nguồn cung cấp xương ghép, nhưng mào chậu là nguồn cung cấp dồi dào và thường được lấy nhất. Đặc biệt, mỗi bên ở vùng mào chậu sau có thể cung cấp đủ xương ghép cho xương chày mất đoạn khoảng 4 cm.