Nghiên cứu đặc điểm hiển vi và thành phần hóa học của quả mùi và quả thì là

Luận văn tốt nghiệp y tế nghiên cứu Nguyễn lương diện bước đầu nghiên cứu đặc điểm hiển vi và thành phần hóa học quả mùi và quả thì là, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề

Chuyên ngành

Dược sĩ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2022

63
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

1. DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

2. DANH MỤC CÁC BẢNG

3. DANH MỤC CÁC HÌNH

4. ĐẶT VẤN ĐỀ

5. TỔNG QUAN VỀ CÂY MÙI VÀ QUẢ MÙI

5.1. Đặc điểm thực vật, nguồn gốc, phân bố và sinh thái loài Coriandrum sativum L.

5.2. Thành phần hóa học

5.2.1. Tinh dầu

5.2.2. Chất béo

5.2.3. Các hợp chất phenolic

5.2.4. Một số thành phần khác

5.3. Tác dụng sinh học

5.3.1. Tác dụng ức chế sự phát triển trên một số chủng vi sinh vật

5.3.2. Tác dụng chống oxy hóa

5.3.3. Tác dụng lợi tiểu

5.3.4. Một số tác dụng khác

5.4. Tính vị, công năng

5.5. Một số bài thuốc dân gian có quả Mùi

6. TỔNG QUAN VỀ CÂY THÌ LÀ VÀ QUẢ THÌ LÀ

7. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

7.1. Đối tượng và phương tiện nghiên cứu

7.2. Đối tượng nghiên cứu

7.3. Phương tiện nghiên cứu

7.4. Nội dung nghiên cứu

7.5. Nghiên cứu đặc điểm hiển vi

7.6. Nghiên cứu thành phần hóa học tinh dầu, chất béo và các hợp chất phenolic

7.7. Phương pháp nghiên cứu

7.7.1. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hiển vi

8. THỰC NGHIỆM, KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

8.1. Đặc điểm hiển vi

8.1.1. Đặc điểm vi phẫu

8.1.2. Đặc điểm vi học bột

8.2. Thành phần hóa học tinh dầu, chất béo và các hợp chất phenolic

8.2.1. Định tính sơ bộ các nhóm chất hữu cơ trong quả Mùi và quả Thì là

8.2.2. Xác định hàm lượng tinh dầu, phân tích thành phần hóa học tinh dầu quả Mùi và quả Thì là bằng sắc ký lớp mỏng và bằng sắc ký khí kết nối khối phổ (GC-MS)

8.2.3. Chiết xuất chất béo từ quả Mùi và quả Thì là, định tính thành phần chất béo bằng sắc ký lớp mỏng

8.2.4. Chiết xuất dịch chiết ethanol 70% của quả đã loại chất béo và định tính bằng sắc ký lớp mỏng

8.2.5. Về đặc điểm hiển vi

8.2.6. Về thành phần hóa học tinh dầu, chất béo và các hợp chất phenolic

9. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu đặc điểm hiển vi và thành phần hóa học của quả mùi và quả thì là

Quả mùi (Coriandrum sativum L.) và quả thì là (Anethum graveolens L.) là hai loài thực vật thuộc họ Hoa tán (Apiaceae), được sử dụng rộng rãi trong ẩm thực và y học. Nghiên cứu này nhằm mục đích phân tích đặc điểm hiển vi và thành phần hóa học của hai loại quả này, từ đó cung cấp thông tin hữu ích cho việc nhận biết và kiểm nghiệm dược liệu.

1.1. Đặc điểm thực vật và nguồn gốc của quả mùi và quả thì là

Quả mùi và quả thì là có nguồn gốc từ miền Nam châu Âu và Tây Á. Chúng được trồng phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới, chủ yếu dùng làm gia vị và thuốc chữa bệnh. Đặc điểm thực vật của chúng bao gồm chiều cao, hình dáng lá và cụm hoa, tạo nên sự khác biệt giữa hai loài.

1.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu thành phần hóa học

Nghiên cứu thành phần hóa học của quả mùi và quả thì là giúp xác định các hợp chất có lợi cho sức khỏe, như tinh dầu, chất béo và các hợp chất phenolic. Những thành phần này không chỉ có giá trị dinh dưỡng mà còn có tác dụng sinh học đáng kể.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu quả mùi và quả thì là

Mặc dù quả mùi và quả thì là được sử dụng rộng rãi, nhưng nghiên cứu về đặc điểm hiển vi và thành phần hóa học của chúng vẫn còn hạn chế. Việc thiếu thông tin chi tiết về các hợp chất có trong hai loại quả này gây khó khăn trong việc ứng dụng chúng trong y học và thực phẩm.

2.1. Thiếu thông tin về thành phần hóa học

Nhiều nghiên cứu trước đây chỉ tập trung vào một số thành phần nhất định, trong khi các hợp chất khác có thể có tác dụng sinh học quan trọng vẫn chưa được khám phá.

2.2. Khó khăn trong việc phân tích đặc điểm hiển vi

Việc phân tích đặc điểm hiển vi của quả mùi và quả thì là đòi hỏi kỹ thuật cao và thiết bị hiện đại, điều này có thể gây khó khăn cho nhiều nghiên cứu sinh và nhà khoa học.

III. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hiển vi của quả mùi và quả thì là

Nghiên cứu này sử dụng các phương pháp hiện đại để phân tích đặc điểm hiển vi của quả mùi và quả thì là. Các phương pháp này bao gồm vi phẫu, vi học bột và sắc ký khí kết nối khối phổ (GC-MS) để xác định thành phần hóa học.

3.1. Phương pháp vi phẫu và vi học bột

Phương pháp vi phẫu giúp xác định cấu trúc tế bào và các đặc điểm hình thái của quả, trong khi vi học bột cho phép phân tích thành phần bột của quả mùi và quả thì là.

3.2. Phân tích thành phần hóa học bằng GC MS

Sắc ký khí kết nối khối phổ (GC-MS) được sử dụng để phân tích thành phần hóa học của tinh dầu và chất béo trong quả mùi và quả thì là, giúp xác định các hợp chất chính có trong hai loại quả này.

IV. Kết quả nghiên cứu thành phần hóa học của quả mùi và quả thì là

Kết quả nghiên cứu cho thấy quả mùi và quả thì là chứa nhiều thành phần hóa học có giá trị, bao gồm tinh dầu, chất béo và các hợp chất phenolic. Những thành phần này không chỉ có tác dụng dinh dưỡng mà còn có khả năng chống oxy hóa và kháng vi sinh vật.

4.1. Thành phần tinh dầu trong quả mùi và quả thì là

Tinh dầu trong quả mùi chủ yếu chứa linalool, trong khi quả thì là có nhiều hợp chất khác nhau như limonen và carvon. Những thành phần này có tác dụng sinh học đáng kể.

4.2. Các hợp chất phenolic và tác dụng sinh học

Các hợp chất phenolic trong quả mùi và quả thì là có khả năng chống oxy hóa cao, giúp bảo vệ tế bào khỏi tổn thương do gốc tự do. Nghiên cứu cho thấy chúng có thể ức chế sự phát triển của một số vi sinh vật gây bệnh.

V. Ứng dụng thực tiễn của quả mùi và quả thì là trong y học và thực phẩm

Quả mùi và quả thì là không chỉ được sử dụng làm gia vị mà còn có nhiều ứng dụng trong y học. Chúng được sử dụng để chữa bệnh tiêu hóa, kháng viêm và chống oxy hóa. Việc hiểu rõ về thành phần hóa học của chúng sẽ giúp nâng cao giá trị sử dụng trong thực phẩm và dược phẩm.

5.1. Ứng dụng trong y học cổ truyền

Quả mùi và quả thì là được sử dụng trong nhiều bài thuốc dân gian để chữa các bệnh như đau dạ dày, tiêu hóa kém và cảm lạnh. Những ứng dụng này đã được ghi nhận trong nhiều tài liệu y học cổ truyền.

5.2. Ứng dụng trong ngành thực phẩm

Quả mùi và quả thì là được sử dụng rộng rãi trong ngành thực phẩm để tạo hương vị cho các món ăn. Chúng cũng có thể được sử dụng như một chất bảo quản tự nhiên nhờ vào khả năng kháng vi sinh vật.

VI. Kết luận và tương lai của nghiên cứu về quả mùi và quả thì là

Nghiên cứu về quả mùi và quả thì là đã chỉ ra rằng chúng có nhiều giá trị dinh dưỡng và tác dụng sinh học. Tuy nhiên, cần có thêm nhiều nghiên cứu sâu hơn để khám phá hết tiềm năng của hai loại quả này trong y học và thực phẩm.

6.1. Tương lai của nghiên cứu

Cần tiếp tục nghiên cứu để xác định rõ hơn về các hợp chất có trong quả mùi và quả thì là, từ đó phát triển các sản phẩm mới có lợi cho sức khỏe.

6.2. Khuyến nghị cho nghiên cứu tiếp theo

Nên áp dụng các phương pháp nghiên cứu hiện đại hơn để phân tích sâu hơn về thành phần hóa học và tác dụng sinh học của quả mùi và quả thì là, nhằm nâng cao giá trị sử dụng của chúng.

14/08/2025
Nguyễn lương diện bước đầu nghiên cứu đặc điểm hiển vi và thành phần hóa học quả mùi và quả thì là khóa luận tốt nghiệp dược sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Mùi (Coriandrum sativum L.) và Thì là (Anethum graveolens L.) là hai loài thuộc họ Hoa tán (Apiaceae) [33], [34], được trồng và sử dụng phổ biến ở khắp nơi trên thế giới, chủ yếu dùng làm gia vị và làm thuốc chữa bệnh. Trong khi phần trên mặt đất của hai loài trên chủ yếu được sử dụng làm rau gia vị, quả Mùi và quả Thì là từ lâu đã được dùng để làm thuốc giúp tiêu hóa, kích thích trung tiện, lợi sữa,… Ngoài ra, quả Mùi còn dùng để chữa bệnh sởi, trong trường hợp sởi không mọc ở trẻ em và dùng trong các trường hợp cảm hàn, ho, sốt, nhức đầu [14]; quả Thì là còn được dùng làm thuốc chống co thắt, thông kinh và lợi tiểu [13]. Nhiều nghiên cứu đã được công bố trên thế giới cho thấy, trong quả Mùi và quả Thì là đều chứa các nhóm chất như tinh dầu [38], [40], chất béo [21], [36], các hợp chất phenolic [20],… cùng với đó là những nghiên cứu về tác dụng sinh học của các thành phần có trong quả. Những nghiên cứu đó đã chỉ ra rằng, tinh dầu quả Mùi và quả Thì là có khả năng ức chế sự phát triển trên một số chủng vi sinh vật [24]; trong thành phần chất béo của quả Mùi và quả Thì là chứa các acid béo có lợi cho sức khỏe [31], thêm vào đó là tác dụng chống oxy hóa của các thành phần tocopherol [36], các hợp chất phenolic [20], [26], [27],… Ở nước ta, Mùi và Thì là thường được trồng nhiều ở các tỉnh phía Bắc từ tháng 9- 10 và kéo dài vài lứa sau đó, rải rác trên các diện tích nhỏ.

Chủ yếu lá và ngọn Mùi được dùng để làm rau thơm, làm gia vị [9]; các bà, các mẹ thường dùng cây Mùi già để đun nước gội đầu vào ngày cuối năm; thân và lá Thì là được dùng để khử mùi tanh trong các món ăn từ tôm, cá, ốc, hến,… Trong khi đó, quả Mùi và quả Thì là (vẫn thường được gọi là hạt [14]) hầu như chỉ được thu hoạch với mục đích làm hạt giống để gieo trồng cho các vụ sau. Các nghiên cứu trong nước cả về đặc điểm hiển vi, thành phần hóa học và tác dụng sinh học của quả Mùi và quả Thì là còn hạn chế. Vì những lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Bước đầu nghiên cứu đặc điểm hiển vi và thành phần hóa học của quả Mùi và quả Thì là” nhằm mục đích cung cấp các cơ sở dữ liệu nhằm nhận biết, kiểm nghiệm các dược liệu này và làm cơ sở cho các nghiên cứu sâu hơn. Mục tiêu của đề tài bao gồm: 1.

Nghiên cứu đặc điểm hiển vi quả Mùi và quả Thì là. Nghiên cứu thành phần hóa học tinh dầu, chất béo và các hợp chất phenolic trong quả Mùi và quả Thì là. Để thực hiện mục tiêu trên, đề tài tiến hành các nội dung sau: - Mô tả đặc điểm vi phẫu và đặc điểm vi học bột quả Mùi và quả Thì là. - Định tính sơ bộ các nhóm chất hữu cơ trong quả Mùi và quả Thì là.

1 - Xác định hàm lượng tinh dầu, phân tích thành phần hóa học tinh dầu quả Mùi và quả Thì là bằng sắc ký lớp mỏng và bằng sắc ký khí kết nối khối phổ (GC-MS). - Chiết xuất chất béo từ quả Mùi và quả Thì là, định tính thành phần hóa học chất béo bằng sắc ký lớp mỏng. - Chiết xuất dịch chiết ethanol 70% của quả đã loại chất béo và định tính bằng sắc ký lớp mỏng. Tổng quan về cây Mùi và quả Mùi 1.

Đặc điểm thực vật, nguồn gốc, phân bố và sinh thái loài Coriandrum sativum L. là loài duy nhất thuộc chi Coriandrum Linnaeus [34]. Theo Hệ thống phân loại thực vật hiển hoa (Flowering plants) của tác giả A. Takhtajan (2009) [39], vị trí của chi Coriandrum L.

trong giới thực vật như sau: Giới: Thực vật (Plantae) Ngành: Ngọc lan (Magnoliophyta) Lớp: Ngọc lan (Magnoliopsida) Phân lớp: Cúc (Asteridae) Bộ: Hoa tán (Apiales) Họ: Hoa tán (Apiaceae) Chi: Coriandrum L. Tên đồng nghĩa: Selinum coriandrum E. Tên Việt Nam: Hương thái tử [14], Hồ tuy [10], [14], Ngò ta, Rau mai [1], [6]. Tên nước ngoài: Coriander (Anh), Persil arabe (Pháp) [9], Koriander (Đức) [8], Yan sui (Trung Quốc) [34].

Đặc điểm thực vật Cây thảo, sống hàng năm, cao 0,2-1,3 m. Thân tròn, mảnh, nhẵn, mọc thẳng đứng, thường phân nhánh nhiều; rễ chính phát triển khỏe. Thân non thường có màu xanh nhạt hoặc xanh tía. Lá mọc cách, khá đa dạng về hình dạng và kích thước.

Sát gốc thường có 1-3 lá đơn, phiến lá nguyên, hình trứng hay trái xoan và sắp xếp thành dạng hoa thị. Các là ở gần gốc thường có cuống dài, thường có 1-3 lá chét, mỗi lá chét lại xẻ thành 3 thùy, mép lá có răng cưa tròn và to. Các lá ở phía trên thường có dạng kép lông chim, với 3- 11 lá chét, mỗi lá chét này lại chia 3-7 thùy dạng hình sợi mảnh, lá ở ngọn không có cuống, các thùy hình sợi nhỏ. Toàn thân và lá có tinh dầu với mùi thơm hấp dẫn [1], [6], [9], [14].

Cụm hoa gồm 3-5 tán kép gần đều mọc ở ngọn thân hoặc kẽ lá; không có bao chung; mỗi tán bên mang 3-5 lá bắc gần hình sợi. Mỗi cụm tán kép mang 2-8 tán cấp 1, mỗi tán cấp 1 lại mang tới 5-20 tán thứ cấp. Hoa nhỏ, hoa lưỡng tính thường sắp xếp ở vành ngoài tán, hoa ở giữa tán thường là hoa đực; đài có răng không đều; cánh tràng 5, màu trắng, hơi hồng hoặc tía nhạt; cánh tràng ở hoa đực rất nhỏ; các hoa lưỡng tính thường có 3 cánh tràng lớn với hình thái đa dạng; nhị 5, chỉ nhị dài chừng 2,5 mm, màu 3 trắng; bầu hạ ở hoa lưỡng tính, hình chóp nón, vòi nhụy xẻ 2 nhánh, dài 2 mm [1], [6], [9], [14]. Quả bế đôi, gồm 2 nửa [8], hình trứng hay hình cầu, màu vàng nâu nhẵn bóng, có 10 gờ rãnh chạy dọc theo quả, đường kính 2,5-4 mm.

Toàn thân và lá vò ra có mùi thơm [6], [9], [14]. Nguồn gốc, phân bố và sinh thái Cây Mùi có nguồn gốc từ miền Nam châu Âu (Địa Trung Hải) và Tây Á [6], [11], [14], sau được du nhập đi khắp thế giới. Cây đã được trồng từ lâu đời ở Trung Quốc, Ấn Độ và một số nước khác ở vùng Địa Trung Hải [14]. Các giống Mùi hiện đang được gieo trồng ở nước ta và các nước Đông Nam Á thường có quả nhỏ và chủ yếu chỉ để làm rau thơm trong các bữa ăn hàng ngày [9].

Cây ưa ẩm và ưa sáng, trồng ở các tỉnh phía Bắc thường trùng với thời gian có nền nhiệt độ thấp trong năm, trung bình 15-20oC, lượng mưa cũng thấp, nhưng độ ẩm không khí tương đối cao (trên 80%). Cây ra hoa quả nhiều, sau khi quả già, toàn cây tàn lụi. Khả năng nảy mầm của hạt giảm theo thời gian [1], [14]. Thành phần hóa học Theo các tài liệu thu thập được, trong quả Mùi có chứa tinh dầu, chất béo, các hợp chất phenolic, ngoài ra còn có một số thành phần khác.

Tinh dầu Tinh dầu quả Mùi được biết đến với tên tiếng Anh là Coriander oil, tiếng Latin là Oleum coriandri, tiếng Pháp là Essence coriandre, tiếng Đức là Corianderoel và Việt Nam gọi là tinh dầu Mùi. Theo con số thống kê năm 1990, sản lượng thế giới hàng năm là 710 tấn tinh dầu, 550.000 tấn quả; các nước sản xuất chính là các nước khu vực Đông Âu, Liên bang Nga, Hoa Kỳ [11]. Phương pháp chế tạo tinh dầu: Tinh dầu quả Mùi (Coriander oil) được điều chế bằng phương pháp cất kéo hơi nước [11], hàm lượng tinh dầu thường thay đổi từ 0,4- 1,0% [9]. Tính chất của tinh dầu: Tinh dầu quả Mùi (Coriander oil) là chất lỏng không màu đến màu vàng nhạt, mùi thơm, d20: 0,868-0,870, αD: +10,50 đến +11,10, 𝑛𝐷20 : 1,464-1,465 [11].

Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về thành phần hóa học và hàm lượng các chất có trong tinh dầu trong quả Mùi. Kết quả cho thấy thành phần chủ yếu trong tinh dầu quả Mùi là linalool, còn lại là các thành phần khác với hàm lượng nhỏ. Dưới đây là bảng thành phần tinh dầu quả Mùi ở Trung Quốc [41], Bulgaria [40] và Cuba [29] khi được phân tích bằng sắc ký khí kết nối khối phổ. Thành phần tinh dầu trong quả Mùi ở Trung Quốc, Bulgaria và Cuba Thành phần % Diện tích pic Trung Quốc Bulgaria Cuba Linalool 81,92 71,08 – 77,49 54,57 α-Pinen 8,72 1,26 – 4,40 1,14 Geranyl acetat 4,02 2,49 – 3,08 4,96 γ-Terpinen 2,35 2,59 – 4,47 4,08 p-Cymen 0,67 2,35 – 4,76 0,90 β-Pinen 0,64 0,16 – 0,49 - Geraniol 0,33 3,12 – 4,29 6,97 Camphor - 2,57 – 3,20 5,83 Limonen - 0,74 – 1,50 1,55 Myrcen - 0,28 – 0,61 0,65 Camphen - 0,13 – 0,40 - α-Terpineol - 0,15 – 0,99 2,32 Sabinen - 0,11 – 0,27 - 1,8-Cineol - 0,06 – 0,20 - Terpinolen - 0,14 – 0,20 - Linalyl acetat - 0,01 – 0,27 - β-Caryophyllen - 0,05 – 0,40 - Nerol - 0,07 – 0,13 - Acid hexadecanoic - - 5,82 Borneol - - 1,55 Terpinen-4-ol - - 1,38 Citronellol - - 1,23 5 Ở Việt Nam, hàm lượng linalool trong quả Mùi thường cao hơn tài liệu thế giới, đạt khoảng 86,1 - 96,3% [7].

Cấu trúc hóa học của linalool 1. Chất béo Năm 2010, Sriti J. và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu xác định thành phần các acid béo trong chất béo và các tocopherol hòa tan trong chất béo từ quả Mùi trồng ở Tây Bắc Tuinisi, kết quả có 4 acid béo chính được phát hiện là acid petroselinic, acid linoleic, acid palmitic và acid oleic; có 6 tocopherol được phát hiện là α-tocopherol, β-tocopherol, γ-tocopherol, α-tocotrienol, γ-tocotrienol và δ-tocotrienol [36]. Năm 2015, nhóm nghiên cứu của Nguyễn Quang Hưng đã tiến hành xác định thành phần các acid béo trong chất béo từ quả Mùi.

Kết quả cho thấy, thành phần acid béo quả Mùi gồm các acid béo no (acid myristic, acid palmitic, acid stearic, acid arachidic, acid behenic) và các acid béo chưa no (acid petroselinic, acid oleic, acid linoleic, acid linolenic) [28]. Các hợp chất phenolic Năm 2012, Barros L. và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu xác định thành phần các hợp chất phenolic trong quả cây Mùi được thu mua từ các siêu thị ở Braganca (Bồ Đào Nha) bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC). Theo đó, ở nồng độ 5 mg/ml, thành phần và hàm lượng (mg) các hợp chất phenolic trong dịch chiết methanol - nước tỷ lệ 80:20 (v/v) trên 1 kg dược liệu khô được trình bày ở bảng 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ