ĐẶT VẤN ĐỀ Mùi (Coriandrum sativum L.) và Thì là (Anethum graveolens L.) là hai loài thuộc họ Hoa tán (Apiaceae) [33], [34], được trồng và sử dụng phổ biến ở khắp nơi trên thế giới, chủ yếu dùng làm gia vị và làm thuốc chữa bệnh. Trong khi phần trên mặt đất của hai loài trên chủ yếu được sử dụng làm rau gia vị, quả Mùi và quả Thì là từ lâu đã được dùng để làm thuốc giúp tiêu hóa, kích thích trung tiện, lợi sữa,… Ngoài ra, quả Mùi còn dùng để chữa bệnh sởi, trong trường hợp sởi không mọc ở trẻ em và dùng trong các trường hợp cảm hàn, ho, sốt, nhức đầu [14]; quả Thì là còn được dùng làm thuốc chống co thắt, thông kinh và lợi tiểu [13]. Nhiều nghiên cứu đã được công bố trên thế giới cho thấy, trong quả Mùi và quả Thì là đều chứa các nhóm chất như tinh dầu [38], [40], chất béo [21], [36], các hợp chất phenolic [20],… cùng với đó là những nghiên cứu về tác dụng sinh học của các thành phần có trong quả. Những nghiên cứu đó đã chỉ ra rằng, tinh dầu quả Mùi và quả Thì là có khả năng ức chế sự phát triển trên một số chủng vi sinh vật [24]; trong thành phần chất béo của quả Mùi và quả Thì là chứa các acid béo có lợi cho sức khỏe [31], thêm vào đó là tác dụng chống oxy hóa của các thành phần tocopherol [36], các hợp chất phenolic [20], [26], [27],… Ở nước ta, Mùi và Thì là thường được trồng nhiều ở các tỉnh phía Bắc từ tháng 9- 10 và kéo dài vài lứa sau đó, rải rác trên các diện tích nhỏ.
Chủ yếu lá và ngọn Mùi được dùng để làm rau thơm, làm gia vị [9]; các bà, các mẹ thường dùng cây Mùi già để đun nước gội đầu vào ngày cuối năm; thân và lá Thì là được dùng để khử mùi tanh trong các món ăn từ tôm, cá, ốc, hến,… Trong khi đó, quả Mùi và quả Thì là (vẫn thường được gọi là hạt [14]) hầu như chỉ được thu hoạch với mục đích làm hạt giống để gieo trồng cho các vụ sau. Các nghiên cứu trong nước cả về đặc điểm hiển vi, thành phần hóa học và tác dụng sinh học của quả Mùi và quả Thì là còn hạn chế. Vì những lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Bước đầu nghiên cứu đặc điểm hiển vi và thành phần hóa học của quả Mùi và quả Thì là” nhằm mục đích cung cấp các cơ sở dữ liệu nhằm nhận biết, kiểm nghiệm các dược liệu này và làm cơ sở cho các nghiên cứu sâu hơn. Mục tiêu của đề tài bao gồm: 1.
Nghiên cứu đặc điểm hiển vi quả Mùi và quả Thì là. Nghiên cứu thành phần hóa học tinh dầu, chất béo và các hợp chất phenolic trong quả Mùi và quả Thì là. Để thực hiện mục tiêu trên, đề tài tiến hành các nội dung sau: - Mô tả đặc điểm vi phẫu và đặc điểm vi học bột quả Mùi và quả Thì là. - Định tính sơ bộ các nhóm chất hữu cơ trong quả Mùi và quả Thì là.
1 - Xác định hàm lượng tinh dầu, phân tích thành phần hóa học tinh dầu quả Mùi và quả Thì là bằng sắc ký lớp mỏng và bằng sắc ký khí kết nối khối phổ (GC-MS). - Chiết xuất chất béo từ quả Mùi và quả Thì là, định tính thành phần hóa học chất béo bằng sắc ký lớp mỏng. - Chiết xuất dịch chiết ethanol 70% của quả đã loại chất béo và định tính bằng sắc ký lớp mỏng. Tổng quan về cây Mùi và quả Mùi 1.
Đặc điểm thực vật, nguồn gốc, phân bố và sinh thái loài Coriandrum sativum L. là loài duy nhất thuộc chi Coriandrum Linnaeus [34]. Theo Hệ thống phân loại thực vật hiển hoa (Flowering plants) của tác giả A. Takhtajan (2009) [39], vị trí của chi Coriandrum L.
trong giới thực vật như sau: Giới: Thực vật (Plantae) Ngành: Ngọc lan (Magnoliophyta) Lớp: Ngọc lan (Magnoliopsida) Phân lớp: Cúc (Asteridae) Bộ: Hoa tán (Apiales) Họ: Hoa tán (Apiaceae) Chi: Coriandrum L. Tên đồng nghĩa: Selinum coriandrum E. Tên Việt Nam: Hương thái tử [14], Hồ tuy [10], [14], Ngò ta, Rau mai [1], [6]. Tên nước ngoài: Coriander (Anh), Persil arabe (Pháp) [9], Koriander (Đức) [8], Yan sui (Trung Quốc) [34].
Đặc điểm thực vật Cây thảo, sống hàng năm, cao 0,2-1,3 m. Thân tròn, mảnh, nhẵn, mọc thẳng đứng, thường phân nhánh nhiều; rễ chính phát triển khỏe. Thân non thường có màu xanh nhạt hoặc xanh tía. Lá mọc cách, khá đa dạng về hình dạng và kích thước.
Sát gốc thường có 1-3 lá đơn, phiến lá nguyên, hình trứng hay trái xoan và sắp xếp thành dạng hoa thị. Các là ở gần gốc thường có cuống dài, thường có 1-3 lá chét, mỗi lá chét lại xẻ thành 3 thùy, mép lá có răng cưa tròn và to. Các lá ở phía trên thường có dạng kép lông chim, với 3- 11 lá chét, mỗi lá chét này lại chia 3-7 thùy dạng hình sợi mảnh, lá ở ngọn không có cuống, các thùy hình sợi nhỏ. Toàn thân và lá có tinh dầu với mùi thơm hấp dẫn [1], [6], [9], [14].
Cụm hoa gồm 3-5 tán kép gần đều mọc ở ngọn thân hoặc kẽ lá; không có bao chung; mỗi tán bên mang 3-5 lá bắc gần hình sợi. Mỗi cụm tán kép mang 2-8 tán cấp 1, mỗi tán cấp 1 lại mang tới 5-20 tán thứ cấp. Hoa nhỏ, hoa lưỡng tính thường sắp xếp ở vành ngoài tán, hoa ở giữa tán thường là hoa đực; đài có răng không đều; cánh tràng 5, màu trắng, hơi hồng hoặc tía nhạt; cánh tràng ở hoa đực rất nhỏ; các hoa lưỡng tính thường có 3 cánh tràng lớn với hình thái đa dạng; nhị 5, chỉ nhị dài chừng 2,5 mm, màu 3 trắng; bầu hạ ở hoa lưỡng tính, hình chóp nón, vòi nhụy xẻ 2 nhánh, dài 2 mm [1], [6], [9], [14]. Quả bế đôi, gồm 2 nửa [8], hình trứng hay hình cầu, màu vàng nâu nhẵn bóng, có 10 gờ rãnh chạy dọc theo quả, đường kính 2,5-4 mm.
Toàn thân và lá vò ra có mùi thơm [6], [9], [14]. Nguồn gốc, phân bố và sinh thái Cây Mùi có nguồn gốc từ miền Nam châu Âu (Địa Trung Hải) và Tây Á [6], [11], [14], sau được du nhập đi khắp thế giới. Cây đã được trồng từ lâu đời ở Trung Quốc, Ấn Độ và một số nước khác ở vùng Địa Trung Hải [14]. Các giống Mùi hiện đang được gieo trồng ở nước ta và các nước Đông Nam Á thường có quả nhỏ và chủ yếu chỉ để làm rau thơm trong các bữa ăn hàng ngày [9].
Cây ưa ẩm và ưa sáng, trồng ở các tỉnh phía Bắc thường trùng với thời gian có nền nhiệt độ thấp trong năm, trung bình 15-20oC, lượng mưa cũng thấp, nhưng độ ẩm không khí tương đối cao (trên 80%). Cây ra hoa quả nhiều, sau khi quả già, toàn cây tàn lụi. Khả năng nảy mầm của hạt giảm theo thời gian [1], [14]. Thành phần hóa học Theo các tài liệu thu thập được, trong quả Mùi có chứa tinh dầu, chất béo, các hợp chất phenolic, ngoài ra còn có một số thành phần khác.
Tinh dầu Tinh dầu quả Mùi được biết đến với tên tiếng Anh là Coriander oil, tiếng Latin là Oleum coriandri, tiếng Pháp là Essence coriandre, tiếng Đức là Corianderoel và Việt Nam gọi là tinh dầu Mùi. Theo con số thống kê năm 1990, sản lượng thế giới hàng năm là 710 tấn tinh dầu, 550.000 tấn quả; các nước sản xuất chính là các nước khu vực Đông Âu, Liên bang Nga, Hoa Kỳ [11]. Phương pháp chế tạo tinh dầu: Tinh dầu quả Mùi (Coriander oil) được điều chế bằng phương pháp cất kéo hơi nước [11], hàm lượng tinh dầu thường thay đổi từ 0,4- 1,0% [9]. Tính chất của tinh dầu: Tinh dầu quả Mùi (Coriander oil) là chất lỏng không màu đến màu vàng nhạt, mùi thơm, d20: 0,868-0,870, αD: +10,50 đến +11,10, 𝑛𝐷20 : 1,464-1,465 [11].
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về thành phần hóa học và hàm lượng các chất có trong tinh dầu trong quả Mùi. Kết quả cho thấy thành phần chủ yếu trong tinh dầu quả Mùi là linalool, còn lại là các thành phần khác với hàm lượng nhỏ. Dưới đây là bảng thành phần tinh dầu quả Mùi ở Trung Quốc [41], Bulgaria [40] và Cuba [29] khi được phân tích bằng sắc ký khí kết nối khối phổ. Thành phần tinh dầu trong quả Mùi ở Trung Quốc, Bulgaria và Cuba Thành phần % Diện tích pic Trung Quốc Bulgaria Cuba Linalool 81,92 71,08 – 77,49 54,57 α-Pinen 8,72 1,26 – 4,40 1,14 Geranyl acetat 4,02 2,49 – 3,08 4,96 γ-Terpinen 2,35 2,59 – 4,47 4,08 p-Cymen 0,67 2,35 – 4,76 0,90 β-Pinen 0,64 0,16 – 0,49 - Geraniol 0,33 3,12 – 4,29 6,97 Camphor - 2,57 – 3,20 5,83 Limonen - 0,74 – 1,50 1,55 Myrcen - 0,28 – 0,61 0,65 Camphen - 0,13 – 0,40 - α-Terpineol - 0,15 – 0,99 2,32 Sabinen - 0,11 – 0,27 - 1,8-Cineol - 0,06 – 0,20 - Terpinolen - 0,14 – 0,20 - Linalyl acetat - 0,01 – 0,27 - β-Caryophyllen - 0,05 – 0,40 - Nerol - 0,07 – 0,13 - Acid hexadecanoic - - 5,82 Borneol - - 1,55 Terpinen-4-ol - - 1,38 Citronellol - - 1,23 5 Ở Việt Nam, hàm lượng linalool trong quả Mùi thường cao hơn tài liệu thế giới, đạt khoảng 86,1 - 96,3% [7].
Cấu trúc hóa học của linalool 1. Chất béo Năm 2010, Sriti J. và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu xác định thành phần các acid béo trong chất béo và các tocopherol hòa tan trong chất béo từ quả Mùi trồng ở Tây Bắc Tuinisi, kết quả có 4 acid béo chính được phát hiện là acid petroselinic, acid linoleic, acid palmitic và acid oleic; có 6 tocopherol được phát hiện là α-tocopherol, β-tocopherol, γ-tocopherol, α-tocotrienol, γ-tocotrienol và δ-tocotrienol [36]. Năm 2015, nhóm nghiên cứu của Nguyễn Quang Hưng đã tiến hành xác định thành phần các acid béo trong chất béo từ quả Mùi.
Kết quả cho thấy, thành phần acid béo quả Mùi gồm các acid béo no (acid myristic, acid palmitic, acid stearic, acid arachidic, acid behenic) và các acid béo chưa no (acid petroselinic, acid oleic, acid linoleic, acid linolenic) [28]. Các hợp chất phenolic Năm 2012, Barros L. và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu xác định thành phần các hợp chất phenolic trong quả cây Mùi được thu mua từ các siêu thị ở Braganca (Bồ Đào Nha) bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC). Theo đó, ở nồng độ 5 mg/ml, thành phần và hàm lượng (mg) các hợp chất phenolic trong dịch chiết methanol - nước tỷ lệ 80:20 (v/v) trên 1 kg dược liệu khô được trình bày ở bảng 1.