Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn oesophagostomum spp gây ra trên lợn tại huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên và dùng thuốc điều trị

Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun tròn Oesophagostomum spp trên lợn tại Đồng Hỷ, Thái Nguyên và phương pháp điều trị hiệu quả.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Chăn nuôi thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2014

64
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI NÓI ĐẦU

1. PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục đích nghiên cứu

1.3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

1.3.1. Ý nghĩa khoa học

1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học của đề tài

2.2. Đặc điểm sinh học của Oesophagostomum

2.3. Bệnh Oesophagostomum spp.

2.4. Tình hình nghiên cứu bệnh Oesophagostomosis ở lợn

2.4.1. Tình hình nghiên cứu trong nước

2.4.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

3. PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

3.1.1. Đối tượng nghiên cứu

3.1.2. Vật liệu nghiên cứu

3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.2.1. Địa điểm nghiên cứu

3.2.2. Thời gian nghiên cứu

3.3. Nội dung nghiên cứu

3.3.1. Nghiên cứu về tình hình nhiễm và triệu chứng bệnh giun kết hạt ở lợn

3.3.2. Biện pháp phòng trị bệnh

3.4. Phương pháp nghiên cứu

3.4.1. Phương pháp lấy mẫu

3.4.2. Phương pháp xét nghiệm mẫu

3.4.3. Phương pháp theo dõi các biểu hiện lâm sàng của lợn bị bệnh Oesophagostomum spp.

3.4.4. Phương pháp xác định hiệu lực và độ an toàn của thuốc trị Oesophagostomum spp.

3.4.5. Đề xuất biện pháp phòng bệnh Oesophagostomum spp.

3.4.6. Phương pháp xử lý số liệu

4. PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn Oesophagostomum spp. gây ra ở lợn

4.2. Thực trạng phòng chống bệnh ký sinh trùng

4.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn Oesophagostomum spp. ở lợn tại một số xã thuộc huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên

4.4. Tỷ lệ và cường độ nhiễm Oesophagostomum spp. theo tuổi lợn

4.5. Tỷ lệ và cường độ nhiễm Oesophagostomum spp. theo giống lợn

4.6. Tỷ lệ và cường độ nhiễm Oesophagostomum spp. theo tháng

4.7. Tỷ lệ và cường độ nhiễm Oesophagostomum spp. theo phương thức chăn nuôi

4.8. Tỷ lệ lợn nhiễm Oesophagostomum spp. có biểu hiện lâm sàng

4.9. Sự ô nhiễm trứng Oesophagostomum spp.

4.10. Hiệu lực và độ an toàn của một số thuốc điều trị bệnh Oesophagostomum spp.

4.10.1. Hiệu lực của một số loại thuốc tẩy Oesophagostomum spp.

4.10.2. Độ an toàn của một số loại thuốc tẩy Oesophagostomum spp.

4.11. Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh Oesophagostomum spp.

5. PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn Oesophagostomum spp

Bệnh do giun tròn Oesophagostomum spp. gây ra là một trong những bệnh ký sinh trùng phổ biến ở lợn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất chăn nuôi. Tình hình dịch tễ học cho thấy bệnh này phân bố rộng rãi trên toàn quốc, đặc biệt là ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Đồng Hỷ, Thái Nguyên. Theo nghiên cứu, tỷ lệ nhiễm bệnh ở lợn con dưới 2 tháng tuổi lên tới 46,9%, trong khi lợn trên 8 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm lên đến 73,3%. Điều này cho thấy sự gia tăng tỷ lệ nhiễm theo độ tuổi, cho thấy lợn trưởng thành có nguy cơ cao hơn. Bệnh không chỉ gây ra thiệt hại về kinh tế mà còn làm giảm chất lượng sản phẩm chăn nuôi. Việc hiểu rõ về đặc điểm dịch tễ của bệnh là cần thiết để có biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

1.1. Tình hình nhiễm Oesophagostomum spp.

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ và cường độ nhiễm Oesophagostomum spp. ở lợn tại huyện Đồng Hỷ có sự khác biệt rõ rệt theo các yếu tố như tuổi, giống và phương thức chăn nuôi. Cụ thể, lợn nuôi theo phương thức thả rông có tỷ lệ nhiễm cao hơn so với lợn nuôi nhốt. Điều này cho thấy môi trường sống và cách thức chăn nuôi có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của giun tròn. Việc theo dõi và đánh giá tình hình nhiễm bệnh là rất quan trọng để đưa ra các biện pháp phòng trị kịp thời.

II. Phương pháp điều trị bệnh Oesophagostomum spp

Việc điều trị bệnh do Oesophagostomum spp. gây ra cần phải dựa trên các phương pháp khoa học và thực tiễn. Các loại thuốc tẩy giun được sử dụng phổ biến hiện nay bao gồm các hoạt chất như ivermectin và fenbendazole. Nghiên cứu cho thấy hiệu lực của các loại thuốc này trong việc tiêu diệt giun tròn là rất cao, tuy nhiên, cần phải chú ý đến độ an toàn của thuốc đối với lợn. Việc sử dụng thuốc không đúng cách có thể dẫn đến tình trạng kháng thuốc, làm giảm hiệu quả điều trị. Do đó, việc xác định liều lượng và thời gian điều trị là rất quan trọng.

2.1. Hiệu lực và độ an toàn của thuốc

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng các loại thuốc tẩy giun có hiệu lực cao trong việc điều trị bệnh do Oesophagostomum spp. gây ra. Tuy nhiên, độ an toàn của thuốc cũng cần được xem xét kỹ lưỡng. Các thử nghiệm cho thấy rằng ivermectin có thể gây ra một số tác dụng phụ nhẹ, nhưng nhìn chung là an toàn cho lợn. Việc theo dõi phản ứng của lợn sau khi điều trị là cần thiết để đảm bảo không có biến chứng xảy ra. Điều này không chỉ giúp bảo vệ sức khỏe của lợn mà còn đảm bảo an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng.

III. Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh Oesophagostomum spp

Để phòng chống bệnh do giun tròn Oesophagostomum spp. gây ra, cần thực hiện các biện pháp đồng bộ từ khâu chăn nuôi đến quản lý môi trường. Việc cải thiện điều kiện vệ sinh chuồng trại, giảm thiểu ô nhiễm môi trường sống của lợn là rất quan trọng. Ngoài ra, cần có các chương trình tiêm phòng và tẩy giun định kỳ cho lợn. Việc giáo dục người chăn nuôi về các biện pháp phòng ngừa cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu tỷ lệ nhiễm bệnh. Các biện pháp này không chỉ giúp bảo vệ sức khỏe của lợn mà còn nâng cao hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi.

3.1. Các biện pháp vệ sinh và quản lý

Các biện pháp vệ sinh chuồng trại cần được thực hiện thường xuyên để giảm thiểu sự phát triển của Oesophagostomum spp.. Việc dọn dẹp phân lợn, khử trùng chuồng trại và cung cấp nước sạch cho lợn là những yếu tố quan trọng. Ngoài ra, việc theo dõi sức khỏe của lợn thường xuyên cũng giúp phát hiện sớm các triệu chứng của bệnh, từ đó có biện pháp can thiệp kịp thời. Các biện pháp này không chỉ giúp giảm thiểu tỷ lệ nhiễm bệnh mà còn nâng cao năng suất chăn nuôi.

09/03/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn oesophagostomum spp gây ra trên lợn tại huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên và dùng thuốc điều trị

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay chăn nuôi lợn vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế của nước ta, là nguồn cung cấp thực phẩm chủ yếu cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Chăn nuôi lợn tạo ra sản phẩm có tỷ trọng cao và chất lượng tốt cho con người, là nguồn cung cấp phân bón rất lớn cho ngành trồng trọt. Chăn nuôi lợn kết hợp với trồng trọt, thủy sản tạo nên mô hình VAC mang lại hiệu quả kinh tế cao và có ý nghĩa lớn trong việc cải thiện môi trường sinh thái.

Thái Nguyên là tỉnh có nghề chăn nuôi lợn khá phát triển. Trong những năm qua, số lượng đàn lợn của tỉnh không ngừng tăng lên, nhiều trang trại được xây dựng mới, người dân đầu tư cho con lợn và xem đó là nghề ổn định của gia đình mình. Tuy nhiên thực tế cho thấy, ở nhiều địa phương, chăn nuôi lợn còn gặp nhiều khó khăn, hiệu quả chăn nuôi còn thấp lợn chậm lớn, còi cọc, tiêu chảy… Một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng đó là bệnh ký sinh trùng. Đây là bệnh kha phổ biến đối với gia súc, gia cầm.

Bệnh gây ra những thiệt hại đáng kể, làm giảm năng suất chăn nuôi, tạo điều kiện cho các bệnh khác kế phát. Giun kết hạt (Oesophagostomum) là ký sinh trùng gây bệnh cho nhiều loài động vật khác nhau trong đó có lợn. Giun trưởng thành ký sinh ở xoang ruột, ấu trùng ký sinh ở thành ruột tạo nên những u kén ở ruột gia súc. Súc vật khi nhiễm giun kết hạt nặng có thể chết.

Bệnh giun kết hạt ở lợn phân bố rộng ở hầu hết các vùng miền. Ở các tỉnh miền núi phía bắc, bệnh giun kết hạt rất phổ biến, tuy không gây ra thể bệnh cấp tính làm chết lợn hàng loạt, nhưng bệnh giun kết hạt làm cho lợn gầy yếu, giảm tăng trọng gây thiệt hại đáng kể về kinh tế cho chăn nuôi lợn. n 2 Trong những năm gần đây, chăn nuôi lợn ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên phát triển khá mạnh. Tuy nhiên, việc phòng bệnh ký sinh trùng, đặc biệt là bệnh do giun kết hạt còn ít được chú ý.

Xuất phát từ nhu cầu cấp bách của thực tế chăn nuôi lợn ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn Oesophagostomum spp. gây ra trên lợn tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên và dùng thuốc điều trị ”. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh do giun tròn Oesophagostomum spp. gây ra ở lợn tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị.

Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn Oesophagostomum spp. gây ra góp phần cho việc nghiên cứu các biện pháp phòng và điều trị Oesophagostomosis ở lợn, từ đó đề xuất quy trình phòng chống bệnh cho lợn. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi cách phòng trị bệnh do giun tròn Oesophagostomum spp.

gây ra, nhằm hạn chế tác hại cho lợn, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi và thúc đẩy nghành chăn nuôi lợn phát triển. n 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Đặc điểm sinh học của Oesophagostomum 1.

Vị trí của oesophagostomum trong hệ thống phân loại động vật học Oesophagostomum dentatum và Oesophagostomum longicaudum thuộc giống Oesophagostomum, là tác nhân gây ra bệnh Oesophagostomum (Oesophagostomatosis) ở lợn. Theo Skrjabin và cs. (1963) [30], Phan Thế Việt và cs. (1977) [27], Oesophagostomum ở lợn có vị trí trong hệ thống phân loại động vật như sau: Ngành Nemathelminthes Shneider, 1873 Phân ngành Nemathelmintha Shaneider và Schulz, 1940 Lớp Nematoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Secerentea Chitwood, 1933 Bộ Rhabditida Chitwood, 1933 Phân bộ Strogylata Railliet, 1916 Họ Trichonematidae Cram, 1927 Phân họ Oesophagostomatinae Railliet et Henr, 1913 Giống Oesophagostomum Molin, 1861 Loài Oesophagostomum dentatum Rudolphi, 1803 Loài Oesophagostomum longicaudum Goodey, 1925 1.

Đặc điểm hình thái và cấu tạo Oesophagostomum ký sinh ở lợn Đề cập đến hình thái và cấu tạo Oesophagostomum spp., Skrjabin và cs. (1963) [30] cho biết: Loài O. dentatum: Dài từ 7 – 14 mm, đầu được giới hạn với thân rõ rệt bởi ngăn bụng sâu. Bao miệng dài tới thực quản hình đinh ghim.

Con đực có túi đuôi, hai gai giao hợp bằng nhau dài 0,90 – 0,94 mm. Con cái âm hộ nằm gần hậu môn, hậu môn ở cách mút đuôi 0,255 – 0,265 mm. longicaudum: Con đực dài 8,8 – 9,6 mm, bánh lái gai giao hợp dạng xẻng. Con cái dài 8 – 11 mm, đuôi rất dài và thon, nhọn.

Hậu môn nằm n 4 cách mút đuôi 0,453 – 0,543 mm. Âm hộ cách đuôi 0,906 – 0,951 mm. Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [11] cho biết: Các loài thuộc giống Oesophagostomum có đặc điểm hình thái chung là: túi miệng hình ống rất nhỏ, quanh miệng có một bờ gồ lên hình đĩa, có các tua ở quanh miệng, có rãnh cổ; phía trước rãnh cổ biểu bì nở ra tạo thành túi đầu, sau rãnh cổ có gai cổ, giun đực có túi đuôi và một đôi gai giao hợp dài bằng nhau, âm hộ giun cái ở gần hậu môn. dentatum ký sinh ở ruột già của lợn, là loài giun tròn nhỏ, không có cánh đầu, có 9 rua ngoài và 18 rua trong.

Túi đầu to, gai cổ ở hai bên chỗ phình to của thực quản. Giun đực dài 8 - 9 mm, rộng 0,14 - 0,37 mm, có túi đuôi, có 2 gai giao hợp bằng nhau dài 1,0 - 1,14 mm. Giun cái dài 8 - 11,2 mm, âm đạo dài 0,1 - 0,15 mm, nằm gần hậu môn, hơi xuyên vào cơ quan thải trứng. Trứng hình bầu dục, dài 0,060 - 0,088 mm, rộng 0,035 - 0,050 mm.

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs. dentatum là loài giun tròn nhỏ, không có cánh đầu. Giun đực có kích thước 7,6 – 8,8 x 0,35 – 0,38mm, có túi đuôi, có hai gai giao hợp dài 0,792 – 1,037 mm. Giun cái dài 7,8 – 12,5 x 0,38 – 0,43 mm ; đuôi dài 0,405 – 0,430 mm.

Âm hộ ở trước hậu môn, cách hậu môn 0,208 – 0,388 mm, dài 0,1 – 1,15 mm hơi xuyên vào cơ quan thải trứng. Trứng hình ovan, kích thước 0,056 – 0,071 x 0,032 – 0,045 mm. Phần đầu cơ thể; 3. Đuôi của con cái; thể cái; 4.

Mút và gốc gai giao phối; 3. Đuôi của con đực; 4. Phần cuối gai 5. Cơ quan điều chỉnh; 6.

Túi đuôi cá giao hợp; 5. Nón sinh dục của thể đực; 7. con đực (Nguồn: Phan Thế Việt và cs. 1977) [27] (Nguồn: Phan Thế Việt và cs.

dentatum (Nguồn: http://courseware_s/kcxxl)[39] (Nguồn:http://cal. Vòng đời của Oesophagostomum spp. lợn Hagsten (1999) [29] cho rằng: Thực chất của bất kỳ chương trình khống chế giun sán nào thì việc phá vỡ vòng đời của chúng là cần thiết. Do vậy, hiểu được chu kỳ (vòng đời) phát triển của giun sán có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phòng chống các bệnh giun sán nói chung và bệnh Oesophagostomum spp.

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (1999) [7]: Toàn bộ quá trình phát triển, thay đổi qua những giai đoạn khác nhau của đời sống ký sinh trùng, kể từ khi nó là mầm sinh vật đầu tiên, cho đến khi nó lại có khả năng sản sinh ra mầm sinh vật mới, tạo ra một thế hệ mới thì toàn bộ quá trình đó được gọi là chu kỳ. Skrjabin và cs. (1963) [30] đã mô tả chi tiết về chu kỳ phát triển của Oesophagostomum spp.

lợn như sau: Trứng bài xuất ra ngoài ở giai đoạn phân chia 8 - 16 phôi bào. Người ta đã xác định được rằng, khi nhiệt độ thích hợp (30oC), ở trong trứng ấu trùng phát triển rất nhanh, chỉ qua 16 - 18 giờ ấu trùng đã nở ra khỏi trứng. Ấu trùng giai đoạn 1 ra khỏi trứng phát triển trong môi trường bên ngoài, đến ngày thứ tư thì lột xác lần thứ nhất. Sau đó 24 giờ ấu trùng lột xác lần thứ 2, tức là tách lớp vỏ và trở thành ấu trùng giai đoạn 2, n 6 rồi lột xác lần thứ hai thành ấu trùng giai đoạn 3.

Ấu trùng giai đoạn 3 là ấu trùng cảm nhiễm, tức là có khả năng gây bệnh đối với ký chủ. Tác giả cũng cho biết, khi gây nhiễm thực nghiệm trên lợn bằng ấu trùng cảm nhiễm O. Longicaudum, thấy có sự tạo thành các hạt ký sinh trong thành ruột sau hai ngày nhiễm bệnh. Sau 17 ngày, đa số ấu trùng chui ra khỏi hạt, ký sinh trong ống ruột ở giai đoạn phát triển thứ 4.

Sau 35 ngày cảm nhiễm thấy có hiện tượng mất các hạt ký sinh, ở chỗ hạt đó chỉ thấy mô niêm mạc dày lên. longicaudum đạt đến giai đoạn trưởng thành sau 50 ngày cảm nhiễm. Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [11]: Vòng đời Oesophagostomum spp. không cần vật chủ trung gian.

Trứng theo phân ra ngoài, gặp nhiệt độ 25 – 270C, sau 10 - 17 giờ nở thành ấu trùng, qua hai lần lột xác, sau 7 – 8 ngày thành ấu trùng gây nhiễm. Khi ký chủ nuốt phải ấu trùng này, tới ruột thì ấu trùng chui vào niêm mạc ruột tạo thành những u kén, lột xác lần thứ ba, tới ngày 6 – 8 thành ấu trùng kỳ IV, sau đó rời khỏi niêm mạc ruột và lột xác lần nữa và phát triển thành giun trưởng thành. Thời gian hoàn thành vòng đời của giun O. longicaudum là 50 ngày, giun O.

dentatum là 32 – 43 ngày. Phan Lục (2006) [18] cho biết: Ấu trùng O. dentatum khi vào ruột lợn chui sâu vào niêm mạc ruột già và hình thành hạt (u kén), trong có ấu trùng. Sau 23 ngày, ấu trùng chui ra khỏi kén, vào xoang ruột và phát triển thành giun trưởng thành sau 1,5 – 2 tháng.

Tuổi thọ của giun từ 8 – 10 tháng. Theo Phạm Sỹ Lăng và cs. (2009) [12]: Giun trưởng thành ký sinh trong ruột già lợn, đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài môi trường. Trứng gặp điều kiện nhiệt độ 25 - 27oC, sau 10 - 17 giờ nở thành ấu trùng.

Ấu trùng I sau 24 giờ, ở nhiệt độ 22 - 24oC phát dục thành ấu trùng II, dài 0,44 – 0,64 mm. Ấu trùng II phát triển được hai ngày thì thành ấu trùng gây nhiễm III. Ấu trùng này lẫn trong thức ăn, nước uống vào cơ thể ký chủ. Khi tới ruột, ấu trùng chui sâu vào niêm mạc ruột tạo thành những u kén và phát triển thành giun trưởng thành ở ruột già.

n 7 Vòng đời Oesophagostomum spp. có thể biểu diễn bằng sơ đồ sau: Oesophagostomum spp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và điều trị bệnh do giun tròn Oesophagostomum spp trên lợn tại Đồng Hỷ, Thái Nguyên là một tài liệu quan trọng tập trung vào việc phân tích đặc điểm dịch tễ và phương pháp điều trị bệnh do giun tròn Oesophagostomum spp gây ra trên đàn lợn tại khu vực Đồng Hỷ, Thái Nguyên. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin chi tiết về tình hình nhiễm bệnh mà còn đề xuất các biện pháp điều trị hiệu quả, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi và bảo vệ sức khỏe động vật. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu, bác sĩ thú y và người chăn nuôi quan tâm đến lĩnh vực ký sinh trùng và sức khỏe động vật.

Để mở rộng kiến thức về các bệnh ký sinh trùng khác, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ nghiên cứu nhiễm giun sán đường tiêu hóa và hô hấp ở lợn bản địa tỉnh Điện Biên đặc điểm bệnh do giun phổi Metastrongylus spp gây ra và biện pháp phòng trị, hoặc Luận án nghiên cứu thực trạng một số yếu tố liên quan đến nhiễm giun lươn Strongyloides spp và kết quả điều trị bằng ivermectin tại huyện Đức Hòa tỉnh Long An 2017 2018. Ngoài ra, Luận án đánh giá đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng hiệu quả điều trị bệnh do ấu trùng Gnathostoma spp bằng albendazole và ivermectin tại Viện Sốt rét Ký sinh trùng cũng là một tài liệu đáng chú ý để tìm hiểu thêm về các phương pháp điều trị ký sinh trùng hiệu quả.