Tổng quan luận án
Công trình "Nghiên cứu nhiễm giun sán đường tiêu hóa, bệnh sán dây do Moniezia spp. gây ra trên dê tại tỉnh Bắc Giang và biện pháp phòng trị" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Trần Thị Tâm dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Thị Kim Lan và TS. Phan Thị Hồng Phúc, bảo vệ năm 2022 tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, thuộc chuyên ngành Ký sinh trùng và Vi sinh vật học Thú y (Mã số: 9.04).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Chăn nuôi dê là một trong những giải pháp thúc đẩy kinh tế, chuyển đổi cơ cấu vật nuôi và xóa đói giảm nghèo tại các vùng trung du, miền núi của các nước đang phát triển. Tại Việt Nam, theo số liệu của Tổng cục Thống kê chăn nuôi tính đến ngày 01/01/2021, tổng đàn dê cả nước đạt khoảng 2,6 triệu con nhưng tốc độ tăng trưởng đàn còn chậm do nhiều nguyên nhân, trong đó dịch bệnh là yếu tố cản trở lớn. Bắc Giang là tỉnh trung du - miền núi với địa hình đồi núi chiếm 72% diện tích tự nhiên, có tiềm năng bãi chăn thả rộng lớn; quy mô đàn dê của tỉnh tính đến ngày 01/01/2021 đạt 26.245 con, tập trung ở các huyện miền núi như Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế và Sơn Động.
Tuy nhiên, phương thức chăn nuôi tại địa phương chủ yếu là chăn thả tự nhiên và bán chăn thả, điều kiện vệ sinh thú y chuồng trại chưa đảm bảo, tạo môi trường thuận lợi cho các bệnh ký sinh trùng phát triển. Bệnh giun, sán đường tiêu hóa, đặc biệt là bệnh sán dây do giống Moniezia gây ra, gây suy giảm sức khỏe đàn gia súc nghiêm trọng, dẫn đến tiêu chảy, suy dinh dưỡng, còi cọc, tắc ruột và tử vong ở dê non. Tại nhiều quốc gia (như Ethiopia), bệnh ký sinh trùng đường tiêu hóa hàng năm làm chết khoảng 5 - 7 triệu con dê cừu, gây thiệt hại ước tính 90 triệu USD và làm giảm 30 - 50% tổng giá trị sản phẩm chăn nuôi. Tại tỉnh Bắc Giang, trước thời điểm nghiên cứu, thực trạng nhiễm giun sán đường tiêu hóa và bệnh sán dây Moniezia trên đàn dê chưa được nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống; các đặc điểm dịch tễ học, vật chủ trung gian truyền bệnh, việc định danh căn nguyên bằng kỹ thuật sinh học phân tử cũng như các biện pháp phòng trị đặc hiệu, an toàn vẫn còn bỏ ngỏ.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác lập hệ thống mục tiêu nghiên cứu rõ ràng:
- Mục tiêu chung: Xác định thành phần loài, đánh giá tình hình nhiễm giun, sán đường tiêu hóa ở dê; làm rõ một số đặc điểm của bệnh do sán dây Moniezia spp. gây ra trên đàn dê tại tỉnh Bắc Giang và đề xuất biện pháp phòng trị bệnh hiệu quả.
- Mục tiêu cụ thể:
- Mục tiêu 1: Xác định được một số đặc điểm nhiễm giun, sán đường tiêu hóa ở đàn dê tại tỉnh Bắc Giang.
- Mục tiêu 2: Xác định được một số đặc điểm của bệnh do sán dây Moniezia spp. gây ra ở dê tại tỉnh Bắc Giang.
- Mục tiêu 3: Xây dựng được biện pháp phòng trị bệnh, góp phần hạn chế những thiệt hại do sán dây Moniezia spp. gây ra trên đàn dê tại địa bàn nghiên cứu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đàn dê nuôi tại tỉnh Bắc Giang (bao gồm các giống dê Cỏ, dê Bách Thảo, dê Boer ở các nhóm tuổi khác nhau); các loài giun, sán ký sinh ở đường tiêu hóa dê; bệnh do sán dây Moniezia spp. gây ra; các loài nhện đất thuộc họ Oribatidae đóng vai trò vật chủ trung gian truyền bệnh sán dây.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu được triển khai thực địa tại các nông hộ chăn nuôi dê thuộc 5 huyện trọng điểm của tỉnh Bắc Giang: Yên Thế, Lạng Giang, Lục Nam, Lục Ngạn và Sơn Động. Các phân tích chuyên sâu được thực hiện tại: Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi thú y (Trường Đại học Nông Lâm Bắc Giang), Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Bắc Giang, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương và Trung tâm Nghiên cứu giáo dục Đa dạng Sinh học (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2).
- Phạm vi thời gian: Toàn bộ dữ liệu dịch tễ học, xét nghiệm mẫu, thực nghiệm gây nhiễm và thử nghiệm điều trị được thu thập và hoàn thành trong giai đoạn từ tháng 6/2017 đến tháng 6/2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế
Các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra mức độ phổ biến và thiệt hại kinh tế to lớn do giun sán đường tiêu hóa gây ra trên đàn gia súc nhai lại nhỏ:
- Về thành phần loài và tình trạng nhiễm giun sán: Tại châu Á, các công trình của Rahman M. A. và cs. (2017) tại Bangladesh ghi nhận tỷ lệ nhiễm Haemonchus spp., Trichostrongylus spp. và Paramphistomum cervi dao động 28,17 - 50,00%, Moniezia spp. là 1,7%; tại Hàn Quốc, Choi K. S. và cs. (2015) ghi nhận Trichuris spp. và Moniezia expansa (2,1%); tại Nepal, Shrestha A. và cs. (2020) công bố tỷ lệ nhiễm Moniezia expansa đạt 18,18%; tại Lào, Vongxay K. và cs. (2019) ghi nhận 100% dê nhiễm Strongyloides spp. Tại châu Âu, các tác giả như Högberg N. và cs. (2015) tại Đan Mạch xác định tỷ lệ nhiễm Nematodirus spp. là 24,17%. Tại châu Phi, các nghiên cứu của Unigwe C. R. và cs. (2015) tại Nigeria ghi nhận tỷ lệ nhiễm giun tròn Strongyle từ 2,73% đến 93,33%; ElKhtam A. và Khalafalla R. (2016) tại Ai Cập khảo sát tỷ lệ nhiễm Fasciola gigantica (5,83%), Moniezia benedeni (0,71%), Avitellina centripunctata (4,00%).
- Về bệnh sán dây Moniezia: Các công trình của Saravanan S. (2017) và Sukhdeep Vohra và cs. (2018) tại Ấn Độ ghi nhận tỷ lệ nhiễm Moniezia spp. từ 11,6% đến 17,6%; Ndom M. (2016) tại Senegal công bố tỷ lệ nhiễm M. expansa là 6,2% và Thysaniezia ovilla là 2,10%. Các tác giả Fagbemi B. O. (1982) tại Nigeria mô tả chi tiết bệnh tích ruột non do sán dây gây viêm cata, hoại tử đông và tắc ruột cơ học. Về phòng trị, Nugara D. (1963) sử dụng niclosamide liều 50 mg/kg thể trọng; Yadav S. và cs. (2019) phối hợp praziquantel (3,75 mg/kg) và levamisole (7,5 mg/kg); Jamra N. và cs. (2015) ứng dụng dịch chiết cây gièng gièng (Butea frondosa) và dầu Neem; Jabbar A. và cs. (2015) sử dụng dịch chiết cây liễu.
Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về giun sán đường tiêu hóa ở gia súc nhai lại đã được ghi nhận qua nhiều giai đoạn:
| Tác giả / Năm công bố |
Địa bàn nghiên cứu |
Các phát hiện và số liệu chính |
| Phan Thế Việt và cs. (1977) |
Miền Bắc Việt Nam |
Xác định 4 loài sán dây ký sinh ở dê và gia súc nhai lại |
| Đào Hữu Thanh & Lê Sinh Ngoạn (1980) |
Tỉnh Ninh Bình |
Tỷ lệ nhiễm các loài giun sán ở dê dao động từ 33% đến 88% |
| Nguyễn Thị Lê và cs. (1996) |
Việt Nam |
Thống kê 11 loài sán lá ký sinh ở đường tiêu hóa dê |
| Nguyễn Thị Kim Lan (1999) |
Thái Nguyên, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Cao Bằng |
Tỷ lệ nhiễm Moniezia spp. ở dê Cỏ: Thái Nguyên (19,55%), Bắc Kạn (17,72%), Tuyên Quang (10,00%), Cao Bằng (14,96%); dê 5 - 8 tháng tuổi nhiễm cao nhất |
| Phan Địch Lân và cs. (2002) |
Các tỉnh phía Bắc |
Khảo sát tình hình nhiễm giun tròn và sán lá đường tiêu hóa trên dê |
| Bùi Thị Tho và cs. (2004) |
Nghiên cứu dược liệu |
Khảo sát hàm lượng hoạt chất alkaloid isopelletierin trong vỏ thân và vỏ rễ cây lựu (Punica granatum) có hoạt lực tẩy trừ sán dây |
| Nguyễn Hữu Hưng (2011) |
Tỉnh Trà Vinh |
Xác định 8 loài giun sán; tỷ lệ nhiễm M. benedeni là 14,96% và M. expansa là 13,39% |
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu cơ bản, phần lớn tài liệu trong nước được thực hiện từ nhiều năm trước và chưa cập nhật các biến động dịch tễ trong điều kiện chăn nuôi hiện đại. Luận án của NCS. Trần Thị Tâm lựa chọn giải quyết các khoảng trống học thuật cụ thể:
- Thiếu dữ liệu dịch tễ học đồng bộ về thành phần loài và mức độ nhiễm giun sán đường tiêu hóa trên đàn dê tại tỉnh Bắc Giang.
- Chưa áp dụng kỹ thuật sinh học phân tử hiện đại (PCR và giải trình tự gen) để giám định chính xác loài sán dây ký sinh trên dê và so sánh với loài ký sinh trên bò.
- Chưa xác định thành phần loài nhện đất họ Oribatidae đóng vai trò vật chủ trung gian truyền bệnh sán dây trong điều kiện sinh thái địa phương.
- Chưa xây dựng bản đồ dịch tễ học lưu hành bệnh sán dây cấp xã nhằm phục vụ công tác quy hoạch thú y.
- Thiếu các thử nghiệm lâm sàng đối chứng về việc sử dụng thảo dược bản địa (nước sắc vỏ thân cây thạch lựu) thay thế hóa dược trong điều trị sán dây cho dê.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và mô hình sinh học
Luận án vận dụng các nguyên lý cơ bản của ký sinh trùng học thú y và dịch tễ học thú y:
- Chu kỳ sinh học của sán lá (Trematoda): Vận dụng mô hình vòng đời của Diana Williams (2020), từ trứng nở thành mao ấu (miracidium) trong môi trường nước, xâm nhập ốc vật chủ trung gian phát triển qua các giai đoạn bào ấu (sporocyst), lôi ấu (redia), vĩ ấu (cercaria), hình thành nang kén (metacercaria) trên cỏ và xâm nhập vào vật chủ chính qua đường tiêu hóa.
- Chu kỳ sinh học của giun tròn (Nematoda): Tiếp cận theo mô hình và đường cong tăng trưởng của Cox (1993), gồm pha tiền ký sinh ngoài môi trường và pha ký sinh trong cơ thể vật chủ, trải qua 7 giai đoạn với 4 lần lột xác (L1 đến L5 và thành thục).
- Chu kỳ sinh học của sán dây Moniezia: Vòng đời phát triển gián tiếp qua vật chủ trung gian là nhện đất thuộc họ Oribatidae; ấu trùng 6 móc (oncosphere) phát triển thành ấu trùng có sức gây bệnh (cysticercoid) trong cơ thể nhện đất (120 - 180 ngày) trước khi truyền sang dê qua đường thức ăn.
- Cơ chế bệnh sinh: Tác động đầu độc (tiết độc tố vào niêm mạc ruột, cơ quan nội tạng và hệ thần kinh), tác động cơ giới (giác bám gây tổn thương xuất huyết, kích thước sán lớn làm tắc, lồng hoặc thủng ruột) và tác động chiếm đoạt chất dinh dưỡng qua thẩm thấu bề mặt (sán có thể tăng chiều dài tới 8 cm/ngày đêm).
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang và nghiên cứu can thiệp theo tài liệu của Nguyễn Như Thanh và cs. (2001).
Thiết kế lấy mẫu chùm nhiều bậc (5 huyện x 5 xã/huyện x 3 thôn/xã)
Dung lượng mẫu và phân tầng thu thập
Dung lượng mẫu phân được tính toán bằng phần mềm dịch tễ học Winepiscope 2.0 với tỷ lệ nhiễm dự đoán 50%, độ tin cậy 95%. Tổng số mẫu phân thu thập là 1.977 mẫu, mổ khám 200 con dê:
| STT |
Địa bàn điều tra (Huyện) |
Số dê thu thập mẫu phân (con) |
Số dê mổ khám toàn diện (con) |
| 1 |
Yên Thế |
422 |
43 |
| 2 |
Lạng Giang |
325 |
32 |
| 3 |
Lục Nam |
362 |
36 |
| 4 |
Lục Ngạn |
456 |
47 |
| 5 |
Sơn Động |
412 |
42 |
| Tổng |
5 huyện |
1.977 |
200 |
Phân tầng thu thập mẫu:
- Theo lứa tuổi: $\le 3$ tháng tuổi (347 con); $> 3 - 6$ tháng tuổi (632 con); $> 6 - 12$ tháng tuổi (519 con); $> 12$ tháng tuổi (479 con).
- Theo giống dê: Dê Cỏ địa phương (759 con); dê Bách Thảo (527 con); dê Boer nhập nội (691 con).
- Theo phương thức chăn nuôi: Chăn nuôi truyền thống (982 con); chăn nuôi bán công nghiệp (995 con).
- Theo mùa trong năm: Mùa Xuân (479 con); mùa Hè (536 con); mùa Thu (564 con); mùa Đông (398 con).
Kỹ thuật xét nghiệm và phân tích trong phòng thí nghiệm
- Xét nghiệm phân: Sử dụng phương pháp lắng cặn Benedek (1943) tìm đốt sán dây và trứng sán lá; phương pháp phù nổi Fulleborn bằng dung dịch muối bão hòa (tỷ trọng 1,18 - 1,20) tìm trứng giun tròn; nuôi cấy phân theo phương pháp Brumpt và phân ly ấu trùng theo phương pháp Vaida.
- Mổ khám và định loại hình thái: Mổ khám toàn diện cơ quan tiêu hóa theo Skrjabin (1928); nhuộm tiêu bản sán bằng phẩm nhuộm Carmin, làm trong bằng Lactophenol và Xylen, gắn Baume Canada; bảo quản mẫu trong cồn $70^\circ$ và dung dịch Barbagallo. Khóa định loại dựa theo Skrjabin và Petrov (1963), Phan Thế Việt và cs. (1977), Nguyễn Thị Lê và cs. (1996), Nguyễn Thị Kỳ (2003). Quan sát siêu cấu trúc bằng kính hiển vi điện tử quét S-4800 (FE-SEM, Hitachi).
- Sinh học phân tử:
- Tách chiết DNA tổng số bằng DNeasy Tissue Kit (QIAGEN).
- Phản ứng PCR nhân bản đoạn gen đích ITS2 (cặp mồi 3S: 5'-GGTACCGGTTCATCCTCGCTC-3' và A28: 5'-GGGATCCTGGTTAGTTTCTTTTCCT-3') và đoạn gen ty thể cox1 (cặp mồi JB3: 5'-TTTTTTGGGCATCCTGAGGTTTAT-3' và JB4.5: 5'-TAAAGAAAGAACATAATGAAAATG-3').
- Chu trình nhiệt: $95^\circ\text{C}/3\text{ phút} \rightarrow 30\text{ chu kỳ }(95^\circ\text{C}/30\text{s}, 54^\circ\text{C}/1\text{ phút}, 72^\circ\text{C}/1\text{ phút}) \rightarrow 72^\circ\text{C}/10\text{ phút}$.
- Tinh sạch sản phẩm PCR bằng QIAquick PCR Purification Kit (QIAGEN), giải trình tự tự động trên hệ thống ABI 3730 DNA Analyzer tại Macrogen (Hàn Quốc).
- Xử lý dữ liệu và dựng cây phả hệ phát sinh loài bằng phần mềm MEGA 7 theo phương pháp Maximum Likelihood (ML) với 1.000 lần lặp bootstrap. Các trình tự được đăng ký lên GenBank với mã số LC422625 - LC422636 và LC459960 - LC459967.
- Chỉ tiêu huyết học và mô bệnh học: Phân tích các chỉ số hồng cầu, số lượng và công thức bạch cầu trên máy Erma PCE-210; làm tiêu bản mô bệnh học ruột non bằng máy cắt Microtome và nhuộm Hematoxylin - Eosin (H.E).
- Xử lý số liệu dịch tễ: Tính toán tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm, tỷ số chênh (Odds Ratio - OR) và nguy cơ tương đối (Relative Risk - RR) theo công thức dịch tễ học chuẩn.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở khoa học và tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài:
- Cơ sở khoa học về ký sinh trùng đường tiêu hóa: Trình bày chi tiết đặc điểm hình thái, cấu tạo giải phẫu và vị trí ký sinh của các loài sán lá (Fasciola hepatica, F. gigantica, Paramphistomum cervi, Eurytrema pancreaticum), sán dây (Moniezia expansa, M. benedeni, Avitellina centripunctata, Thysaniezia ovilla) và giun tròn (Haemonchus contortus, Trichostrongylus colubriformis, T. axei, Oesophagostomum columbianum, O. venulosum, Cooperia pectinata, Trichocephalus ovis, Strongyloides papillosus...).
- Cơ sở bệnh học và chu kỳ sinh học: Phân tích cơ chế tác động bệnh lý của sán dây Moniezia lên cơ thể gia súc nhai lại non; chu kỳ sinh học phát triển qua vật chủ trung gian là nhện đất Oribatidae (với mật độ tự nhiên có thể đạt 15.000 con/$\text{m}^2$ đất bề mặt, điều kiện sống thích hợp ở $18 - 25^\circ\text{C}$ và độ ẩm cao).
- Tổng quan các biện pháp chẩn đoán và điều trị: Đánh giá các phương pháp xét nghiệm phân (lắng cặn Benedek, phù nổi Fulleborn), chẩn đoán bằng điều trị thử nghiệm (Niclosamide - Tetramisol B), các hoạt chất hóa dược (Niclosamide, Praziquantel, Mebendazole) và tiềm năng dược liệu từ vỏ thân cây lựu chứa hoạt chất isopelletierin.
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và chăn nuôi dê tại Bắc Giang: Phân tích đặc điểm địa hình (72% vùng núi, 28% vùng trung du), khí hậu nhiệt đới gió mùa (độ ẩm trung bình 83%, lượng mưa 1.533 mm/năm) và thực trạng cơ cấu đàn dê toàn tỉnh (26.245 con) phân bố tại các huyện. Phân tích hai phương thức chăn nuôi hiện hữu: bán chăn thả và chăn thả truyền thống.
Chương 2: Đối tượng, vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp luận, địa bàn, mẫu vật và quy trình kỹ thuật được áp dụng trong toàn bộ nghiên cứu:
- Tổ chức thực nghiệm và lấy mẫu: Thiết kế điều tra cắt ngang trên 1.977 mẫu phân dê tại 5 huyện (Yên Thế, Lạng Giang, Lục Nam, Lục Ngạn, Sơn Động) và mổ khám 200 cơ quan tiêu hóa dê.
- Nghiên cứu trên đàn dê thực nghiệm: Sử dụng 17 con dê Cỏ khỏe mạnh 5 tháng tuổi (5 con bố trí gây nhiễm sán dây theo dõi bệnh lý lâm sàng và huyết học; 12 con bố trí thử nghiệm 3 phác đồ điều trị).
- Quy trình sinh học phân tử: Trình bày chi tiết từng bước tách chiết DNA bằng DNeasy Tissue Kit, nồng độ hóa chất trong phản ứng PCR (Master Mix Dream Taq Green 2X, mồi 10 pmol, enzyme Taq 5U/$\mu\text{l}$), chu trình nhiệt, điện di gel agarose 1%, tinh sạch sản phẩm PCR và giải trình tự gen.
- Phương pháp thu thập và định danh vật chủ trung gian: Quy trình phân lập nhện đất từ mẫu đất bãi chăn thả, mổ khám tìm ấu trùng cysticercoid và định danh loài nhện đất.
- Phương pháp bố trí thử nghiệm phác đồ điều trị: Thiết lập 3 phác đồ tẩy sán dây:
- Phác đồ 1: Praziquantel.
- Phác đồ 2: Nước sắc vỏ thân cây thạch lựu.
- Phác đồ 3: Nước sắc vỏ thân cây thạch lựu kết hợp thuốc tẩy muối $\text{MgSO}_4$.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm thu được từ quá trình nghiên cứu, được chia thành 4 nhóm nội dung chính:
1. Thực trạng nhiễm giun, sán đường tiêu hóa ở dê tại tỉnh Bắc Giang
- Công tác phòng chống giun sán tại nông hộ: Kết quả điều tra phiếu phỏng vấn cho thấy nhận thức và việc thực hiện các biện pháp vệ sinh phòng bệnh giun sán của người nuôi dê tại địa phương còn nhiều hạn chế, tỷ lệ tẩy giun sán định kỳ cho đàn dê chưa cao.
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm qua mổ khám và xét nghiệm phân:
- Xác định thành phần loài giun sán đường tiêu hóa ký sinh trên đàn dê tại 5 huyện thuộc tỉnh Bắc Giang, bao gồm các loài thuộc lớp Sán lá (Trematoda), Sán dây (Cestoda) và Giun tròn (Nematoda).
- Khảo sát sự phân bố tỷ lệ nhiễm theo địa bàn (huyện Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Sơn Động, Lạng Giang); tỷ lệ nhiễm đơn lẻ và nhiễm hỗn hợp nhiều loài giun sán đồng thời.
- Phân tích sự biến động tỷ lệ nhiễm theo các yếu tố dịch tễ:
- Theo lứa tuổi: Dê non giai đoạn dưới 6 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm sán dây cao, trong khi tỷ lệ nhiễm các loài giun tròn có xu hướng tăng theo độ tuổi.
- Theo giống: Đánh giá sự khác biệt về mức độ cảm nhiễm giữa giống dê Cỏ địa phương, dê Bách Thảo và dê Boer.
- Theo phương thức chăn nuôi: Phương thức nuôi truyền thống có tỷ lệ và cường độ nhiễm giun sán cao hơn phương thức bán công nghiệp.
- Theo mùa vụ: Tỷ lệ nhiễm tăng cao vào các tháng mùa Xuân và mùa Hè do nhiệt độ và độ ẩm thuận lợi cho mầm bệnh phát tán.
2. Nghiên cứu bệnh sán dây do Moniezia spp. gây ra ở dê
- Định danh loài sán dây:
- Qua mổ khám thu thập 174 cá thể sán dây ở dê và 50 cá thể sán dây ở bò. So sánh hình thái, cấu tạo đốt sán già và sự sắp xếp của tuyến giữa đốt: ở sán dây thu từ dê, tuyến giữa đốt phân bố dạng hoa thị xếp thành hàng ngang đặc trưng cho Moniezia expansa; ở sán dây thu từ bò, tuyến giữa đốt tập trung dạng vạch ở cạnh trên giữa đốt đặc trưng cho Moniezia benedeni.
- Kết quả phân tích sinh học phân tử bằng PCR đoạn gen cox1 và ITS2, giải trình tự và xây dựng cây phả hệ Maximum Likelihood (MEGA 7) khẳng định: các mẫu sán dây thu từ dê tại Bắc Giang thuộc loài Moniezia expansa, phân nhóm rõ ràng và tách biệt với loài Moniezia benedeni thu từ bò.
- Dịch tễ học bệnh sán dây và vật chủ trung gian:
- Đánh giá nguy cơ nhiễm bệnh theo phương thức chăn nuôi qua các chỉ số dịch tễ học $RR$ và $OR$, khẳng định dê nuôi truyền thống chăn thả tự do có nguy cơ nhiễm sán dây cao gấp nhiều lần so với dê nuôi bán công nghiệp.
- Phân lập và định danh được 9 loài nhện đất thuộc họ Oribatidae tại các bãi chăn thả của tỉnh Bắc Giang đóng vai trò là vật chủ trung gian chứa ấu trùng cysticercoid.
- Xác định thời gian hoàn thành chu kỳ sinh học của sán dây M. expansa trong cơ thể dê là 47 - 48 ngày.
- Xây dựng bản đồ dịch tễ mô tả sự lưu hành của bệnh sán dây tại các xã thuộc 5 huyện của tỉnh Bắc Giang.
3. Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh sán dây Moniezia
- Theo dõi trên dê gây nhiễm thực nghiệm và dê nhiễm tự nhiên:
- Triệu chứng lâm sàng: Dê ủ rũ, ăn ít, khát nước, phân chuyển từ sệt sang lỏng có lẫn chất nhầy và đốt sán già; thiếu máu thể hiện qua niêm mạc mắt nhợt nhạt, lông xơ xác; một số cá thể biểu hiện triệu chứng thần kinh (lảo đảo, quay cuồng).
- Biến đổi chỉ tiêu huyết học: Hệ hồng cầu suy giảm (số lượng hồng cầu và hàm lượng huyết sắc tố giảm rõ rệt); tổng số bạch cầu tăng cao, đặc biệt là tỷ lệ bạch cầu ái toan (eosinophil) tăng mạnh.
- Tổn thương giải phẫu bệnh:
- Đại thể: Ruột non viêm cata, niêm mạc xuất huyết rải rác, lòng ruột chứa đầy búi sán gây tắc cơ học; hiện tượng tích dịch ở xoang bao tim, xoang ngực và xoang bụng.
- Vi thể: Hoại tử đông niêm mạc ruột, teo và dính các nhung mao ruột, sự gia tăng tế bào cốc và thâm nhiễm dày đặc tế bào đơn nhân cùng bạch cầu ái toan tại lớp đệm niêm mạc.
4. Thử nghiệm và đề xuất biện pháp phòng trị bệnh sán dây
- Hiệu lực của các phác đồ điều trị:
- Thử nghiệm trên đàn dê gây nhiễm và dê nhiễm tự nhiên tại thực địa cho thấy cả 3 phác đồ đều có hiệu lực tẩy sán cao.
- Phác đồ sử dụng nước sắc vỏ thân cây thạch lựu kết hợp thuốc tẩy muối $\text{MgSO}_4$ đạt hiệu lực tẩy sán tương đương phác đồ hóa dược chuẩn (Praziquantel), đảm bảo độ an toàn cao, không gây tác dụng phụ và giúp gia súc nhanh phục hồi.
- Thử nghiệm ứng dụng diện rộng tại các huyện chứng minh tính khả thi và hiệu quả kinh tế của phác đồ thảo dược.
- Đề xuất quy trình phòng chống tổng hợp: Xây dựng quy trình vệ sinh chuồng trại, xử lý phân bằng phương pháp ủ nhiệt sinh học diệt trứng sán, luân chuyển bãi chăn thả, tránh chăn thả sáng sớm/ngày mưa ẩm và định kỳ tẩy sán cho dê sau khi chăn thả 30 - 35 ngày.
Kết luận và Đề nghị
Tóm lược toàn diện các kết luận khoa học rút ra từ các nội dung nghiên cứu và đưa ra các đề nghị cụ thể về việc áp dụng phác đồ thảo dược và bản đồ dịch tễ vào công tác thú y tại tỉnh Bắc Giang.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn
Luận án tự xác định các đóng góp mới mang tính học thuật và ứng dụng thực tiễn:
- Định danh phân tử chính xác loài sán dây ở dê: Đã định danh chính xác loài sán dây Moniezia expansa ký sinh ở đường tiêu hóa của dê tại tỉnh Bắc Giang bằng việc kết hợp giữa phương pháp hình thái học truyền thống và kỹ thuật sinh học phân tử (PCR, giải trình tự đoạn gen nhân ITS2 và đoạn gen ty thể cox1).
- Làm rõ vật chủ trung gian và chu kỳ sinh học: Đã định danh được 9 loài nhện đất thuộc họ Oribatidae tại địa phương đóng vai trò là vật chủ trung gian truyền bệnh sán dây M. expansa; đồng thời xác định chính xác thời gian hoàn thành vòng đời của M. expansa trong cơ thể dê là 47 - 48 ngày.
- Xây dựng bản đồ dịch tễ học: Đã xây dựng thành công bản đồ dịch tễ học mô tả chi tiết sự phân bố và lưu hành của bệnh sán dây trên đàn dê tại các xã thuộc 5 huyện trọng điểm của tỉnh Bắc Giang, cung cấp căn cứ trực quan cho công tác quản lý dịch bệnh thú y.
- Phát triển phác đồ phòng trị bằng thảo dược: Đã chứng minh hiệu lực tẩy sán dây cao và tính an toàn của phác đồ sử dụng nước sắc vỏ thân cây thạch lựu kết hợp với thuốc tẩy muối $\text{MgSO}_4$, tạo cơ sở khoa học cho việc ứng dụng thảo dược bản địa trong thú y nhằm hạn chế nguy cơ tồn dư hóa dược trong sản phẩm thịt và sữa dê.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Áp dụng rộng rãi biện pháp phòng trừ tổng hợp bệnh sán dây cho dê tại các vùng chăn nuôi trọng điểm của tỉnh Bắc Giang.
- Thực hiện tẩy sán định kỳ cho đàn dê sau khi đưa ra bãi chăn thả từ 30 - 35 ngày (không để quá 50 ngày) nhằm tiêu diệt sán trước giai đoạn trưởng thành thải đốt già ra môi trường.
- Khuyến khích người chăn nuôi kết hợp các biện pháp cải tạo đồng cỏ, ủ phân sinh học diệt mầm bệnh và sử dụng phác đồ thảo dược từ vỏ thân cây thạch lựu để nâng cao hiệu quả kinh tế và an toàn thực phẩm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
Dựa trên phạm vi nghiên cứu được văn bản công bố, công trình tồn tại một số giới hạn:
- Phạm vi khảo sát dịch tễ học thực địa tập trung tại 5 huyện vùng núi và trung du (Yên Thế, Lạng Giang, Lục Nam, Lục Ngạn, Sơn Động), chưa bao phủ toàn bộ 10 đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Bắc Giang.
- Nghiên cứu thực nghiệm phác đồ điều trị thảo dược mới dừng lại ở dạng nước sắc thủ công truyền thống kết hợp muối khoáng $\text{MgSO}_4$, chưa tiến hành chiết xuất tinh khiết hoạt chất alkaloid isopelletierin để chuẩn hóa thành dạng chế phẩm thương mại tiện dụng.
- Dữ liệu nghiên cứu vật chủ trung gian nhện đất được theo dõi trong khung thời gian giới hạn (2017 - 2020), chưa đánh giá biến động mật độ quần thể nhện đất theo chu kỳ biến đổi khí hậu nhiều năm.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng điều tra dịch tễ học phân tử đối với các bệnh ký sinh trùng đường tiêu hóa khác trên các đối tượng gia súc nhai lại nhỏ (dê, cừu) tại các tỉnh thuộc vùng Đông Bắc và Tây Bắc Việt Nam.
- Nghiên cứu công nghệ chiết xuất, tinh chế và bào chế hoạt chất trị sán từ vỏ cây thạch lựu thành các dạng thuốc thú y công nghiệp đạt tiêu chuẩn ổn định về hàm lượng và thời gian bảo quản.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo chuyên môn sâu sắc cho nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Thú y, Chăn nuôi, Sinh thái học: Luận án cung cấp quy trình nghiên cứu chuẩn mực kết hợp giữa phương pháp dịch tễ học mô tả cắt ngang, mổ khám bệnh lý truyền thống với các kỹ thuật sinh học phân tử hiện đại (PCR, giải trình tự gen ITS2 và cox1, xử lý cây phả hệ bằng phần mềm MEGA 7).
- Đối với giảng viên và cán bộ nghiên cứu: Cung cấp tài liệu tham khảo chi tiết về hệ thống phân loại ký sinh trùng đường tiêu hóa gia súc, đặc điểm siêu cấu trúc của giun sán và danh mục các loài nhện đất họ Oribatidae tại Việt Nam.
- Đối với cán bộ quản lý thú y và cơ quan khuyến nông: Bản đồ dịch tễ học lưu hành bệnh sán dây và các chỉ số nguy cơ ($RR, OR$) là cơ sở dữ liệu quan trọng giúp Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Bắc Giang xây dựng lịch trình phòng trừ dịch bệnh ký sinh trùng hàng năm.
- Đối với người chăn nuôi và chủ trang trại: Phác đồ tẩy sán dây bằng nước sắc vỏ thân cây thạch lựu kết hợp $\text{MgSO}_4$ là giải pháp kỹ thuật dễ thực hiện, chi phí thấp, giúp nâng cao tỷ lệ nuôi sống và năng suất đàn dê.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án đã định danh loài sán dây gây bệnh chính trên đàn dê tại Bắc Giang là loài nào và bằng những phương pháp gì?
Luận án xác định loài sán dây gây bệnh trên đàn dê tại Bắc Giang là Moniezia expansa. Việc định danh được thực hiện bằng cách kết hợp hai phương pháp: (1) Phương pháp hình thái học thường quy thông qua mổ khám, nhuộm tiêu bản Carmin quan sát cấu tạo đốt sán già và đặc điểm tuyến giữa đốt dạng hoa thị xếp hàng ngang; (2) Phương pháp sinh học phân tử sử dụng kỹ thuật PCR khuếch đại đoạn gen ty thể cox1 (cặp mồi JB3/JB4.5) và đoạn gen nhân ITS2 (cặp mồi 3S/A28), giải trình tự tự động và phân tích cây phả hệ phát sinh loài bằng phương pháp Maximum Likelihood trên phần mềm MEGA 7.
2. Vật chủ trung gian truyền bệnh sán dây Moniezia expansa tại địa bàn nghiên cứu gồm những loài nào?
Nghiên cứu đã phân lập và định danh được 9 loài nhện đất thuộc họ Oribatidae tại tỉnh Bắc Giang đóng vai trò là vật chủ trung gian mang ấu trùng cysticercoid của sán dây Moniezia expansa. Thời gian hoàn thành vòng đời phát triển của M. expansa từ khi xâm nhập vào cơ thể dê cho đến khi trưởng thành thải đốt sán già theo phân được xác định là 47 - 48 ngày.
3. Dung lượng mẫu và địa bàn thu thập số liệu của luận án được bố trí ra sao?
Luận án tiến hành lấy mẫu chùm nhiều bậc tại 5 huyện của tỉnh Bắc Giang gồm Yên Thế, Lạng Giang, Lục Nam, Lục Ngạn và Sơn Động. Tổng dung lượng mẫu điều tra gồm 1.977 mẫu phân dê (phân theo lứa tuổi, giống dê, phương thức nuôi và mùa trong năm) và 200 con dê mổ khám toàn diện cơ quan tiêu hóa theo phương pháp Skrjabin (1928). Ngoài ra, nghiên cứu sử dụng 17 con dê Cỏ 5 tháng tuổi khỏe mạnh cho các nội dung gây nhiễm thực nghiệm và thử nghiệm điều trị.
4. Luận án đã thử nghiệm những phác đồ tẩy sán dây nào và kết quả ra sao?
Tác giả đã thử nghiệm 3 phác đồ điều trị: (1) Thuốc hóa dược Praziquantel; (2) Nước sắc vỏ thân cây thạch lựu; (3) Nước sắc vỏ thân cây thạch lựu kết hợp thuốc tẩy muối $\text{MgSO}_4$. Kết quả cho thấy phác đồ sử dụng nước sắc vỏ thân cây thạch lựu kết hợp $\text{MgSO}_4$ đạt hiệu lực tẩy sán cao tương đương với Praziquantel, an toàn cho dê và không gây tác dụng phụ.
5. Bệnh sán dây Moniezia expansa gây ra những biến đổi bệnh lý và huyết học chủ yếu nào trên dê?
Trên dê mắc bệnh, sán dây gây tiêu chảy nặng, phân có lẫn dịch nhầy và đốt sán già, niêm mạc nhợt nhạt do thiếu máu và có thể xuất hiện triệu chứng thần kinh. Về huyết học, số lượng hồng cầu và hàm lượng huyết sắc tố giảm mạnh, tổng số bạch cầu tăng và tỷ lệ bạch cầu ái toan tăng cao. Về giải phẫu bệnh, ruột non bị viêm cata, xuất huyết niêm mạc, lòng ruột bị bít tắc cơ học bởi búi sán, tích dịch ở xoang bao tim, xoang ngực, xoang bụng; vi thể có tổn thương hoại tử đông biểu mô và dính các nhung mao ruột.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thị Tâm là công trình khoa học chuyên khảo toàn diện về tình hình nhiễm giun sán đường tiêu hóa và bệnh sán dây do Moniezia expansa gây ra trên đàn dê tại tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2017 - 2020. Tác giả đã kết hợp chặt chẽ giữa dịch tễ học thực địa, bệnh lý học lâm sàng và các công cụ sinh học phân tử hiện đại để định danh chính xác loài ký sinh trùng, xác định 9 loài nhện đất Oribatidae làm vật chủ trung gian, đo đạc chu kỳ sinh học 47 - 48 ngày và xây dựng bản đồ dịch tễ lưu hành bệnh. Đồng thời, việc thử nghiệm thành công phác đồ điều trị bằng nước sắc vỏ thân cây thạch lựu kết hợp $\text{MgSO}_4$ đã mang lại giải pháp kỹ thuật phòng trị bệnh an toàn, hiệu quả, đóng góp thiết thực cho sự phát triển bền vững của ngành chăn nuôi dê tại địa phương.