ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của đề tài Ở Việt Nam, trong những năm gần đây ngành chăn nuôi phát triển khá mạnh, đặc biệt là chăn nuôi lợn đã đáp ứng được nhu cầu về thực phẩm của nhân dân, góp phần đưa nền kinh tế nước ta phát triển. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy ngành chăn nuôi, trong đó có ngành chăn nuôi lợn phát triển. Tuy nhiên, dịch bệnh vẫn thường xuyên xảy ra trên đàn lợn, gây nên những thiệt hại đáng kể cho ngành chăn nuôi.
Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới có điều kiện thuận lợi cho nhiều loài ký sinh trùng phát triển, ký sinh và gây bệnh cho vật nuôi. Đây chính là vấn đề khó khăn lớn cho ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng trong công tác phòng trừ và điều trị bệnh ký sinh trùng. Bệnh ký sinh trùng không gây ra các ổ dịch lớn như bệnh truyền nhiễm, song bệnh ký sinh trùng thường diễn ra ở thể mãn tính, làm lợn sinh trưởng và phát triển chậm, tiêu tốn thức ăn tăng, các chi phí như thuốc điều trị, công chăm sóc nuôi dưỡng cũng tăng. Trong các bệnh ký sinh trùng, bệnh do giun tròn Oesophagostomum spp.
gây ra ở lợn phân bố ở hầu hết các vùng miền, đặc biệt là ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Tuy không làm cho lợn chết nhiều nhưng giun tròn Oesophagostomum spp. làm cho lợn gầy yếu, giảm tăng trọng, gây thiệt hại đáng kể về kinh tế cho người chăn nuôi lợn. Trong những năm gần đây, chăn nuôi lợn ở Thái Nguyên phát triển khá mạnh.
Tuy nhiên, việc phòng trị bệnh ký sinh trùng, đặc biệt là bệnh do giun tròn Oesophagostomum spp. Xuất phát từ nhu cầu cấp bách của thực tế chăn nuôi lợn ở tỉnh Thái Nguyên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn Oesophagostomum spp. gây ra trên lợn tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và dùng thuốc điều trị”. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh do giun tròn Oesophagostomum spp.
gây ra ở lợn tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn Oesophagostomum spp. gây ra, góp phần cho việc nghiên cứu các biện pháp phòng và điều trị Oesophagostomosis ở lợn, từ đó đề xuất quy trình phòng chống bệnh cho lợn.
Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi cách phòng trị bệnh do giun tròn Oesophagostomum spp. gây ra, nhằm hạn chế tác hại cho lợn, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi và thúc đẩy ngành chăn nuôi lợn phát triển. 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Đặc điểm sinh học của giun tròn Oesophagostomum spp.
Vị trí của giun tròn Oesophagostomum spp. trong hệ thống phân loại động vật học Oesophagostomum dentatum và Oesophagostomum longicaudum thuộc giống Oesophagostomum spp. là tác nhân gây ra bệnh giun kết hạt (Oesophagostomosis) ở lợn. và cs (1963) [30], Phan Thế Việt và cs (1977) [27], giun tròn Oesophagostomum spp.
ở lợn có vị trí trong hệ thống phân loại động vật như sau: Ngành Nemathelminthes Shneider, 1873 Phân ngành Nemathelmintha Shaneider và Schulz, 1940 Lớp Nematoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Secerentea Chitwood, 1933 Bộ Rhabditida Chitwood, 1933 Phân bộ Strogylata Railliet, 1916 Họ Trichonematidae Cram, 1927 Phân họ Oesophagostomatinae Railliet et Henr, 1913 Giống Oesophagostomum Molin, 1861 Loài Oesophagostomum dentatum Rudolphi, 1803 Loài Oesophagostomum longicaudum Goodey, 1925 2. Đặc điểm hình thái và cấu tạo giun tròn Oesophagostomum spp. Đề cập đến hình thái và cấu tạo giun kết hạt, Skrjabin K. và cs (1963) [30] cho biết: Loài O.
dentatum: Dài từ 7 - 14 mm, đầu được giới hạn với thân rõ rệt bởi ngăn bụng sâu. Bao miệng dài tới thực quản hình đinh ghim. Con đực có túi đuôi, hai gai giao hợp bằng nhau dài 0,90 - 0,94 mm. Con cái âm hộ nằm gần hậu môn, hậu môn ở cách mút đuôi 0,255 - 0,265 mm.
longicaudum: Con đực dài 8,8 - 9,6 mm. Con cái dài 8 - 11 mm, đuôi rất dài và thon, nhọn. Hậu môn nằm cách mút đuôi 0,453 - 0,543 mm. Âm hộ cách đuôi 0,906 - 0,951 mm.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [12]: Giun O. dentatum là loài giun tròn nhỏ, không có cánh đầu. Giun đực có kích thước 7,6 - 8,8 x 0,35 - 0,38 mm, có túi đuôi, có hai gai giao hợp dài 0,792 - 1,037 mm. Giun cái dài 7,8 - 12,5 x 0,38 - 0,43 mm; đuôi dài 0,405 - 0,430 mm.
Âm hộ ở trước hậu môn, cách hậu môn 0,208 - 0,388 mm, dài 0,1 - 1,15 mm hơi xuyên vào cơ quan thải trứng. Trứng hình ovan, kích thước 0,056 - 0,071 x 0,032 - 0,045 mm. Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9] cho biết: Các loài thuộc giống Oesophagostomum spp. có đặc điểm hình thái chung là: Túi miệng hình ống rất nhỏ, quanh miệng có một bờ gồ lên hình đĩa, có các tua ở quanh miệng, có rãnh cổ; phía trước rãnh cổ biểu bì nở ra tạo thành túi đầu, sau rãnh cổ có gai cổ, giun đực có túi đuôi và một đôi gai giao hợp dài bằng nhau, âm hộ giun cái ở gần hậu môn.
dentatum ký sinh ở ruột già của lợn, là loài giun tròn nhỏ, không có cánh đầu, có 9 rua ngoài và 18 rua trong. Túi đầu to, gai cổ ở hai bên chỗ phình to của thực quản. Giun đực dài 8 - 9 mm, rộng 0,14 - 0,37 mm, có túi đuôi, có 2 gai giao hợp bằng nhau dài 1 - 1,14 mm. Giun cái dài 8 - 11,2 mm, âm đạo dài 0,1 - 0,15 mm, nằm gần hậu môn, hơi xuyên vào cơ quan thải trứng.
Trứng hình bầu dục, dài 0,060 - 0,088 mm, rộng 0,035 - 0,050 mm. longicaudum (Rudolphi, 1803) (Goodey, 1925) 1,2: Phần đầu cơ thể. 3: Phần đuôi cá thể cái. 2: Đuôi của con cái.
4: Mút và gốc gai giao phối. 3: Đuôi của con đực. 5: Cơ quan điều chỉnh. 4: Phần cuối gai giao phối.
6: Túi đuôi cá thể đực. 6: Nón sinh dục của con đực. dentatum (Nguồn:http://courseware_s/kcxxl)[35] (Nguồn:http://cal. Vòng đời của giun tròn Oesophagostomum spp.
Hagsten (2000) [29] cho rằng: Thực chất của bất kỳ chương trình khống chế giun sán nào thì việc phá vỡ vòng đời của chúng là cần thiết. Do vậy, hiểu được chu kỳ (vòng đời) phát triển của giun sán có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phòng chống các bệnh giun sán nói chung và bệnh giun kết hạt nói riêng. Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9]: Toàn bộ quá trình phát triển, thay đổi qua những giai đoạn khác nhau của đời sống ký sinh trùng, kể từ khi nó là mầm sinh vật đầu tiên, cho đến khi nó lại có khả năng sản sinh ra mầm sinh vật mới, tạo ra một thế hệ mới thì toàn bộ quá trình đó được gọi là chu kỳ. Vòng đời giun tròn Oesophagostomum spp.
không cần vật chủ trung gian. Trứng theo phân ra ngoài, gặp nhiệt độ 25 - 27oC, sau 10 - 17 giờ nở thành ấu trùng, qua hai lần lột xác, sau 7 - 8 ngày thành ấu trùng gây nhiễm. Khi ký chủ nuốt phải ấu trùng này, tới ruột thì ấu trùng chui vào niêm mạc ruột tạo thành những u kén, lột xác lần thứ ba, tới ngày 6 - 8 thành ấu trùng kỳ IV, sau đó rời khỏi niêm mạc ruột và lột xác lần nữa và phát triển thành giun trưởng thành. Thời gian hoàn thành vòng đời của giun O.
longicaudum là 50 ngày, giun O. dentatum là 45 - 60 ngày. Phan Lục (2006) [18] cho biết: Ấu trùng O. dentatum khi vào ruột lợn chui sâu vào niêm mạc ruột già và hình thành hạt (u kén), trong có ấu trùng.
Sau 23 ngày, ấu trùng chui ra khỏi kén, vào xoang ruột và phát triển thành giun trưởng thành sau 1,5 - 2 tháng. Tuổi thọ của giun từ 8 - 10 tháng. Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [13]: Giun trưởng thành ký sinh trong ruột già lợn, đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài môi trường. Trứng gặp điều kiện nhiệt độ 25 - 27oC, sau 10 - 17 giờ nở thành ấu trùng.
Ấu trùng I sau 24 giờ, ở nhiệt độ 22 - 24oC phát dục thành ấu trùng II, dài 0,44 - 0,64 mm. Ấu trùng II phát triển được hai ngày thì thành ấu trùng gây nhiễm III. Ấu trùng này lẫn trong thức ăn, nước uống vào cơ thể ký chủ. Khi tới ruột, ấu trùng chui sâu vào niêm mạc ruột tạo thành những u kén và phát triển thành giun trưởng thành ở ruột già.
và cs (1963) [30] đã mô tả chi tiết về chu kỳ phát triển của giun tròn Oesophagostomum spp. lợn như sau: Trứng bài xuất ra ngoài ở giai đoạn phân chia 8 - 16 phôi bào. Người ta đã xác định được rằng, khi nhiệt độ thích 7 hợp (30oC), ở trong trứng ấu trùng phát triển rất nhanh, chỉ qua 16 - 18 giờ ấu trùng đã nở ra khỏi trứng. Ấu trùng giai đoạn 1 ra khỏi trứng phát triển trong môi trường bên ngoài, đến ngày thứ tư thì lột xác lần thứ nhất.
Sau đó 24 giờ ấu trùng lột xác lần thứ 2, tức là tách lớp vỏ và trở thành ấu trùng giai đoạn 2, rồi lột xác lần thứ hai thành ấu trùng giai đoạn 3. Ấu trùng giai đoạn 3 là ấu trùng cảm nhiễm, tức là có khả năng gây bệnh đối với ký chủ. Tác giả cũng cho biết, khi gây nhiễm thực nghiệm trên lợn bằng ấu trùng cảm nhiễm O. longicaudum, thấy có sự tạo thành các hạt ký sinh trong thành ruột sau hai ngày nhiễm bệnh.
Sau 17 ngày, đa số ấu trùng chui ra khỏi hạt, ký sinh trong ống ruột ở giai đoạn phát triển thứ 4. Sau 35 ngày cảm nhiễm thấy có hiện tượng mất các hạt ký sinh, ở chỗ hạt đó chỉ thấy mô niêm mạc dày lên. longicaudum đạt đến giai đoạn trưởng thành sau 50 ngày cảm nhiễm. Vòng đời giun kết hạt có thể biểu diễn bằng sơ đồ sau Oesophagostomum spp.
Phân 25-27ºC trưởng thành (ký sinh ở ruột già lợn) Trứng Ấu trùng 10-17 giờ Qua 2 lần lột Rời xác khỏi u kén Ấu trùng có sức gây nhiễm Ký chủ Lột xác lần 3 nuốt Lột xác lần 4 Ấu trùng phải Ruột kỳ IV Hình 2. Sơ đồ vòng đời giun tròn Oesophagostomum spp. Sự phát triển và sức đề kháng của trứng giun tròn Oesophagostomum spp. ở ngoại cảnh Việc nghiên cứu sự phát triển và sức đề kháng của trứng giun tròn Oesophagostomum spp.
ở ngoại cảnh có ý nghĩa quan trọng trong dịch tễ học bệnh Oesophagostomosis ở lợn, đồng thời là cơ sở khoa học đề ra những biện pháp phòng trị bệnh Oesophagostomosis.