Đặt vấn đề Theo dữ liệu thu thập được từ Tổng cục thống kê về tình hình phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2022, tong sản phẩm trong nước (GDP) quý II năm 2022 ước tính tăng 7,72% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn tốc độ tăng của quý II các năm trong giai đoạn 2011-2021. Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, GDP tăng 6,42%; cao hơn tốc độ tăng 2,04% của 6 tháng đầu năm 2020 và tốc độ tăng 5,74% của 6 tháng đầu năm 2021 nhưng thấp hơn tốc độ tăng 7,28% và 6,98% của cùng kỳ năm 2018 và 2019. Cho thấy đa số mọi người hầu như chỉ quan tâm làm thế nào để mang lại nguồn thu nhập. Họ không chú trọng đến các vấn đề môi trường và tài nguyên thiên nhiên.
Tài nguyên rừng và đa dạng sinh học giữ vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và tiễn hóa của nhân loại. Rừng là một hệ sinh thái mà quan xã thực vật giữ vai trò chủ đạo trong mối quan hệ giữa sinh vật với môi trường. Chúng cân bằng và duy trì các chức năng của hệ sinh thái trên trái đất, cung cấp nguyên liệu cho chúng ta sử dụng ở hiện tại và tương lai. Trên thực tế những năm gần đây, diện tích rừng tăng nhanh nhờ các chính sách mới của nhà nước, tuy nhiên chất lượng rừng lại giảm sút.
Diện tích rừng tăng là do sự phát triển của rừng tái sinh, rừng tre nứa và các loại hình rừng không có giá trị khác. Chất lượng của rừng giảm mạnh là do sự khai thác cạn kiệt các loại lâm sản có giá trị, cầu trúc rừng tự nhiên trước đó bị phá hủy rất khó tái tạo, quá trình tái sinh rừng mat nhiều thời gian. Việc phát triển quá nhanh của khoa học công nghệ giúp ích rất nhiều đối với các nhà làm công tác lâm nghiệp trong việc nghiên cứu khoa học lâm nghiệp. Ngoài ra, sự phát triển nhanh khoa học công nghệ cũng là một mối đe dọa đến rừng.
Với các công nghệ hiện đại, các tác nhân phá hoại rừng với nhiêu mục đích sẽ xác định mục tiêu và tiến hành phá hoại rừng nhanh hơn rất nhiều lần, điều này gây anh hưởng nghiêm trọng đến quá trình phục hồi và tái sinh của rừng. Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng và đa dạng loài thực vật nhằm duy trì và phát triển hệ sinh thái ổn định, lợi dụng tối ưu các tiềm năng lập địa phát huy bền vững các chức năng có lợi của rừng đối với kinh tế, xã hội và môi trường. Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tô thành rừng và đa dạng sinh học làm cơ sở dé nghiên cứu sinh thái rừng, đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh hợp lý nhằm mục đích sử dụng và phát triển tài nguyên rừng một cách bền vững. Xuất phát từ những vấn đề mang tính thực tiễn trên, vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế, trong khuôn khổ khóa luận tốt nghiệp cuối khóa, được sự phân công của Khoa Lâm nghiệp, Bộ môn Quản lý Tài nguyên rừng, dưới sự hướng dẫn của TS.
Nguyễn Minh Cảnh, đề tài: “Đặc điểm cấu trúc và đa dạng loài cây gỗ ở rừng tự nhiên lá rộng thường xanh trung bình tại Vườn Quốc gia Lò Gò - Xa Mát, tỉnh Tây Ninh” được thực hiện. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Mục tiêu nhằm xác định đặc điểm cấu trúc và những thành phần đa dạng loài cây gỗ của rừng tự nhiên lá rộng thường xanh trung bình tại khu vực Vườn Quốc gia Lò Gò - Xa Mát, tỉnh Tây Ninh. Mục tiêu cụ thể Xác định kết cấu loài cây gỗ, cấu trúc quần thụ đối với những quần xã thực vật của kiểu rừng tự nhiên lá rộng thường xanh trung bình tại khu vực nghiên cứu.
Phân tích đa dạng loài cây gỗ đối với những quần xã thực vật của kiểu rừng tự nhiên lá rộng thường xanh trung bình tại khu vực nghiên cứu. Đề xuất các biện pháp quản lý, kiểm tra và bảo tồn các loài thực vật thân gỗ va các quần xã thực vật rừng tại khu vực nghiên cứu. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là các quần xã thực vật của trạng thái rừng thuộc kiểu rừng tự nhiên lá rộng thường xanh trung bình.
Địa điểm nghiên cứu được đặt tại lâm phận Vườn Quốc gia Lò Gò - Xa Mát, tỉnh Tây Ninh. Phạm vi nghiên cứu Đề tài thu thập số liệu trực tiếp tại hiện trường trên các ô tiêu chuẩn dé tiến hành nghiên cứu: kết cấu loài cây 26; cau trúc quan thé, quan xã thực vật; độ hỗn giao rừng: tiết diện ngang và trữ lượng theo nhóm đường kính D,3 và theo lớp chiều cao Hạ; các chỉ số đa dạng sinh học, xem xét mối tương quan giữa các loài và giữa các quần xã trong khu vực nghiên cứu. Đề tai này tiến hành nghiên cứu trên đối tượng cây thân gỗ, không nghiên cứu cây bụi, dây leo và các loài cây khác. Chương 2 TONG QUAN VE VAN DE NGHIÊN CỨU 2.
Một số khái niệm về cấu trúc rừng và da dang sinh học 2. Khái niệm về cấu trúc rừng Cấu trúc rừng là sự sắp xếp tổ chức của các thành phần sinh vật trong hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc điểm sinh thái khác nhau cùng sống hòa thuận trong môi trường rừng. Cấu trúc rừng thé hiện các mối quan hệ cạnh tranh giữa các loài có trong một quan thé thực vật rừng. Nghiên cứu cau trúc rừng cho biết sự cạnh tranh giữa các loài, sự dao thải của chọn lọc tự nhiên và quá trình tự cân bằng để thích ứng với các yếu tố khắc nghiệt của môi trường sống.
Nghiên cứu cấu trúc rừng cho thấy mối quan hệ giữa cấu trúc rừng và các hệ sinh thái rừng cực kỳ chặt chẽ. Cấu trúc rừng biéu hiện quan hệ sinh thái giữa thực vật rừng với nhau và với các nhân tố môi trường xung quanh nó. Cấu trúc rừng bao gồm: cau trúc sinh thái tổ thành, dạng sống; cấu trúc hình thái tán rừng; cau trúc theo dạng mật độ; cấu trúc theo dạng phân bồ cây; cau trúc theo thời gian (theo tuổi). Khái niệm về đa dạng sinh học Theo công ước về đa dang sinh học năm 1992, đa dạng sinh học có nghña là tính biến thiên giữa các sinh vật sống của tất cả các nguồn bao gồm các hệ sinh thái tiếp giáp, trên cạn, biển, các hệ sinh thái thủy vực và các tập hợp sinh thái mà chúng là một phan.
Tính da dạng này thé hiện ở trong mỗi bộ loài, giữa các loài và các hệ sinh học. Theo khoản 5 Điều 3 Luật Đa dạng sinh học 2008, đa dạng sinh học là sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên. Gen là một đơn vị di truyền, một đoạn của vật chất đi truyền quy định các đặc tính cụ thể của sinh vật; Hệ sinh thái là quần xã sinh vật và các yếu tố phi sinh vật của một khu vực địa lý nhất định, có tác động qua lại và trao đổi vật chất với nhau. Đa dạng sinh học đề cập đến tất ca các dạng tồn tại của sinh vật, việc nghiên cứu đa dạng sinh học giúp chúng ta biết thêm về các chủng loài, quần xã, quần thê sinh vật mà chúng ta vẫn còn chưa biết đến sự tồn tại của chúng trên thế giới.
Sự đa dạng còn giúp ích rất nhiều trong các công trình nghiên cứu khoa học với nhiều mục đích, ví dụ như: bảo tồn nguồn gen quý, hiếm; nghiên cứu sâu hơn về các tập tính của các loài sinh vật đã được xác định:. Những nghiên cứu trên thế giới 2. Những nghiên cứu về cấu trúc rừng Việc nghiên cứu cấu trúc rừng cho thấy mối quan hệ giữa các loài thực vật rừng và giữa chúng với môi trường xung quanh. Ngoài ra, nam bat cấu trúc hình thái tán rừng: cấu trúc theo dang mật độ; cấu trúc theo dạng phân bố cây nhằm đề xuất các biện pháp kỹ thuật phù hợp.
(1964) đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái nói chung va về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng nói riêng, trong đó đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng. Từ đó tác giả đưa ra các nguyên lý lâm sinh cải thiện rừng. Công trình nghiên cứu Catinot (1965), Plaudy J. (1987) đã biểu diễn cấu trúc hình thái rừng bằng các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sông, tầng phiến.
(1960) đã sử dụng ham Weibull dé mô hình hóa cấu trúc đường kính loài. Bên cạnh đó các hàm Meyer, Hyperbol, hàm mũ, Poisson,. cũng đã được nhiều tác giả sử dung dé mô hình hóa cau trúc rừng. Nghiên cứu xác định cấu trúc của một loại hình rừng nhằm mục đích không những đánh giá nhiều hiện trạng và động thái sinh trưởng của rừng qua các quy luật phân bố số cây theo chiều cao Hy, (cấu trúc rừng), theo đường kính D¡3 ma còn có thé xác định chính xác kích thước bình quân lâm phần phục vụ công tác điều tra quy hoạch rừng của tác giả Wenk (1995).
Tóm lại, trên thế giới các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng rất đa dạng và phong phú, có nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới mang lại nhiều hiệu quả trong công tác bảo vệ và phát triển rừng. Những nghiên cứu về đa dạng sinh học Đa dạng sinh học và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên đang rất được quan tâm, nhiều tổ chức bảo tồn môi trường được thành lập nhằm mục đích bảo tồn và phát triển đa dạng sinh vật trên thế giới. Có nhiều nghiên cứu về đa dạng sinh học trên thế giới đã được thực hiện nhằm mục đích bảo tồn như: Robert K. (1994) đã nghiên cứu và hướng dan tính toán số lượng ô đo đếm đa dạng sinh học bằng phương pháp ngoại suy.
Theo phương pháp này, diện tích ô đo đếm được xác định dựa vào số loài tích lũy qua các ô đo đếm. Nếu số loài không tăng lên thì số lượng ô đo đếm sẽ dừng lại và ngược loài nếu số loài còn tăng thì tiếp tục mở rộng số lượng ô đo đếm. Như vậy với phương pháp này, các nhà nghiên cứu đã bắt đầu tiếp cận với phương pháp định lượng trong nghiên cứu đa dạng sinh học ở giai đoạn tính toán số lượng ô đo đếm. Nhưng kết quả được rút ra bằng phương pháp này có độ chính xác không cao.