phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, cấu trúc của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn nghiên cứu biến động tài nguyên rừng. Thực trạng biến động tài nguyên rừng phần thƣợng lƣu sông Ba giai đoạn 2000 – 2017. Các giải pháp bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng phần thƣợng lƣu sông Ba.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG TÀI NGUYÊN RỪNG 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm về rừng Ngay từ thuở sơ khai, con ngƣời đã có những khái niệm cơ bản nhất về rừng. Rừng là nơi cung cấp mọi thứ phục vụ cuộc sống của họ, càng phát triển thì con ngƣời càng hoàn thiện khái niệm về rừng thành những học thuyết về rừng.
Cùng với sự ra đời của sinh thái học thì khái niệm về rừng dần đƣợc sáng tỏ. Rừng là một bộ phận cấu thành quan trọng nhất của sinh quyển và có ý nghĩa lớn trong sự phát triển KT – XH, sinh thái và môi trƣờng. Trên thực tế, rừng đã có lịch sử phát triển lâu dài nhƣng những hiểu biết về rừng chỉ thực sự có từ thế kỉ XIX. Cùng với sự ra đời của sinh thái học, các khái niệm về rừng dần đƣợc sáng tỏ.
- Theo Morozov (1930): Rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển. Rừng chiếm phần lớn bề mặt Trái Đất và là một bộ phận của cảnh quan địa lí. Tcachenco (1952): Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lí, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật. Trong quá trình phát triển của mình chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hƣởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài.
Mêlêkhôp (1974): Rừng là sự hình thành phức tạp của tự nhiên, là thành phần cơ bản của sinh quyển địa cầu. - FAO đã định nghĩa: Rừng là các HST có tối thiểu 10% tàn che của 14 cây gỗ hoặc tre nứa trong điều kiện phức hệ đất, hệ động vật, hệ thực vật tự nhiên nói chung không phải là đối tƣợng để canh tác nông nghiệp. Rừng đƣợc phân chia theo nguồn gốc với 2 phạm trù: Rừng tự nhiên là các khu rừng có tổ thành gồm cây bản địa của vùng và rừng trồng đƣợc con ngƣời tạo ra trên diện tích trƣớc đây chƣa từng có rừng nhƣng thay đổi loài cây bản địa bằng loài mới khác, loài đa dạng di truyền. - Theo khoản 1, điều 3 của Luật Bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam năm 2004: “Rừng là một HST bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trƣờng khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trƣng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1m trở lên”.
- Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng (quy định trƣớc đây đƣợc ghi trong Văn bản Tiêu chuẩn kỹ thuật lâm sinh: Rừng phải có độ tàn che từ 0,3 trở lên). - Gần đây nhất, Bộ Nông nghiệp - Phát triển Nông thôn (NN – PTNT) Việt Nam đã đƣa ra định nghĩa [1]: “Rừng là hệ sinh thái, trong đó thành phần chính là các loài cây lâu năm thân gỗ, cau dừa có chiều cao vút ngọn từ 5m trở lên (trừ rừng mới trồng và một số loài cây rừng ngập mặn ven biển), có khả năng cung cấp gỗ, lâm sản ngoài gỗ và các giá trị trực tiếp và gián tiếp khác nhƣ bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trƣờng và cảnh quan”. Từ những khái niệm nêu trên, trong luận văn này tác giả sử dụng khái niệm rừng theo Điều 3 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng của Việt Nam năm 2004. Hệ sinh thái rừng Hệ sinh thái rừng (HSTR) là một HST mà thành phần chủ yếu là sinh vật rừng (các loại cây gỗ, cây bụi, thảm tƣơi, hệ động vật và vi sinh vật rừng) và môi trƣờng vật lý của chúng (khí hậu, đất).
15 Nội dung nghiên cứu HSTR bao gồm cả cá thể, quần thể, quần xã và HST, về mối quan hệ ảnh hƣởng lẫn nhau giữa các cây rừng và giữa chúng với các sinh vật khác trong quần xã đó, cũng nhƣ mối quan hệ lẫn nhau giữa những sinh vật này với những hoàn cảnh xung quanh tại nơi mọc của chúng (G. Đất rừng Đất rừng là đất trồng rừng, dƣới quần thể thực vật rừng. Nhờ có cây rừng che phủ nên đất rừng có các tính chất lí, hoá thuận lợi cho sự phát triển của cây, vi sinh vật, chế độ cung cấp nƣớc và các chất dinh dƣỡng cho cây. Đất có rừng trồng chƣa thành rừng: Là đất đã trồng rừng nhƣng cây trồng có chiều cao trung bình chƣa đạt 1,5 m đối với các loài cây sinh trƣởng chậm hay 3,0 m đối với các loài cây sinh trƣởng nhanh và mật độ < 1.
Đất trống có cây gỗ tái sinh: Là đất chƣa có rừng quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp, thực vật che phủ gồm cây bụi, trảng cỏ, lau lách và cây gỗ tái sinh có chiều cao 0,5 m trở lên đạt tối thiểu 500 cây/ha. Đất trống không có cây gỗ tái sinh: Là đất chƣa có rừng quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp gồm đất trống trọc, đất có cây bụi, trảng cỏ, lau lách, chuối rừng, chít, chè vè v. Núi đá không cây: Là núi đá trọc hoặc núi đá có cây nhƣng chƣa đạt tiêu chuẩn thành rừng. Sự mất rừng và suy thoái rừng Theo FAO (2000) cho rằng sự suy thoái rừng là sự giảm độ tàn che của rừng hoặc sức sản xuất của rừng.
Đó là sự suy giảm độ tàn che rừng hoặc sức sản xuất của rừng thông qua khai thác, cháy rừng, cây đổ gãy do bão hay nguyên nhân khác, trong đó độ che phủ của tán rừng vẫn còn trên 10% (theo khái niệm về rừng). Trong một ý nghĩa khác rộng lớn hơn, suy thoái rừng là 16 sự suy giảm dài hạn các lợi ích cung cấp toàn diện của rừng, bao gồm gỗ, đa dạng sinh học, các sản phẩm và dịch vụ khác của rừng. FAO (2001, 2006) đã chỉ rõ suy thoái rừng là những sự thay đổi trong rừng có ảnh hƣởng tới cấu trúc, chức năng của rừng; vì vậy giảm khả năng cung cấp các lâm sản và dịch vụ từ rừng. Ngoài ra một số tác giả quan niệm suy thoái rừng chỉ bao gồm sự giảm sút hoặc suy yếu khả năng sản xuất gỗ của một diện tích rừng do ảnh hƣởng của các yếu tố bên ngoài đặc biệt là hoạt động của con ngƣời.
Ở vùng nhiệt đới suy thoái rừng ở quy mô lớn và cƣờng độ cao là hiện tƣợng xảy ra do sự bùng nổ về dân số và nhu cầu gỗ ngày càng tăng. Rừng nhiệt đới đang trong quá trình giảm sút với tốc độ chƣa từng thấy và dẫn đến các hệ sinh thái bị suy thoái. Theo Will de Jong, Đỗ Đình Sâm, Triệu Văn Hùng thì “sự suy thoái rừng là một quá trình dẫn đến phá vỡ cấu trúc rừng, mất sự đa dạng sinh học của loài cây bản địa” [29]. Trần Văn Con và cs cho rằng “sự suy thoái rừng có thể xảy ra dưới nhiều hình thức và được biểu hiện ở nhiều quy mô khác nhau, xảy ra khi các sự kiện phi tự nhiên gây ra những xáo trộn trong quá trình tự nhiên làm tổn hại đến sự cân bằng sinh thái và kết quả làm cho rừng thứ sinh nghèo đi” [7].
Biến động tài nguyên rừng Biến động là bản chất của mọi sự vật hiện tƣợng, tự nhiên không bao giờ bất biến mà trái lại nó luôn biến động không ngừng, là động lực của mọi sự thay đổi, biến động đó là quan hệ tƣơng tác giữa các thành phần của tự nhiên. Bởi vậy, để khai thác hợp lí có hiệu quả cao nguồn TNR của một vùng lãnh thổ thì nhất thiết phải có sự am hiểu về động lực biến động của nó. Nghiên cứu biến động TNR là xem xét quá trình thay đổi diện tích, chất lƣợng thông qua các số liệu, thông tin thu thập đƣợc theo thời gian để 17 tìm ra hƣớng giải quyết đúng đắn trong việc sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên quí báu này * Các đặc trƣng của biến động thảm thực vật rừng - Quy mô biến động: + Biến động về diện tích thảm thực vật rừng nói chung và các kiểu thảm thực vật rừng nói riêng. + Biến động về chất lƣợng rừng thông qua các chỉ số về trữ lƣợng rừng và trữ lƣợng các kiểu rừng.
- Xu hƣớng biến động: Xu hƣớng biến động có thể tăng hay giảm, theo hƣớng tích cực hay tiêu cực đến đời sống và hoạt động sản xuất của con ngƣời cũng nhƣ của môi trƣờng sinh thái. - Mức độ biến động: + Thể hiện qua số lƣợng diện tích tăng hay giảm, nhiều hay ít của thảm thực vật giữa thời điểm đầu và cuối của thời kì nghiên cứu. + Xác định thông qua việc xác định diện tích tăng, giảm và tỉ lệ phần trăm độ che phủ của từng kiểu rừng thời điểm đầu, cuối của thời kì nghiên cứu. + Mức độ biến động còn thể hiện qua trữ lƣợng của các kiểu rừng tăng hay giảm, sự thay đổi trạng thái các kiểu rừng giữa đầu, cuối kì nghiên cứu.
Phân loại rừng Phân loại rừng đƣợc quy định tại Điều 8 Thông tƣ 34/2009/TT – BNNPTNT quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ban hành nhƣ sau: 1.