Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu một số đặc điểm cận lâm sàng kiểu gen của hbv và hcv ở người nghiện ma túy tại trung tâm cai nghiện thành phố hồ chí minh

Luận án tiến sĩ y tế phân tích y học nghiên cứu một số đặc điểm cận lâm sàng kiểu gen của hbv và hcv ở người nghiện ma túy tại, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm,

Trường đại học

Học viện Quân y

Chuyên ngành

Nội khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2022

172
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Đặc điểm cận lâm sàng

Nghiên cứu về đặc điểm cận lâm sàng ở người nghiện ma túy tại TP.HCM cho thấy tỷ lệ nhiễm HBVHCV cao. Các chỉ số xét nghiệm như enzyme gan, tải lượng virus được ghi nhận có sự biến động lớn. Cụ thể, tỷ lệ nhiễm HBV dao động từ 20% đến 40%, trong khi tỷ lệ nhiễm HCV có thể lên đến 97%. Điều này cho thấy nhóm đối tượng này có nguy cơ cao mắc các bệnh lý gan. Các xét nghiệm như xét nghiệm HBVxét nghiệm HCV được thực hiện để đánh giá tình trạng sức khỏe của người nghiện ma túy. Kết quả cho thấy có sự gia tăng đáng kể về hoạt độ enzyme gan, điều này có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng như xơ gan hoặc ung thư gan. Theo một nghiên cứu, tỷ lệ enzyme gan tăng cao ở những người có thời gian nghiện lâu dài, cho thấy mối liên hệ giữa thời gian nghiện và tình trạng sức khỏe gan.

1.1. Tình trạng sức khỏe gan

Tình trạng sức khỏe gan của người nghiện ma túy tại TP.HCM được đánh giá thông qua các chỉ số cận lâm sàng. Nghiên cứu cho thấy có sự gia tăng đáng kể về hoạt độ enzyme gan, đặc biệt là ALTAST. Những người nhiễm HBVHCV thường có hoạt độ enzyme gan cao hơn so với nhóm không nhiễm. Điều này cho thấy sự ảnh hưởng tiêu cực của các virus này đến chức năng gan. Các chỉ số này không chỉ phản ánh tình trạng viêm gan mà còn có thể dự đoán nguy cơ phát triển các bệnh lý nghiêm trọng hơn. Việc theo dõi thường xuyên các chỉ số này là cần thiết để có biện pháp can thiệp kịp thời.

II. Kiểu gen của HBV và HCV

Nghiên cứu về kiểu gen của HBVHCV ở người nghiện ma túy tại TP.HCM cho thấy sự đa dạng về kiểu gen. HBV được phân thành 10 kiểu gen, trong đó kiểu gen B và C phổ biến ở khu vực Đông Nam Á. Kiểu gen C có nguy cơ đột biến cao hơn và thường liên quan đến các biến chứng nghiêm trọng. Đối với HCV, virus này có mức độ biến đổi di truyền cao, được chia thành 7 kiểu gen chính. Việc xác định kiểu gen của virus là rất quan trọng trong việc lựa chọn phác đồ điều trị phù hợp. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những người có kiểu gen C thường có tỷ lệ đáp ứng thuốc thấp hơn so với kiểu gen B. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xác định kiểu gen trong điều trị viêm gan.

2.1. Đột biến kháng thuốc DAA

Đột biến kháng thuốc DAA ở HCV là một vấn đề nghiêm trọng trong điều trị viêm gan. Nghiên cứu cho thấy có sự xuất hiện của các đột biến liên quan đến kháng thuốc trong nhóm người nghiện ma túy. Những đột biến này có thể làm giảm hiệu quả của các phác đồ điều trị hiện tại. Việc theo dõi và phát hiện sớm các đột biến này là cần thiết để điều chỉnh phác đồ điều trị kịp thời. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng tỷ lệ đột biến cao hơn ở những người có thời gian nhiễm virus lâu dài. Điều này cho thấy mối liên hệ giữa thời gian nhiễm và khả năng phát triển đột biến kháng thuốc.

III. Giá trị và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu về đặc điểm cận lâm sàngkiểu gen của HBV, HCV ở người nghiện ma túy tại TP.HCM có giá trị lớn trong việc nâng cao nhận thức về tình trạng sức khỏe của nhóm đối tượng này. Kết quả nghiên cứu cung cấp thông tin quan trọng cho các cơ sở y tế trong việc xây dựng các chương trình can thiệp và điều trị hiệu quả. Việc xác định tỷ lệ nhiễm và kiểu gen của virus giúp các bác sĩ có cơ sở để lựa chọn phác đồ điều trị phù hợp, từ đó nâng cao tỷ lệ thành công trong điều trị viêm gan. Ngoài ra, nghiên cứu cũng góp phần vào việc xây dựng các chính sách y tế công cộng nhằm giảm thiểu tỷ lệ nhiễm virus ở người nghiện ma túy.

3.1. Đề xuất giải pháp

Dựa trên kết quả nghiên cứu, cần có các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả điều trị cho người nghiện ma túy. Việc tăng cường xét nghiệm định kỳ cho nhóm đối tượng này là rất cần thiết để phát hiện sớm tình trạng nhiễm virus. Đồng thời, cần có các chương trình giáo dục sức khỏe nhằm nâng cao nhận thức về nguy cơ lây nhiễm và cách phòng ngừa. Các cơ sở y tế cũng cần được trang bị đầy đủ về thiết bị và nhân lực để đáp ứng nhu cầu điều trị cho người nhiễm HBVHCV.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu một số đặc điểm cận lâm sàng kiểu gen của hbv và hcv ở người nghiện ma túy tại trung tâm cai nghiện thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I của Luật phòng chống ma túy được Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua năm 2000 [17]: Chất ma túy là chất gây nghiện, chất hướng thần, tiền chất được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành. Chất ma túy có nhiều loại: loại tự nhiên, loại bán tổng hợp, loại tổng hợp. Các chất ma túy thường gặp ở Việt Nam 1. Ma túy nhóm Opiats (chất dạng thuốc phiện: CDTP) Ma túy nhóm Opiats (CDTP) là những chất có nguồn gốc thuốc phiện và những chất có đặc điểm dược lý tương tự thuốc phiện, bao gồm: thuốc phiện, Morphin, Heroin, Codein, Pethidin, Buprenorphin, Methadon, Levo- alpha- acetyl- methadon (LAAM)…[18] Thuốc phiện (Opium) + Thuốc phiện hay á phiện, a phiến, nha phiến được chiết xuất từ các hạt trong vỏ mầm cây anh túc (tên khoa học: Papaver Somniferum (L) papaveraceace).

4 + Thành phần hóa học: cây thuốc phiện có trên 40 hợp chất alcaloids khác nhau, trong đó quan trọng nhất là: Morphine: chiếm từ 4 - 21%, Codein: 0,7 - 3%… + Đây là loại ma túy rất phổ biến ở khu vực Đông Nam Á. Tên khác: Á phiện, “Nàng tiên nâu”, “Ả phù dung”, dung dịch để chích màu nâu có tên “xì ke”. Morphine: morphine là hợp chất alcaloid chính của thuốc phiện. Được sử dụng nhiều trong y tế loại ống 10 mg/ml.

Heroin + Còn có tên gọi khác: “Bạch phiến”, “Cái chết trắng” + Là chất ma túy phổ biến nhất trên thế giới và Việt Nam. Heroin hầu như thay thế cả thuốc phiện và được bán tổng hợp từ morphine bằng cách Diacetyl hóa, tên khác Diacetylmorphine, Diamorphine. Hiện trên thị trường còn có các chất ma túy tổng hợp tác dụng giống morphine như: Pethidine, Fentanyl, Methadone, Mecloqualone, Ketamine, Buprenorphin, Tramadol. Các chất kích thích và gây ảo giác Cây cần sa: trong các chất Cannabinoide có trong cây cần sa, chủ yếu Tetrahydrocannabinol (THC) là chất có ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương, trong đó 9 - THC là hoạt chất gây ảo giác.

LSD (Lysergic Saure Diethylamid): LSD là chất gây ảo giác rất mạnh với hàm lượng 25 microgam đã có tác dụng rõ rệt bằng đường uống hay tẩm ngậm dưới lưỡi. Cocaine: là alcaloid chính được chiết xuất từ lá của cây coca. Tên khoa học là Erythroxylon coca (L) Erythroxylaceace. Cocaine tồn tại ở nhiều dạng khác nhau: borate, citrate, formate, iodhydrate, 5 bromhydrate, nitrate, lactate, sulfate, tartrate, salicylate.

Cocain gây nghiện, gây hoang tưởng. Ngoài ra còn một số chất gây ảo giác khác là hoạt chất chiết xuất từ các loại nấm như Psilocybine (Indocybine), Mescaline, Dimethyltriptamine, Phencyclidine. Các chất ức chế hệ thần kinh Trung ương (Depressants) Nhóm an thần gây ngủ loại Benzodiazepine Thuốc ngủ nhóm Barbiturate: tùy theo gốc R cho ra các chất khác nhau: phenobarbital, secobarbital, vinyl barbital, barbital… 1. Một số tiền chất (precursor chemicals) Là những hóa chất cần thiết để tổng hợp hay bán tổng hợp hay sản xuất ra các chất ma túy.

Theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 07 năm 2013 của Chính phủ tổng cộng hiện nay có 41 tiền chất [19]. Một số tiền chất chủ yếu: Ephedrine, Pseudo Ephedrine, Anhydric acetic, Safrole và Isosafrole, Gama-hydroxybutyric acid (GHB) gặp ở dạng muối và gama-butyrolactone (GBL) ở dạng dầu. Các chất ma túy tổng hợp ATS Các chất ma túy tổng hợp ATS - “Thuốc lắc”- phần lớn có tác dụng kích thích thần kinh trung ương, tăng huyết áp, tăng nhịp tim, làm tỉnh táo và thông minh hơn, tạo trạng thái đi mây về gió (euphoric), tăng nhịp thở, tăng nhiệt độ cơ thể ở liều trung bình từ 20 mg đến dưới 100 mg. Khi sử dụng liều cao có tác dụng gây ảo giác.

Đặc biệt người sử dụng rất nhạy cảm với âm thanh, ánh sáng, màu sắc dễ xúc động (agitation), rung lắc (tremor), ngắt quãng (episode), giảm trí nhớ, hoang tưởng (Paranoid delusions), bạo lực, gây chán ăn (unappetide). Sử dụng trong điều trị suy nhược thần kinh, tâm thần phân liệt, làm tăng cường thể lực nhưng dễ bị lạm dụng, một số chất có tác dụng kích thích tình dục. 6 Đôi khi có sự lạm dụng trong giới thể thao để tăng thành tích thi đấu, trong các đối tượng thanh niên, sinh viên, học sinh, thậm chí cả những nhà điều hành. Một số chất ma túy ATS thường gặp [20]: - Amphetamine (AM) - MethAmphetamine (MA): xuất hiện trên thị trường chủ yếu ở dạng hydrochloride-chlorhydrate [21].

- Methylene Dioxymethyl Amphetamine (MDMA) hay còn gọi là Ecstasy. - Methylene dioxy Amphetamine (MDA): được tổng hợp hoàn toàn, thường ở dạng muối hydrochloride. Xuất hiện dạng viên (tablet) màu trắng có hình âm dương ngũ hành. ở dạng viên nén hay viên capsules.

- Methylene DioxyEthyl Amphetamine (MDEA): thường tồn tại trên thị trường dạng chlohydrite hay chlorhydrate. Ký hiệu có trên viên tablet: Eve, HOL xanh rêu… 1. Thực trạng và xu hướng sử dụng ma túy hiện nay 1. Thực trạng và xu hướng chung Ở cấp độ toàn cầu, có sự gia tăng sản xuất và lạm dụng chất gây nghiện mới (NPS), tức là các chất mới chưa bị ảnh hưởng bởi sự kiểm soát quốc tế.

Số lượng NPS xuất hiện trên thị trường ngày càng tăng đã trở thành một mối quan tâm đặc biệt cho sức khỏe cộng đồng, không chỉ vì số lượng sử dụng ngày càng tăng mà còn vì thiếu các nghiên cứu khoa học cũng như sự hiểu biết về tác dụng phụ của chúng. Theo báo cáo của các thành viên UNODC, số lượng NPS tăng từ 126 chất vào cuối 2009 lên 450 chất vào năm 2014, tăng gần 4 lần [22]. Lần đầu tiên, số lượng NPS thực sự vượt quá tổng số số chất được kiểm soát quốc tế (234) [23]. Cho đến giữa năm 2012, phần lớn các NPS được 7 xác định là cần sa tổng hợp (23%), phenethylamines (23%) và cathinones tổng hợp (18%), tiếp theo là tryptamines (10%), các chất dựa trên thực vật (8%) và piperazines (5%) [23].

Để đánh lừa các cơ quan, các nhà cung cấp cũng có tiếp thị và quảng cáo sản phẩm của họ tích cực và bán chúng dưới tên tương đối vô hại hàng ngày các sản phẩm như nước hoa xịt phòng, muối tắm, thảo dược hương và thậm chí cả phân bón cây. Năm 2011, ước tính từ 167 đến 315 triệu người trong độ tuổi 15 - 64 (tương đương 3,6 – 3,9% dân số trưởng thành) đã sử dụng ít nhất một chất ma túy. Văn phòng Ma túy và tội phạm Liên hợp Quốc (UNODC) ước tính trong năm 2011 có khoảng 11,2 triệu đến 22 triệu người trên toàn thế giới trong độ tuổi 15 – 64 (chiếm 0,24 – 0,48% dân số trong độ tuổi này) tiêm chích ma túy [23]. Trong số các nước báo cáo tăng số lượng người tiêm chích ma túy đáng chú ý có Pakistan, Liên bang Nga và Việt Nam, trong khi các nước báo cáo giảm đáng kể bao gồm Brazil, Indonesia, Nam Phi, Thái Lan và Hoa Kỳ [23].

Ở Việt Nam Lạm dụng ma túy tăng mạnh gần gấp ba lần trong 10 năm qua. Bắt đầu từ khu vực nông thôn miền núi, lạm dụng ma túy bất hợp pháp lan truyền nhanh chóng đến các khu vực đô thị. Trong khi đó, độ tuổi trung bình của người sử dụng ma túy đã giảm và nhiều phụ nữ đã tham gia vào tiêu thụ ma túy. Đồng thời, heroin đã thay thế thuốc phiện để trở thành thuốc được ưa chuộng nhất trên thị trường ma túy bất hợp pháp của đất nước, đặc biệt là trong những người dùng trẻ ở khu vực thành thị [24].

Lạm dụng ma túy đã lan rộng trên tất cả 64 tỉnh thành hiện nay trong cả nước ở các mức độ khác nhau. Theo số liệu của UNODC tại Việt Nam, tính đến năm 2004, số người NMT tại Việt Nam đã lên đến 8 170.400 người, tăng 6% so với năm 2003, riêng tại TPHCM số người NMT là 32.000 người (chưa kể số người bị quản lý trong các trại giam, và ước tính còn hơn 5.000 người nghiện ngoài xã hội). Theo Bộ Lao Động - Thương Binh - Xã Hội, đến cuối năm 2005 cả nước đã có trên 129.000 người NMT có hồ sơ quản lý, tăng trên 36.300 người so với năm 2000. Trong đó, TPHCM (TPHCM) tăng gần 10.000 người, Hà Nội tăng trên 6.

Đến nay đã có 64/64 Tỉnh, Thành phố và 90% quận huyện, 58% xã phường thị trấn có người NMT [25]. Trong hai thập kỷ qua đã có một sự chuyển hướng từ hút thuốc phiện và tiêm chích heroin sang sử dụng các chất hướng thần khác như methamphetamine. Tuy mức độ gây nghiện, sự lệ thuộc về thể chất và tinh thần khi sử dụng ATS không bằng các chất ma túy truyền thống như heroin, thuốc phiện, cần sa nhưng cũng gây nhiều hậu quả cho cá nhân, gia đình và xã hội. Nhất là sau khi sử dụng các chất ma túy tổng hợp ATS, các đối tượng nghiện thường có xu hướng bạo lực, gây gia tăng các vụ phạm pháp hình sự, quan hệ tình dục không kiểm soát dẫn đến nguy cơ rất cao lây nhiễm HIV/AIDS.

Đặc điểm dịch tễ học nhiễm HBV, HCV ở người nghiện ma túy 1. Trên thế giới Mỗi phút, ít nhất một người chết vì viêm gan mạn tính ở Khu vực Tây Thái Bình Dương theo phân vùng địa lý của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Uớc tính trên toàn cầu có khoảng 16 triệu người NMT (11 triệu – 21,2 triệu) ở 148 quốc gia [10], trong đó nhiễm HBV và HCV là thường gặp ở nhóm người NMT, tuy nhiên, tính cấp bách của việc ngăn ngừa nhiễm HIV trong nhóm NMT đã làm lu mờ các dịch bệnh viêm gan do vi rút B và C gây ra ở nhóm đối tượng này [11]. 9 Năm 2011, trên thế giới có khoảng 1,2 triệu người NMT nhiễm HBV mạn tính (với xét nghiệm HBsAg dương tính) và gần 6,4 triệu người NMT dương tính với HBcAb [11].

Dữ liệu về tỷ lệ có HBsAg dương tính ở người NMT đã được ghi nhận tại 59 quốc gia (chiếm khoảng 73% số người NMT trên toàn thế giới) cho thấy, tỷ lệ HBsAg dương tính trong nhóm NMT tương quan với tỷ lệ nhiễm HBV trong dân số nói chung, với tỷ lệ cao nhất gặp ở khu vực Châu Á [11]. Trong khi đó, dữ liệu về tỷ lệ HBcAb dương tính ở người NMT có ở 43 quốc gia (với khoảng 65% số người NMT trên toàn thế giới), mặc dù tỷ lệ này rất khác nhau giữa các nước, nhưng nói chung cao hơn nhiều so với tỷ lệ HBsAg dương tính [11]. Không có bằng chứng Không báo cáo (92 nước) < 2% (7 nước) 2 – 5% (21 nước) 5 – 10% (21 nước) ≥ 10% (10 nước) Hình 1. Tỷ lệ nhiễm HBV ở nhóm người nghiện ma túy trên toàn thế giới * Nguồn: Nelson P.

và cộng sự (2011) [11] Theo phân tích của Hahné S. và cộng sự (2013) [26] tại các quốc gia Châu Âu, tỷ lệ HBsAg dương tính trong dân số nói chung dao động từ 0,1% - 5,6%, tỷ lệ này dao động 0% - 21,3% ở nhóm NMT.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu đặc điểm cận lâm sàng và kiểu gen HBV, HCV ở người nghiện ma túy tại TP.HCM" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng nhiễm virus viêm gan B (HBV) và C (HCV) trong cộng đồng người nghiện ma túy tại thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các đặc điểm cận lâm sàng mà còn khám phá kiểu gen của các virus này, từ đó giúp xác định các yếu tố nguy cơ và xu hướng lây nhiễm trong nhóm đối tượng này. Những thông tin này có thể hỗ trợ các chuyên gia y tế trong việc xây dựng các chương trình can thiệp và phòng ngừa hiệu quả hơn.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến sức khỏe cộng đồng và bệnh truyền nhiễm, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn nghiên cứu tỷ lệ nhiễm ba bệnh ký sinh trùng truyền lây giữa động vật và người tại huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La, nơi cung cấp thông tin về các bệnh ký sinh trùng có thể ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thực trạng tự kỳ thị và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đang điều trị HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú huyện Đông Anh, Hà Nội năm 2017 cũng mang lại cái nhìn về vấn đề kỳ thị trong điều trị bệnh truyền nhiễm. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ y học thực trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em từ 25 đến 60 tháng và một số yếu tố liên quan tại hai xã vùng cao tỉnh Lào Cai, giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố sức khỏe cộng đồng khác. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề sức khỏe hiện nay.