Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Nghiên cứu tính đa dạng của các loài thực vật làm cơ sở cho việc bảo tồn và phát triển nguồn gen cây rừng quý hiếm tại xã Thành Công thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Đén – Phia Oắc, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng" được thực hiện bởi sinh viên Đinh Thị Tố Chi, chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (năm 2014), dưới sự hướng dẫn của ThS. Trần Thị Thanh Tâm.
Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn
Việt Nam là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới, sở hữu hệ sinh thái phong phú với khoảng 11.373 loài thực vật bậc cao có mạch. Tuy nhiên, áp lực từ tốc độ gia tăng dân số, nhu cầu khai thác tài nguyên thiên nhiên của xã hội cùng tác động của biến đổi khí hậu đang đẩy nhiều hệ sinh thái rừng vào tình trạng suy thoái, thu hẹp sinh cảnh sống và đe dọa tuyệt chủng nhiều taxon loài quý hiếm. Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Đén – Phia Oắc (huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng) là khu vực rừng đặc dụng có giá trị đa dạng sinh học cao, lưu giữ nhiều nguồn gen thực vật đặc trưng của vùng núi cao Đông Bắc. Mặc dù vậy, hoạt động canh tác nương rẫy và khai thác lâm sản của cư dân bản địa tại xã Thành Công vẫn diễn ra, gây nguy cơ suy giảm các loài cây rừng nguy cấp. Do đó, việc nghiên cứu thực địa để đánh giá tính đa dạng thực vật và hiện trạng nguồn gen quý hiếm tại đây là yêu cầu cấp thiết nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho công tác quy hoạch, bảo tồn tài nguyên rừng.
Mục đích và mục tiêu nghiên cứu
- Mục đích của đề tài: Nghiên cứu tính đa dạng sinh học của các loài thực vật quý hiếm tại khu vực thôn Bản Chang, xã Thành Công thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Đén – Phia Oắc, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.
- Mục tiêu nghiên cứu: Văn bản xác định 3 mục tiêu cụ thể:
- Xác định danh lục các loài thực vật quý hiếm tại xã Thành Công thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Đén – Phia Oắc.
- Xác định mức độ nguy cấp của các loài thực vật nguy cấp, quý hiếm theo Sách đỏ Thế giới (IUCN), Sách đỏ Việt Nam (năm 2007) và Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển các loài thực vật, đặc biệt là các loài thực vật nguy cấp, quý hiếm có tại xã Thành Công.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tính đa dạng sinh học của các loài thực vật nguy cấp, quý hiếm phân bố tự nhiên trên địa bàn.
- Phạm vi không gian: Địa bàn xã Thành Công (tập trung trọng điểm tại khu vực thôn Bản Chang) thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Đén – Phia Oắc, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.
- Phạm vi thời gian: Quá trình thu thập số liệu ngoại nghiệp, tổng hợp tài liệu và phân tích nội nghiệp được thực hiện từ tháng 01/2014 đến tháng 05/2014.
Ý nghĩa của đề tài
- Trong học tập và nghiên cứu khoa học: Giúp sinh viên vận dụng lý thuyết chuyên ngành quản lý tài nguyên rừng vào thực địa; rèn luyện kỹ năng điều tra thực vật học, tiếp cận tri thức bản địa của cán bộ kiểm lâm và người dân địa phương; tạo tiền đề dữ liệu phục vụ nghiên cứu bảo tồn đa dạng sinh học tại địa phương.
- Trong thực tiễn sản xuất: Kết quả điều tra cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng cho Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Đén – Phia Oắc và lực lượng kiểm lâm trong việc xây dựng phương án bảo tồn nguồn gen; nâng cao nhận thức của cộng đồng dân cư địa phương về trách nhiệm và quyền lợi trong công tác quản lý bền vững tài nguyên rừng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và căn cứ pháp lý
Khóa luận vận dụng khung phân loại và đánh giá cấp độ nguy cấp của các tổ chức quốc tế và cơ quan quản lý nhà nước:
- Tiêu chuẩn phân hạng nguy cấp của IUCN (1994, 2004, 2011): Sử dụng 9 bậc phân hạng gồm: Tuyệt chủng (EX), Tuyệt chủng trong tự nhiên (EW), Cực kỳ nguy cấp (CR), Nguy cấp (EN), Sắp nguy cấp (VU), Sắp bị đe dọa (NT/LR), Ít quan tâm (LC), Thiếu dữ liệu (DD) và Không được đánh giá (NE).
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và sách tra cứu trong nước: Sách đỏ Việt Nam phần Thực vật (Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, 1996; Bộ Khoa học và Công nghệ, 2007); Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (phân loại nhóm IA - nghiêm cấm khai thác vì mục đích thương mại, nhóm IIA - hạn chế khai thác vì mục đích thương mại); Danh mục CITES; Luật Đa dạng sinh học.
Phương pháp nghiên cứu ngoại nghiệp
- Phương pháp kế thừa tài liệu: Kế thừa có chọn lọc các báo cáo điều tra cơ bản về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tài nguyên sinh vật tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Đén – Phia Oắc.
- Phương pháp phỏng vấn người dân: Thực hiện phỏng vấn bán cấu trúc 30 người dân theo phiếu mẫu thống nhất. Đối tượng phỏng vấn gồm các cá nhân trực tiếp khai thác, buôn bán lâm sản, các cụ già am hiểu rừng, thầy lang bốc thuốc, tuần rừng và cán bộ kiểm lâm địa bàn. Phỏng vấn kết hợp đưa mẫu vật thật để thu thập thông tin về tên địa phương, công dụng, tần suất khai thác và vùng phân bố.
- Điều tra theo tuyến: Thiết lập 2 tuyến điều tra cắt ngang qua các sinh cảnh rừng đại diện. Độ dốc trung bình của tuyến 1 là 40 độ, tuyến 2 là 39 độ. Cứ cách 100 m trên tuyến chính, lập các tuyến phụ rẽ về hai phía theo hình xương cá; điều tra toàn bộ các loài thực vật trong dải 10 m hai bên tuyến phụ mỗi khi phát hiện sự biến đổi của đai thực vật, tập trung ghi nhận các loài quý hiếm.
- Phương pháp lập ô tiêu chuẩn (OTC): Thiết lập 15 OTC điển hình ngẫu nhiên đại diện cho các trạng thái rừng. Kích thước mỗi OTC là 1.000 m² (20 m x 50 m), cạnh dài chạy dọc theo đường đồng mức. Mỗi trạng thái rừng lập từ 1 đến 2 OTC để đo đếm mật độ, độ thường gặp, thành phần loài cây gỗ, cây bụi và thảm tươi. Trạng thái rừng được phân loại theo hệ thống của Loeschau (1963).
Phương pháp nghiên cứu nội nghiệp
- Xử lý và định danh mẫu thực vật: Mẫu thu thập ngoài hiện trường được sấy khô, xử lý hóa chất phòng nấm mốc, khâu đính trên giấy bìa Croki và lưu trữ trong thùng mẫu. Tên khoa học được tra cứu, đối chiếu và chuẩn hóa theo hệ thống Brummit (1992), Danh lục thực vật Việt Nam (tập 1, 2, 3) và sách Tên cây rừng Việt Nam (2000).
- Phân loại phổ dạng sống: Áp dụng hệ thống phân loại dạng sống của C. Raunkiaer (chia thực vật bậc cao thành 5 nhóm chính dựa vào vị trí chồi ngủ và khả năng chống chịu điều kiện bất lợi). Trong đó, dạng chồi trên mặt đất (dạng 1) tiếp tục được phân tách chi tiết:
- 1.1: Cây gỗ cao > 25 m
- 1.2: Cây gỗ nhỡ cao 8 – 25 m (văn bản đối chiếu chi tiết các nhóm chiều cao)
- 1.3: Dây leo (hóa gỗ hoặc không hóa gỗ)
- 1.4: Cây chồi trên mặt đất / cây bụi cao từ 0,3 – 3 m hoặc phân nhóm gỗ nhỡ theo bảng thống kê
- 1.5: Cây gỗ nhỏ cao > 3 – 8 m
- 1.7: Cây bì sinh sống bám trên vỏ cây chủ
- Đánh giá tình trạng bảo tồn: Đối chiếu danh lục ghi nhận được với Sách đỏ IUCN (2011), Sách đỏ Việt Nam (2007) và Nghị định 32/2006/NĐ-CP để phân hạng mức độ đe dọa.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1 – Mở đầu
Trình bày tính cấp thiết của công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại Việt Nam, đặc biệt là áp lực từ các hoạt động nhân sinh làm suy thoái nguồn gen cây rừng quý hiếm. Xác định mục đích, 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể và phân tích ý nghĩa khoa học lẫn thực tiễn của đề tài đối với công tác lâm nghiệp tại địa bàn xã Thành Công, huyện Nguyên Bình.
Phần 2 – Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở sinh học và cơ sở bảo tồn trong quản lý tài nguyên thực vật. Điểm luận các mốc thời gian và công ước quốc tế quan trọng: Công ước Ramsar (1971), CITES (1972), Công ước Paris (1972), Công ước Bonn (1979); các giai đoạn phát triển tiêu chí Sách đỏ IUCN (1964, 1994, 2004). Tổng hợp các công trình nghiên cứu tại Việt Nam về bảo tồn nguồn gen (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1997, 1999), phương pháp nghiên cứu đa dạng sinh vật (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997), quản lý tổng hợp tài nguyên bảo tồn vùng Tây Nguyên (Cao Thị Lý, 2007) và đa dạng thực vật Vườn quốc gia Yok Đôn (Ngô Tiến Dũng, 2007). Cập nhật số liệu Sách đỏ Việt Nam qua các thời kỳ (1992, 1996, 2007).
Phần 3 – Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Mô tả chi tiết vị trí địa lý, địa điểm thôn Bản Chang (xã Thành Công) và thời gian nghiên cứu (tháng 01 – 05/2014). Nêu rõ 4 nội dung nghiên cứu trọng tâm. Trình bày chi tiết quy trình ngoại nghiệp bao gồm phương pháp phỏng vấn 30 người dân, thiết lập 2 tuyến điều tra (độ dốc 39 – 40 độ), bố trí 15 OTC (diện tích 1.000 m²), phân loại trạng thái rừng theo Loeschau (1963); cùng phương pháp nội nghiệp định danh loài theo Brummit, phân tích dạng sống theo Raunkiaer và phân hạng nguy cấp.
Phần 4 – Kết quả và phân tích kết quả nghiên cứu
Trình bày toàn bộ số liệu điều tra thực nghiệm:
- Danh lục và cấu trúc phân loại: Lập danh lục 46 loài thực vật quý hiếm thuộc 38 chi, 31 họ của 3 ngành thực vật bậc cao có mạch.
- Phổ dạng sống: Phân chia 46 loài vào các phân nhóm dạng sống theo Raunkiaer; nhóm chồi trên mặt đất chiếm ưu thế tuyệt đối.
- Mức độ nguy cấp: Đánh giá chi tiết tình trạng bảo tồn: 13 loài trong IUCN (2011), 41 – 42 loài trong Sách đỏ Việt Nam (2007) và 12 loài thuộc Nghị định 32/2006/NĐ-CP (3 loài nhóm IA, 9 loài nhóm IIA).
- Phân bố không gian: Thống kê phân bố 46 loài theo 2 tuyến điều tra, theo trạng thái rừng (trạng thái IIA và sinh cảnh khe suối ẩm) và theo 3 đai độ cao (700 – 800 m, > 800 – 900 m, > 900 m).
- Tập quán khai thác và sử dụng: Phân tích dữ liệu phỏng vấn 30 hộ dân; tổng hợp danh mục 20 loài cây quý hiếm bị người dân khai thác sử dụng cho mục đích gia đình (làm thuốc, rau ăn, lấy gỗ xây dựng). Phân tích chuyên sâu 3 loài nguy cấp cần ưu tiên bảo tồn cao độ: Kim ngân rừng (Lonicera bournei), Re hương (Cinnamomum parthenoxylon) và Thông đỏ lá dài (Taxus wallichiana - hiện chỉ còn 2 cá thể trưởng thành tại khu vực).
- Hệ thống biện pháp đề xuất: Xây dựng hệ thống giải pháp toàn diện gồm 6 nhóm: chính sách pháp luật, phát triển nguồn nhân lực, tổ chức thực hiện, khoa học kỹ thuật, phát triển cộng đồng và hợp tác quốc tế.
Phần 5 – Kết luận và kiến nghị
Tổng kết các chỉ số định lượng về thành phần loài, bậc phân loại họ - chi, dạng sống, tỷ lệ cấp độ nguy cấp, đặc điểm phân bố không gian và tình hình khai thác của cư dân. Đưa ra 7 kiến nghị cụ thể cho Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Đén – Phia Oắc và chính quyền địa phương nhằm tăng cường tuần tra, giám sát định kỳ, lập vườn thực vật phục vụ bảo tồn chuyển vị và nâng cao sinh kế cho người dân bản địa.
Kết quả và đóng góp
Kết quả định lượng chính
Khóa luận đã thống kê và lập danh lục chi tiết 46 loài thực vật quý hiếm thuộc 38 chi và 31 họ tại xã Thành Công.
Cơ cấu phân loại học theo ngành thực vật:
- Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta): 2 loài (chiếm 4,3%).
- Ngành Hạt trần (Pinophyta): 5 loài (chiếm 10,9%).
- Ngành Hạt kín (Magnoliophyta): 39 loài (chiếm 84,8%), bao gồm:
- Lớp 1 lá mầm (Monocotyledones): 9 loài (19,6%).
- Lớp 2 lá mầm (Dicotyledones): 30 loài (65,2%).
Họ có số lượng loài phong phú nhất là họ Lan (Orchidaceae) với 6 loài (Bulbophyllum averyanovii, Paphiopedilum micranthum, Dendrobium aphyllum, Dendrobium fimbriatum, Anoectochilus calcareus, Nervilia fordii); tiếp đến là họ Mộc lan (Magnoliaceae) với 3 loài (Michelia balansae, Tsoongiodendron odorum, Manglietia dandyi).
Phân bố phổ dạng sống (theo Raunkiaer):
| Nhóm dạng sống |
Đặc điểm nhận diện / Chiều cao |
Số loài |
Tỷ lệ (%) |
| Dạng 1.4 |
Cây chồi trên mặt đất (gỗ nhỡ cao 8 – 25 m) |
16 |
34,8% |
| Dạng 1.2 |
Cây chồi lên trên mặt đất (cao 0,3 – 3 m) |
11 |
23,9% |
| Dạng 1.1 |
Cây gỗ lớn chồi trên mặt đất (cao > 25 m) |
8 |
17,4% |
| Dạng 1.5 |
Cây chồi trên mặt đất (cao > 3 – 8 m) |
7 |
15,2% |
| Dạng 1.3 |
Dây leo (hóa gỗ và không hóa gỗ) |
2 |
4,3% |
| Dạng 1.7 |
Cây bì sinh (sống bám trên vỏ cây chủ) |
2 |
4,3% |
| Tổng cộng |
|
46 |
100% |
Tình trạng nguy cấp của các loài thực vật:
- Danh lục đỏ IUCN (2011): 13 loài, gồm:
- Cấp EN (Nguy cấp): 2 loài (Chò chỉ - Parashorea chinensis, Thông đỏ lá dài - Taxus wallichiana).
- Cấp VU (Sắp nguy cấp): 3 loài (Chò nâu - Dipterocarpus retusus, Trà hoa gilbert - Camellia gilbertii, Sến mật - Madhuca pasquieri).
- Cấp LR (Ít nguy cấp): 7 loài (Giổi lụa, Gội nếp, Hồi nước, Kim giao, Lát hoa, Thông tre lá ngắn, Thông tre).
- Cấp DD (Thiếu dẫn liệu): 1 loài (Re hương - Cinnamomum parthenoxylon).
- Sách đỏ Việt Nam (2007): 41 – 42 loài, gồm 2 loài Cực kỳ nguy cấp (CR: Re hương, Kim ngân rừng), 15 loài Nguy cấp (EN) và 25 loài Sắp nguy cấp (VU).
- Nghị định 32/2006/NĐ-CP: 12 loài (chiếm 26,1%), gồm:
- Nhóm IA (nghiêm cấm khai thác vì mục đích thương mại): 3 loài (Hài mạng đỏ tía, Kim tuyến đá vôi, Thông đỏ lá dài).
- Nhóm IIA (hạn chế khai thác): 9 loài (Bình vôi hoa đầu, Củ dòm, Hoàng đằng, Thanh thiên quỳ, Đảng sâm, Hoa tiên, Thổ tế tân, Hoàng tinh cách, Re hương).
Phân bố không gian:
- Theo tuyến điều tra: Cả hai tuyến đều có sự xuất hiện của các loài quý hiếm. Tuyến 1 ghi nhận 20 loài (phần kết luận tổng hợp 18 loài); tuyến 2 ghi nhận 26 loài (phần kết luận tổng hợp 20 loài).
- Theo đai độ cao:
- Độ cao 700 – 800 m: Tập trung nhiều loài nhất với 22 loài (Ba gạc vòng, Bổ béo đen, Cầu diệp cánh nhọn, Củ dòm, Dần toòng, Hài mạng đỏ tía, Hoàng thảo, Hồi nước, Lá khôi, Mã đậu linh quảng tây, Ngũ gia bì gai, Phá lửa, Tắc kè đá, Thanh thiên quỳ, Thổ tế tân, Trà hoa gilbert, Trám đen, Trọng lâu, Vàng tâm, Xưn xe tạp, Thông tre lá ngắn, Thông tre).
- Độ cao > 800 – 900 m: Ghi nhận 16 loài (Bát giác liên, Chò chỉ, Đinh vàng, Giổi lông, Giổi lụa, Hoàng đằng, Hoàng tinh cách, Kim giao, Kim tuyến đá vôi, Lát hoa, Mã hồ, Rau sắng, Re hương, Sồi phảng, Sến mật, Thông đỏ lá dài).
- Độ cao > 900 m: Ghi nhận 8 loài (Bình vôi hoa đầu, Chò nâu, Cốt toái bổ, Đảng sâm, Gội nếp, Hoa tiên, Kim điệp, Thông đỏ lá dài).
- Theo trạng thái rừng: Trạng thái rừng phục hồi IIA ghi nhận 6 loài quý hiếm tập trung; sinh cảnh khe suối ẩm ghi nhận 1 loài đặc trưng (Hồi nước).
Tình hình khai thác, sử dụng của người dân:
Kết quả điều tra 30 hộ dân cho thấy có 20 loài cây quý hiếm bị người dân khai thác sử dụng tại chỗ cho nhu cầu gia đình (làm thuốc, thực phẩm, vật liệu xây dựng, củi đun), không ghi nhận hoạt động buôn bán thương phẩm. Loài được sử dụng phổ biến nhất là Trám đen (10/30 hộ, 13,3%), Đinh vàng (8 hộ), Gội nếp (8 hộ), Bổ béo đen (7 hộ), Chò chỉ (7 hộ), Bát giác liên (6 hộ), Sồi phảng (6 hộ), Thông tre (6 hộ). Đặc biệt, Thông đỏ lá dài (Taxus wallichiana) bị đe dọa nghiêm trọng, tại điểm khảo sát chỉ còn lại 2 cá thể trưởng thành trong tự nhiên.
Giải pháp tác giả đề xuất
Tác giả đề xuất 6 nhóm biện pháp quản lý và bảo tồn:
- Chính sách pháp luật: Hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật thi hành Luật Đa dạng sinh học; xây dựng quy chế phối hợp liên ngành kiểm lâm - chính quyền xã; ban hành chính sách hưởng lợi rõ ràng cho kiểm lâm và hỗ trợ tín dụng lâm nghiệp cho người dân.
- Nguồn nhân lực: Đào tạo chuyên môn nhận biết thực vật quý hiếm cho kiểm lâm; thành lập và duy trì các tổ đội quần chúng tuần tra rừng và phòng cháy chữa cháy rừng.
- Tổ chức thực hiện: Chú trọng bảo vệ sinh cảnh cốt lõi theo chiều sâu; tổ chức cho các hộ dân sống gần rừng ký cam kết bảo vệ rừng; xây dựng hương ước, panô, áp phích; quy hoạch ổn định đất sản xuất nương rẫy để hạn chế phá rừng.
- Khoa học kỹ thuật: Ưu tiên hàng đầu biện pháp bảo tồn nguyên vị (In-situ) tại sinh cảnh tự nhiên; kết hợp nghiên cứu bảo tồn chuyển vị (Ex-situ), nhân giống và khuyến khích người dân gây trồng các loài có giá trị dược liệu.
- Phát triển cộng đồng: Đầu tư cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm); chuyển giao kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi năng suất cao nhằm tạo sinh kế thay thế, giảm áp lực vào rừng tự nhiên.
- Hợp tác quốc tế: Kêu gọi các dự án tài trợ quốc tế hỗ trợ kỹ thuật và tài chính cho Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Đén – Phia Oắc.
Đóng góp của đề tài
- Xây dựng được danh lục kiểm kê thực địa 46 loài thực vật quý hiếm có tọa độ, sinh cảnh và đai cao phân bố cụ thể tại xã Thành Công.
- Cập nhật số liệu thực trạng suy giảm quần thể của các loài cực kỳ nguy cấp như Thông đỏ lá dài (Taxus wallichiana - chỉ còn 2 cá thể trưởng thành) và Re hương (Cinnamomum parthenoxylon).
- Đánh giá được mối tương quan giữa nhu cầu sử dụng thực vật tự nhiên của cộng đồng người nghèo vùng đệm với mức độ an toàn của nguồn gen quý hiếm, làm cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng phương án đồng quản lý rừng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu ngắn: Thời gian khảo sát thực địa chỉ diễn ra trong vòng 5 tháng (tháng 01/2014 đến tháng 05/2014), chưa theo dõi được trọn vẹn chu kỳ sinh trưởng, ra hoa, kết quả và tái sinh tự nhiên của các loài thực vật quý hiếm qua các mùa khác nhau trong năm.
- Phạm vi không gian hẹp: Địa bàn điều tra mới tập trung chủ yếu tại thôn Bản Chang thuộc xã Thành Công, chưa mở rộng bao quát toàn bộ các xã vùng đệm và vùng lõi khác của Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Đén – Phia Oắc.
- Dung lượng mẫu điều tra xã hội học: Cỡ mẫu phỏng vấn cộng đồng dừng lại ở 30 người dân, phản ánh được tập quán cơ bản nhưng chưa khái quát hóa được toàn diện nhu cầu sử dụng lâm sản ngoài gỗ của toàn bộ cư dân trong vùng.
- Độ nhất quán số liệu văn bản: Giữa bảng kê chi tiết và phần tổng kết văn bản có sự chênh lệch nhỏ về số lượng loài theo tuyến (bảng 4.6 ghi nhận 20 loài ở tuyến 1 và 26 loài ở tuyến 2; phần kết luận ghi 18 loài ở tuyến 1 và 20 loài ở tuyến 2; số loài Sách đỏ ghi nhận 41 hoặc 42 loài).
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng phạm vi điều tra chi tiết trên toàn bộ diện tích Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Đén – Phia Oắc để hoàn thiện danh lục thực vật nguy cấp.
- Thiết lập hệ thống ô định vị và chương trình giám sát định kỳ đa dạng sinh học cho các quần thể có nguy cơ tuyệt chủng cao.
- Nghiên cứu sâu về đặc điểm sinh học cá thể, khả năng nhân giống sinh dưỡng và tái sinh tự nhiên của loài Thông đỏ lá dài (Taxus wallichiana) và Re hương (Cinnamomum parthenoxylon).
- Xây dựng mô hình vườn thực vật để thử nghiệm gây trồng bảo tồn chuyển vị (Ex-situ) tại các vùng sinh thái có điều kiện tương đồng.
Giá trị tham khảo
Đối tượng thụ hưởng
- Cơ quan quản lý và thực thi: Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Đén – Phia Oắc, Hạt Kiểm lâm huyện Nguyên Bình và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cao Bằng sử dụng số liệu làm căn cứ phân vùng bảo vệ nghiêm ngặt và lập phương án tuần tra rừng.
- Cộng đồng học thuật và sinh viên: Sinh viên, học viên cao học các ngành Lâm nghiệp, Quản lý tài nguyên rừng, Sinh học thực vật, Quản lý môi trường tham khảo phương pháp điều tra thực địa theo tuyến kết hợp ô tiêu chuẩn và kỹ năng đánh giá mức độ nguy cấp theo các tiêu chí bảo tồn.
- Chính quyền địa phương: UBND xã Thành Công tham khảo dữ liệu về tập quán khai thác của người dân để xây dựng quy ước bảo vệ rừng gắn liền với các chương trình hỗ trợ phát triển sinh kế xóa đói giảm nghèo.
Phần nội dung đáng tham khảo
- Bảng danh lục 46 loài thực vật quý hiếm (Bảng 4.1): Cung cấp đầy đủ tên khoa học, tên tiếng Việt, họ thực vật và đối chiếu chéo cấp độ bảo tồn giữa IUCN, Sách đỏ Việt Nam và Nghị định 32/2006/NĐ-CP.
- Dữ liệu phân bố theo đai cao và dạng sống (Hình 4.7 và Bảng 4.2): Cung cấp dẫn liệu thực nghiệm về phổ sinh thái và cấu trúc tầng tán của các loài cây quý hiếm ở vùng núi đá/núi đất cao Đông Bắc.
- Phương pháp tiếp cận tích hợp: Quy trình kết hợp giữa điều tra sinh thái rừng (tuyến, OTC) với phỏng vấn xã hội học nông thôn (biểu mẫu phỏng vấn chi tiết tại phụ lục).
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận đã ghi nhận được bao nhiêu loài thực vật quý hiếm tại xã Thành Công và cấu trúc phân loại học ra sao?
Khóa luận đã ghi nhận 46 loài thực vật quý hiếm thuộc 38 chi và 31 họ, nằm trong 3 ngành thực vật bậc cao có mạch: ngành Dương xỉ có 2 loài (4,3%), ngành Hạt trần có 5 loài (10,9%) và ngành Hạt kín chiếm ưu thế tuyệt đối với 39 loài (84,8%, gồm 9 loài một lá mầm và 30 loài hai lá mầm). Họ Lan (Orchidaceae) là họ đa dạng nhất với 6 loài.
2. Loài thực vật nào được xác định là đối tượng cấp bách nhất cần ưu tiên bảo vệ tại khu vực nghiên cứu?
Loài Thông đỏ lá dài (Taxus wallichiana Zucc., họ Taxaceae) là loài cần ưu tiên bảo tồn nghiêm ngặt nhất. Mặc dù trong Sách đỏ Việt Nam xếp cấp Sắp nguy cấp (VU) và IUCN xếp cấp Nguy cấp (EN), thuộc nhóm IA Nghị định 32/2006/NĐ-CP, nhưng tại thực địa xã Thành Công loài này đã bị khai thác nghiêm trọng và hiện chỉ còn duy nhất 2 cá thể trưởng thành, không còn cây cận kề hay cây con tái sinh.
3. Tình trạng khai thác, sử dụng các loài thực vật quý hiếm của người dân địa phương diễn ra như thế nào?
Theo kết quả phỏng vấn 30 người dân, có 20 loài cây quý hiếm thường xuyên bị khai thác. Toàn bộ các hoạt động khai thác đều nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt gia đình (làm thuốc chữa bệnh, rau ăn, lấy gỗ làm nhà, củi đun), không phát hiện việc khai thác quy mô lớn để buôn bán thương phẩm. Loài cây được sử dụng phổ biến nhất trong đời sống là cây Trám đen (Canarium tramdenum), chiếm 13,3% số hộ được hỏi (10/30 hộ).
4. Các loài thực vật quý hiếm phân bố theo đai cao tại khu vực nghiên cứu như thế nào?
Số lượng loài có xu hướng giảm dần khi lên cao:
- Đai cao 700 – 800 m tập trung phong phú nhất với 22 loài (Ba gạc vòng, Bổ béo đen, Cầu diệp cánh nhọn, Củ dòm, Dần toòng, Hài mạng đỏ tía, Trám đen, Vàng tâm...).
- Đai cao > 800 – 900 m ghi nhận 16 loài (Bát giác liên, Chò chỉ, Đinh vàng, Giổi lông, Giổi lụa, Kim giao, Lát hoa, Re hương, Sến mật...).
- Đai cao > 900 m chỉ còn 8 loài có khả năng thích nghi (Bình vôi hoa đầu, Chò nâu, Cốt toái bổ, Đảng sâm, Gội nếp, Hoa tiên, Kim điệp, Thông đỏ lá dài).
5. Dạng sống nào chiếm tỷ lệ cao nhất trong số các loài cây quý hiếm được điều tra?
Dạng sống 1.4 (cây chồi trên mặt đất, nhóm gỗ nhỡ cao 8 – 25 m) chiếm tỷ lệ cao nhất với 16 loài (chiếm 34,8%), bao gồm các loài như Bổ béo đen, Bình vôi hoa đầu, Bát giác liên, Cốt toái bổ, Hoa tiên, Hoàng tinh cách, Lá khôi, Kim tuyến đá vôi, Trọng lâu, Tắc kè đá... Kế tiếp là dạng sống 1.2 (cây cao 0,3 – 3 m) với 11 loài (chiếm 23,9%).
Kết luận
Khóa luận của tác giả Đinh Thị Tố Chi đã phản ánh trung thực hiện trạng đa dạng sinh học của 46 loài thực vật quý hiếm thuộc 31 họ tại xã Thành Công, Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Đén – Phia Oắc, làm rõ sự hiện diện của nhiều loài có tên trong Danh lục đỏ IUCN, Sách đỏ Việt Nam và Nghị định 32/2006/NĐ-CP. Nghiên cứu chỉ ra bức tranh phân bố sinh thái theo đai cao và trạng thái rừng, đồng thời cảnh báo tình trạng suy giảm nghiêm trọng của các nguồn gen quý như Thông đỏ lá dài và Re hương dưới tác động khai thác sinh hoạt của cư dân vùng đệm. Các nhóm giải pháp kết hợp giữa bảo tồn nguyên vị, bảo tồn chuyển vị và hỗ trợ sinh kế cộng đồng được đề xuất là cơ sở thực tiễn quan trọng phục vụ công tác quản lý tài nguyên rừng bền vững tại địa phương.