CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SỬ DỤNG CÂY THUỐC TRÊN THẾ GIỚI Lịch sử sử dụng cây thuốc bắt nguồn từ thời xa xưa, trong quá trình săn bắt và hái lượm, loài người đã biết tránh thứ gì có độc, biết sử dụng cây cỏ làm lương thực - thực phẩm và biết lựa chọn sử dụng các loại cây cỏ có tác dụng làm khỏi bệnh tật, ốm đau, bồi bổ sức khỏe thì những cây đó được gọi là “Cây thuốc”. Mỗi một quốc gia, một dân tộc trên thế giới đều đã có những thời kỳ phát triển nền y học cổ truyền được ghi nhận trong các Y văn, Thư tịch của họ. Các nhà khoa học đã tìm thấy rễ cây Thục quỳ (Althaea officinalis), cây Lan dạ hương (Hyacinthus sp.) và cây Cỏ thi (Achillea millefolium) được tìm thấy quanh bộ xương người có niên đại đồ đá ở Irag.
Những ghi chép đầu tiên về cây thuốc đã được tìm thấy cách đây khoảng hơn 5000 năm. Đó là những bản khắc trên đất sét của người Sumeria, thuộc Mesopotamia cổ xưa (Iraq ngày nay), đề cập tới một toa thuốc sử dụng cây Carum (Carum carvi) và cây Húng tây. Từ thời cổ xưa các chiến binh La Mã đã biết dùng dịch cây Lô hội (Aloe barbadensis) để rửa vết thương, vết loét làm chúng chóng lành mà ngày nay khoa học đã chứng minh dịch cây có khả năng làm liền vết sẹo thông qua sự kích thích tổ chức hạt và tăng nhanh quá trình biểu mô hóa. Người Hy Lạp cổ đã sử dụng cây Mùi tây (Coriandrum officinale) để đắp vết thương cho mau lành (Viện dược liệu, 2006a).
Vào năm 2735 TCN, hoàng đế Thần nông của Trung Hoa đã sưu tầm và ghi chép lại 365 vị thuốc đông y trong cuốn “Mục lục thuốc thảo mộc”. Trong đó, nhiều loài cây thuốc vẫn được sử dụng đến ngày nay như: cây Gai mèo (Cannabis sp.) được sử dụng làm thuốc chống nôn, cây Đại phong tử (Hydnocarpus kurzii) là thành phần chính trong thuốc chữa bệnh phong và cây Anh túc (Papaver somniferum) có mặt trong một số loại thuốc giảm đau. Ông cũng đề cập đến một số công dụng của cây Ma hoàng (Ephedra sp.) mà điển hình là để chống lại chứng suy hô hấp (Viện dược liệu, 2006a). Ở Trung Quốc, năm 1596, Li đã ghi nhận 1.892 loại thảo dược và 11.096 công thức chữa bệnh trong cuốn “Ben Cao Gang Mu”.
Đến năm 1977, Trung Quốc đã xuất bản “Đại từ điển đông dược” thống kê 5.757 mục với đa số là thảo mộc. Gần đây, trong cuốn “Dược thảo toàn thư” của Andrew đã đề cập đến bộ sách “Cây thuốc Trung Quốc” liệt kê hầu hết các loại cây cỏ chữa bệnh được biết từ trước tới nay. 4 Ở Ấn Độ, nền y học cổ truyền - y học Ayurveda được hình thành cách đây hơn 3.000 năm, đã phát triển mạnh, nhiều tri thức bản địa đã được nghiên cứu, đánh giá và ứng dụng có hiệu quả. Bộ sử thi Vedas (1.500 năm TCN) đã ghi nhận 350 loài thảo.
Ngày nay, Ấn Độ là quốc gia rất phát triển về nghiên cứu thảo dược như tổng hợp chất hữu cơ, tách chiết chứng minh cấu trúc, thử nghiệm độc tính, sàng lọc sinh học và nghiên cứu tác dụng hóa học của các chất tới cơ thể con người. Hiện nay, chính phủ khuyến khích sử dụng công nghệ cao trong trồng cây thuốc. Hầu hết các viện nghiên cứu dược của Ấn Độ đã tham gia vào nghiên cứu chuyển hóa các loại thuốc và hợp chất có hoạt tính từ thực vật. Ở châu Âu, vào thời trung cổ, các kiến thức về cây thuốc chủ yếu được các thầy tu sưu tầm và nghiên cứu.
Họ trồng cây thuốc và dịch các tài liệu về thảo mộc bằng tiếng Ả rập. Năm 1649, Nicolas Culpeper đã viết cuốn sách “A Physical Directory” và sau đó vài năm là “The English physician”, đây là hai cuốn dược điển có giá trị và là một trong những cuốn sách hướng dẫn đầu tiên dành cho nhiều đối tượng sử dụng, người không chuyên có thể sử dụng để làm cẩm nang chăm sóc sức khỏe, cho đến nay cuốn sách này vẫn được tham khảo và trích dẫn rộng rãi (Nguyễn Nghĩa Thìn và cs. Những kiến thức về thảo mộc của người Hy Lạp và người Roma gắn liền với nền văn minh phát triển từ rất sớm của họ. Hy Lạp cổ đại chịu ảnh hưởng lớn từ Babaylon, Ai Cập và một phần Ấn Độ và Trung Hoa.
Hyppocrat (460 – 377 TCN), thầy thuốc nổi tiếng người Hi Lạp vốn được mệnh danh là “cha đẻ của nền y học hiện đại” đã từng là một nhà nghiên cứu về thảo mộc. Ông luôn nhắc đến câu “Hãy để thức ăn của bạn là thuốc và chính thuốc là thức ăn của bạn”. (Viện dược liệu, 2006a) Trải qua hàng ngàn năm, vốn hiểu biết về cây thuốc của nhân loại ngày càng trở nên phong phú và có cơ sở khoa học hơn. Theo thống kê sơ bộ, hiện nay, trên thế giới có khoảng 250.000 loài thực vật bậc thấp và bậc cao, trong đó có khoảng 35.000 loài thực vật được sử dụng vào mục đích làm thuốc chữa bệnh ở khắp nơi trên thế giới.
Trong đó, Trung Quốc có trên 10.000 loài, Ấn Độ có khoảng 7.500 loài, Indonesia có khoảng 7.500 loài, Malaysia có khoảng 2.000 loài, vùng nhiệt đới châu Mỹ có hơn 1.900 loài thực vật có hoa được sử dụng làm thuốc (WHO, IUCN, WWF, 1991). 5 Bên cạnh việc sử dụng cây thuốc theo y học cổ truyền, ngày nay nhờ sự phát triển của khoa học kĩ thuật, người ta đi sâu nghiên cứu các hợp chất hóa học có trong cây cỏ có tác dụng chữa bệnh. Hiện biết đã có trên 100 hợp chất hóa học tự nhiên được chiết từ 90 loài thực vật bậc cao để làm thuốc, hoặc từ đó tổng hợp nên những loại thuốc mới có hiệu lực chữa bệnh cao (WHO, IUCN, WWF, 1991). Cây thuốc không chỉ có vai trò quan trọng trong việc cung cấp thuốc chữa bệnh mà còn là nguồn tài nguyên có giá trị kinh tế cao.
Ước tính tổng giá trị buôn bán cây thuốc và các chế phẩm thuốc có xuất xứ từ thực vật trên toàn thế giới mỗi năm đạt tới 16 tỷ Euro (http://www. Tuy nhiên, đáng tiếc rằng, hiện đang có sự mất dần những vốn tri thức bản địa của cộng đồng trong việc sử dụng cây thuốc để chữa bệnh theo cách truyền thống. Vấn đề bảo tồn cây thuốc đi đôi với bảo tồn vốn kinh nghiệm sử dụng cây thuốc đang được nhiều quốc gia quan tâm. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SỬ DỤNG CÂY THUỐC Ở VIỆT NAM Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, Việt Nam có nguồn tài nguyên thực vật đa dạng và phong phú, trong đó có nhiều loài được sử dụng làm thuốc.
Sự đa dạng về tộc người (54 dân tộc) cùng với sự khác biệt về điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, phong tục tập quán, văn hóa trong từng cộng đồng dân tộc đã dẫn đến sự đa dạng những kinh nghiệm gia truyền trong việc chữa bệnh và cách sử dụng cây cỏ xung quanh làm thuốc chữa bệnh. Từ thời các Vua Hùng, cha ông ta đã biết uống nước vối, ăn gừng giúp tiêu hóa, nhai trầu để bảo vệ răng, dùng cây cỏ làm gia vị kích thích ăn ngon miệng và chữa bệnh. Các nghiên cứu về cây thuốc đã được tiến hành từ rất sớm , gắn liền với tên tuổi của các danh y nổi tiếng. Tuệ Tĩnh hay Nguyễn Bá Tĩnh (thế kỉ XIV) với cuốn sách “Nam Dược Thần Hiệu” và “Hông Nghĩa Giác Tư Y Thư”.
Trong tài liệu này đã mô tả hơn 630 vị thuốc, 50 đơn thuốc chữa các loại bệnh trong đó 37 đơn thuốc chữa bệnh thương hàn. Hai cuốn sách về cây thuốc này được coi là xuất hiện sớm nhất và có ý nghĩa to lớn. Chính ông là người Việt Nam đầu tiên nêu phương châm “Nam dược trị nam nhân” (Thuốc nam chữa bệnh cho người nước Nam). Đời nhà Trần, Phạm Ngũ Lão thừa lệnh Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, thu thập trông nom một vườn thuốc lớn để chữa bệnh cho quân sĩ, gọi là “Sơn dược”, nay vẫn còn di tích ở xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
Đến thế kỉ thứ XVIII, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu 6 Trác đã xuất bản bộ sách lớn “Y Tông Tâm Tĩnh” gồm 28 tập, 66 quyển đã mô tả khá chi tiết về các loài thực vật, các đặc tính chữa bệnh. Ông cũng mở trường đào tạo Y sinh, truyền bá tư tưởng và hiểu biết của mình về y học. Do vậy, ông được mệnh danh là ông tổ sáng lập ra nghề thuốc Việt Nam (Nguyễn Văn Tập, 1996). Thời kì Pháp thuộc (1884 - 1945), tác giả Crevost và Pételot đã xuất bản bộ “Catalogue des Produits de L’Indochine” (1928 - 1935), trong đó tập V đã mô tả 368 loài cây thuốc là thực vật có hoa (Ch.
Đến năm 1952, Pételot đã bổ sung và xây dựng thành bộ “Les Plantes Médicinales du Cambodge, du Laos et du Vietnam” gồm 4 tập, đã thống kê 1.482 vị thuốc thảo mộc ở 3 nước Đông Dương (A. Bên cạnh các công trình nghiên cứu của người Pháp thì cũng có nhiều công trình của các nhà nghiên cứu trong nước, nhất là từ năm 1954 tới nay thì việc nghiên cứu về cây thuốc được quan tâm phát triển mạnh mẽ, y học cổ truyền Việt Nam không ngừng lớn mạnh cùng với xu hướng chung của thế giới trong việc tiếp thu và sử dụng các bài thuốc tự nhiên. Có thể kể đến các công trình đã được xuất bản như "Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam" của tác giả Đỗ Tất Lợi, xuất bản lần đầu năm 1962 - 1965, và tái bản nhiều lần sau đó, cho đến nay đã giới thiệu 792 loài cây thuốc. "Từ điển cây thuốc Việt Nam" (Võ Văn Chi, 2003; 2012); đã mô tả gần 4.700 loài cây thuốc.; "Cây thuốc Việt Nam", "Tài nguyên cây thuốc Việt Nam" (Viện Dược liệu, 1990; 1993) và "Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam" (Viện Dược liệu, 2006a).
Các công trình nghiên cứu này đều mô tả chi tiết các loài cùng với hình vẽ minh họa, trong đó nhiều công trình quan tâm đến giá trị kinh tế của chúng mà đặc biệt là giá trị làm thuốc. Mới đây nhất, Viện dược liệu công bố cuốn "Danh lục cây thuốc Việt Nam" giới thiệu 5.117 loài và dưới loài thuộc 1.823 chi, 360 họ của 8 ngành thực vật bậc cao có mạch cùng một số taxon thuộc nhóm Rêu, Tảo và Nấm lớn, đây là thành quả của một quá trình điều tra nghiên cứu trong nhiều năm, đồng thời là tài liệu phục vụ cho việc tra cứu, học tập và tìm hiểu về nguồn tài nguyên cây thuốc nói chung cũng như về từng loài cây thuốc hiện đã biết ở Việt Nam nói riêng (Viện Dược liệu, 2016).