MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Biến đổi khí hậu (BĐKH) đang ngày càng có những chuyển biến cực đoan gây hậu quả nặng nề cho các sinh vật sống trên Trái Đất. Theo kịch bản biến đổi khí hậu của Bộ tài nguyên và môi trường (2016) chỉ ra rằng nhiệt độ trung bình toàn cầu đang tăng khoảng 0,89oC (0,69 ÷ 1,08oC) trong giai đoạn 1901 – 2012 và có xu hướng tiếp tục tăng cao. Hệ sinh thái rừng ngập mặn (RNM) đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ vùng đất ven biển, nhất là khi được cảnh báo mực nước biển sẽ dâng lên trong thời gian tới do Trái Đất đang ngày một ấm dần. Các khu RNM có giá trị cao trong hệ sinh thái khu vực.
Các khu RNM là nơi lưu trữ carbon, giảm thiểu ô nhiễm, chắn sóng, ngăn chặn xói lở, bảo vệ nguồn nước, điều hòa khí hậu và cung cấp dưỡng chất cho hệ sinh thái. RNM còn là nơi lưu giữ những nguồn gen cho tương lai, không chỉ là nơi cư trú mà còn là nơi cung cấp nguồn dinh dưỡng, hỗ trợ cho sự tồn tại và phát triển phong phú của các quần thể sinh vật cửa sông ven biển; đồng thời còn là nơi sinh sản và phát triển của nhiều loài sinh vật biển, nơi duy trì đa dạng sinh học (ĐDSH) cho biển (Mohamed & Rao, 1971; Frusher, 1983). Tại Bến Tre, theo dự báo đến năm 2050, mực nước biển dâng thêm 30cm thì xâm nhập mặn diễn biến càng nghiêm trọng hơn. Khi đó, ranh giới mặn 4% cách bờ biển khoảng 40 km, những vị trí mà hiện nay ranh giới mặn chỉ 4% sẽ lên đến 8 - 10%.
Đặc biệt, ảnh hưởng xâm nhập mặn từ khu vực cửa Đại, làm cho ĐDSH tại sân chim Vàm Hồ có thể bị biến mất. Khu bảo tồn ốc gạo cồn Phú Đa sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng do thay đổi môi trường nước (Đoàn Văn Phúc, 2013). Do đó, đề tài “Đánh giá thực trạng đa dạng sinh học thực vật rừng ngập mặn tỉnh Bến Tre trong điều kiện biến đổi khí hậu” được thực hiện với mục tiêu đánh giá thực trạng đa dạng sinh học thực vật rừng ngập mặn tỉnh Bến Tre và sự thay đổi đa dạng sinh học dưới tác động của BĐKH từ đó đề xuất các giải pháp thích ứng.2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu Đánh giá thực trạng về ĐDSH thực vật rừng ngập mặn tỉnh Bến Tre và sự thay đổi của ĐDSH trong điều kiện BĐKH từ đó đề xuất một số giải pháp bảo tồn, thích ứng. Để đạt được những mục tiêu nêu trên, các nội dung sau đây đã được thực hiện: 1.
Hiện trạng đa dạng sinh học và mức độ sinh trưởng của các loài thực vật thân gỗ trong hệ sinh thái rừng ngập mặn ở Bến Tre. Đánh giá sinh khối và lượng carbon được cố định trong sinh khối của các loài thực vật thân gỗ trong hệ sinh thái rừng ngập mặn ở Bến Tre. Đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu lên đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng ngập mặn ở Bến Tre.3 Phương pháp nghiên cứu Hình 1.1 Hướng tiếp cận của đề tài 1.1 Thu mẫu thực vật và định danh i/ Thu mẫu tại thực địa Xác định địa điểm và tuyến thu mẫu Để thu mẫu một cách đầy đủ và đại diện cho một khu vực nghiên cứu, cần phải khảo sát toàn bộ khu vực nghiên cứu. Nhưng do giới hạn thời gian nên chúng tôi không thể đi hết các điểm trong khu vực.
Vì thế, việc chọn tuyến và địa điểm thu mẫu là hết sức cần thiết (Phụ lục 1). Dựa vào bản đồ hiện trạng và đặc điểm địa hình, thiết lập các tuyến thu mẫu sao cho tuyến đường đi phải xuyên qua các môi trường sống của khu vực nghiên cứu, nghĩa là các tuyến đó cắt ngang các vùng đại diện cho khu vực này. Từ tuyến chính, các tuyến phụ 3 theo kiểu xương cá được mở về hai phía và đi qua các quần xã khác nhau. Trung bình 1,5km chiều dài của tuyến chính lại có 2 tuyến phụ được mở ra.
Trên mỗi tuyến, tiến hành điều tra tất cả các loài thực vật nằm ở phạm vi 10m mỗi bên.2 Khu vực lấy mẫu tại Ba Tri Hình 1.3 Khu vực lấy mẫu tại Thạnh Phú 4 Phương pháp thu mẫu Dụng cụ: kéo cắt cành, túi nylon polyethylen, dây buộc, nhãn, bút chì, sổ ghi chép, máy chụp hình. Để thu mẫu, dùng kéo cắt mẫu đủ chuẩn, dán nhãn lên mẫu rồi cho vào túi polyethylene để đựng mẫu. Mỗi mẫu có đầy đủ các bộ phận gồm cành, lá, hoa và cả quả càng tốt (đối với cây lớn, chiều dài mẫu khoảng 30cm) hay cả cây đối với cây thân thảo. Mỗi cây thu từ 1 – 3 mẫu, còn mẫu cây thân thảo thì tìm các mẫu giống nhau và cũng thu với số lượng trên để vừa nghiên cứu các biến dạng của loài, vừa để trao đổi mẫu.
Các mẫu thu trên cùng một cây thì cùng đánh một số hiệu mẫu. Ký hiệu mẫu phải đồng nhất trong sổ ghi chép và trên nhãn mẫu. Khi thu phải ghi chép/chụp hình ngay những đặc điểm dễ nhận biết ngoài thiên nhiên như đặc điểm vỏ cây, kích thước cây, nhất là các đặc điểm dễ mất sau khi sấy khô như màu sắc của hoa/quả, mùi vị,… Mẫu sau khi thu và ghi chép xong được cho vào túi polyethylen để mang về phòng thí nghiệm. Cần chú ý là khi cho mẫu vào túi phải nhẹ nhàng, nếu có hoa thì dùng lá của mẫu để bọc trước khi cho vào túi.
Có thể dùng túi nhỏ và mỏng đựng riêng từng loài và buộc chặt tất cả các túi nhỏ đó cho vào túi to. ii/ Xử lý và bảo quản mẫu Các mẫu thu cần được đeo nhãn ngay. Trên mỗi nhãn cần ghi chép: số hiệu mẫu, nơi thu mẫu, ngày thu mẫu, người thu mẫu. Đồng thời, trong sổ tay thực địa cũng ghi chép: Số hiệu mẫu Địa điểm và nơi thu mẫu (tỉnh, huyện, xã, dưới nước, ven bờ,…) Ngày lấy mẫu Đặc điểm quan trọng: dạng sống, độ cao, màu sắc lá, hoa, quả, lông, gai, mùi vị,… Người lấy mẫu Sau khi đã đeo nhãn, các mẫu cần được xử lý nội nghiệp.
5 iii/ Xử lý mẫu nội nghiệp Mỗi mẫu được đặt gọn trong một tờ báo khổ A2 gấp đôi, vuốt ngay ngắn nhưng chú ý trên mỗi mẫu phải có lá sấp, lá ngửa để có thể quan sát dễ dàng cả hai mặt lá mà không phải lật mẫu. Đối với hoa, dung các mảnh báo nhỏ để ngăn cách nó với hoa hay lá bên cạnh, nhằm tránh dính vào các bộ phận bên cạnh khi sấy. Sau đó, xếp chồng các mẫu lên nhau, sau 5-10 mẫu đặt một tấm bìa cứng để tăng độ thoáng khí, giữ mẫu thẳng, giữ nhiệt tốt và dùng nẹp để ốp ngoài rồi ép chặt mẫu và bó lại, mỗi cặp mẫu khoảng 15-20 mẫu. Các bó mẫu được đem phơi nắng hoặc sấy khô ở nhiệt độ 60oC trong 72 giờ.
Hàng ngày phải thay giấy báo mới để mẫu chóng khô và không bị ẩm, không làm cho mẫu bị nát. iv/ Phân tích mẫu và định danh Mẫu vật tươi được phân tích tại phòng thí nghiệm Viện sinh học nhiệt đới. Phân tích cơ quan sinh dưỡng và sinh sản, giải phẫu hoa. Tra khóa phân loại đến cấp họ (theo hệ thống phân loại Hutchinson, 1967, Key to the families of flowering).
Mô tả đặc điểm, tra khóa phân loại đến chi và loài (Phạm Hoàng Hộ, 2001, Cây cỏ Việt Nam, tập 1, 2, 3; MNHN, 1982-1999, Flore du Cambodge, du Laos et du Vietnam). Kết luận về đối tượng nghiên cứu. v/ Xây dựng bảng danh lục thực vật rừng Danh lục thực vật là một bảng thống kê toàn bộ các loài thực vật đã gặp hoặc thu được tiêu bản trong khu vực điều tra. Lập danh lục thực vật là một trong các mục tiêu quan trọng nhất của công tác điều tra.
Cách lập danh lục được thực hiện theo mẫu hướng dẫn sau: 6 Bảng 1.1 Mẫu danh lục thực vật STT Tên thông thường Loài Họ Dạng sống 1 2 1.2 Phương pháp đánh giá đa dạng sinh học thực vật Tại mỗi khu vực nghiên cứu (Ba Tri và Thạnh Phú) lập 1 đường cắt vuông góc với đường bờ. Trên mỗi đường cắt lập 3 ô mẫu kích thước 10m x 10m. Trong từng ô mẫu này, chúng tôi tiến hành ghi nhận thành phần loài của tất cả các loài thực vật hiện diện. Đối với các cây thân gỗ, chúng tôi tiến hành đếm số lượng cá thể của từng loài, riêng với Dừa nước (Nypa fruticans) chúng tôi chỉ đếm số bụi có mặt trong ô.
Các loài thực vật không phải thân gỗ thì chỉ ghi nhận sự có mặt nhưng không đếm số lượng cá thể. Các loài thực vật thân gỗ có đường kính ở cách mặt đất 1,3m (Dbh) lớn hơn 10 cm được đo đạc chi tiết độ cao và đường kính thân. Ngoài ra, chúng tôi còn ghi nhận thành phần các loài cây mầm (seedling) và cây con (sapling) hiện diện trong ô mẫu, đồng thời đếm số lượng cá thể của chúng để tính mật độ cây mầm và cây con. Chiều cao và đường kính của thân cây được sử dụng để đánh giá tình trạng tăng trưởng của rừng ngập mặn và sinh khối của cây.
Độ thường gặp của loài được tính bằng công thức: RF = số ô mẫu có loài/số ô mẫu có tất cả loài * 100 (1.1) Mật độ tương đối của loài được tính bằng công thức: RD = tổng số cá thể của loài/tổng số cá thể của tất cả loài * 100 (1.2) Chỉ số đa dạng loài Shannon-Wiener: là chỉ số biểu hiện mức độ đa dạng nội tại của mẫu. Công thức tính: s H ' ti ln(ti ) với ti ni (1.3) i 1 Ni 7 Trong đó: H’: chỉ số đa dạng loài Shannon-Weiner ni: số lượng cá thể của loài thứ i trong mỗi ô tiêu chuẩn Ni: tổng số cá thể của ô tiêu chuẩn Chỉ số H’ càng lớn, mức độ đa dạng càng cao. Chỉ số đa dạng Simpson: n ni ( ni 1) D (1.4) i 1 N i ( N i 1) Trong đó: D: chỉ số đa dạng Simpson (0 ≤ D ≤1) ni: số lượng cá thể của loài thứ i trong mỗi ô tiêu chuẩn Ni: tổng số cá thể của ô tiêu chuẩn Như vậy, D càng gần 0 thì càng đa dạng về loài và mức độ đồng đều về số lượng cá thể trong mỗi loài càng cao.3 Xác định sinh khối của các loài thực vật thân gỗ Sinh khối của cây được tính theo phương trình của Komiyama và cộng sự (2008). Theo đó, tổng sinh khối trên mặt đất của cây được tính bằng tích số của tỷ trọng gỗ theo phương trình sau: TAB = 0,251 * ƍ * (Dbh)2,46 (1.