phần mở đầu và kết luận, và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng I: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu. Chƣơng II: Địa điểm, thời gian, phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng III: Kết quả Nghiên cứu. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Đa dạng sinh học 1. Khái niệm Theo Điều 3 Luật Đa dạng sinh học 2008: Đa dạng sinh học là thuật ngữ thể hiện tính đa dạng của các thể sống, loài và quần thể, tính biến động di truyền giữa chúng và tất cả sự tập hợp phức tạp của chúng thành các quần xã và hệ sinh thái. Đa dạng sinh học là sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên. Trong khi đa dạng di truyền đƣợc cho là sự khác biệt của các đặc tính di truyền giữa các xuất xứ, quần thể và giữa các cá thể trong một loài hay một quần thể thì đa dạng loài chỉ mức độ phong phú về số lƣợng loài hoặc loài phụ trên trái đất, ở một vùng địa lý, trong một quốc gia hay trong một sinh cảnh nào đó.
Về đa dạng hệ sinh thái, hiện nay vẫn chƣa có một định nghĩa và phân loại thống nhất nào ở mức toàn cầu. Đa dạng hệ sinh thái thƣờng đƣợc đánh giá thông qua tính đa dạng của các loài thành viên; nó có thể bao gồm việc đánh giá độ phong phú tƣơng đối của các loài khác nhau cũng nhƣ các kiểu dạng của loài. Giá trị của đa dạng sinh học Các nghiên cứu trong thời gian gần đây chứng minh đƣợc giá trị to lớn của đa dạng sinh học, có thể khái quát nhƣ sau: Đa dạng sinh học góp phần rất quan trọng trong duy trì sự sống trên trái đất, ổn định khí hậu, giảm nhẹ thiên tai. Các hệ sinh thái là cơ sở sinh tồn của sự sống trên trái đất, trong đó có loài ngƣời.
Các hệ sinh thái đảm bảo sự chu chuyển của các chu trình sinh địa hoá, đảm bảo sự liên tục của chuỗi thức ăn trong tự nhiên, giảm các ảnh hƣởng xấu do các tai biến thiên nhiên., góp phần ứng phó với biến đối khí hậu, điều hòa khí hậu, bảo vệ môi trƣờng. Các quần xã sinh vật trong tự nhiên cũng góp phần rất quan trọng trong việc phân hủy các chất ô nhiễm nhƣ kim loại nặng, thuốc trừ sâu, và các chất thải sinh hoạt. Đa dạng sinh học cung cấp giá trị sử dụng cho tiêu thụ: ĐDSH là yếu tố cơ bản để hình thành thực phẩm, dƣợc phẩm, nguyên vật liệu trong sản xuất kinh doanh…. Các hoạt động phát triển của con ngƣời, đặc biệt là tại các nƣớc đang phát triển phụ thuộc rất nhiều vào nguồn tài nguyên.
Việc phát huy, sử dụng, 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bảo tồn các giá trị của đa dạng sinh học đang ngày càng đƣợc quan tâm, nghiên cứu, phát triển. Nâng cao chất lƣợng sản phẩm nông nghiệp: ĐDSH cung cấp nguồn gen để nâng cao chất lƣợng vật nuôi cây trồng. Một trong những giá trị của ĐDSH đƣợc thể hiện rõ ràng là đa dạng di truyền trong nông nghiệp. Năng suất đạt đƣợc trong lĩnh vực nông nghiệp phụ thuộc vào yếu tố kỹ thuật (các hợp chất hoá học và máy móc) và yếu tố di truyền (nhƣ sức chống chịu, chất lƣợng, năng suất.
Phục vụ đời sống tinh thần, nghệ thuật, thẩm mỹ và văn hoá: các yếu tố thiên nhiên, ĐDSH rất phổ biến trong các tác phẩm điêu khắc, văn học, thần thoại, tín ngƣỡng và thể hiện những ý nghĩa thân thuộc, sâu sắc trong đời sống thƣờng ngày của nhân dân. Những giá trị kinh tế gián tiếp của ĐDSH nhƣ các quá trình xảy ra trong môi trƣờng và các chức năng của HST là những lợi ích không đo đếm đƣợc và là vô giá. Do những lợi ích này không phải là hàng hoá hay là dịch vụ nên thƣờng không tính đến trong quá trình tính toán giá trị GDP của quốc gia. Tuy vậy, chúng đóng vai trò rất quan trọng trong việc duy trì các sản phẩm tự nhiên của quốc gia đó.
Biến đổi khí hậu và tác động của biến đổi khí hậu đến đa dạng sinh học và các hệ sinh thái 1. Biến đổi khí hậu Theo IPCC (2007), biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể đƣợc nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, đƣợc duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn. “Biến đổi khí hậu là những biến đổi trong môi trƣờng vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hƣởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và ảnh hƣởng đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con ngƣời” (Liên Hiệp Quốc, 2012). Trong những năm gần đây, biến đổi khí hậu gây ra những tác hại theo hƣớng nóng lên toàn cầu nhƣ: gia tăng mực nƣớc biển, bão tố, lũ lụt, khô hạn, 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gây ra suy thoái kinh tế, xung đột và chiến tranh, mất đi sự đa dạng sinh học và phá huỷ hệ sinh thái.
Những minh chứng cho các vấn đề này đƣợc biểu hiện qua hàng loạt tác động cực đoan của khí hậu trong thời gian gần đây nhƣ (Liên Hiệp Quốc, 2016): Có khoảng 250 triệu ngƣời bị ảnh hƣởng bởi những trận lũ lụt ở Nam Á, châu Phi và Mexico. Các nƣớc Nam Âu đang đối mặt nguy cơ bị hạn hán nghiêm trọng dễ dẫn tới những trận cháy rừng, sa mạc hóa. Các nƣớc Tây Âu thì đang bị đe dọa bởi những trậnlũ lụt lớn có thể xảy ra do mực nƣớc biển dâng cao cũng nhƣ những đợt băng giá mùa đông khốc liệt. Những trận bão lớn vừa diễn ra tại Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ.nguyên nhân là do hiện tƣợng trái đất ấm lên trong nhiều thập kỷ qua.
Những dữ liệu thu đƣợc qua vệ tinh từng năm cho thấy số lƣợng các trận bãokhông thay đổi, nhƣng bão, lốc với cƣờng độ mạnh, sức tàn phá lớn đã tăng lên, đặc biệt ở Bắc Mỹ, Tây nam Thái Bình Dƣơng, Ấn Độ Dƣơng, Bắc Đại Tây Dƣơng. Trận sóng thần ở Ấn Độ Dƣơng cƣớp đi sinh mạng 225.000 ngƣời thuộc 11 quốc gia; hay cơn bão Katryna đổ bộ vào nƣớc Mỹ (2005) gây thƣơng vong lên đến hàng ngàn ngƣời và thiệt hại kinh tế ƣƣớc tính 25 tỷ USD; và gần đây nhất siêu bão Nargis đánh vào Myanmƣar (2008) là thảm họa thiên nhiên tàn khốc nhất thâp kỷ qua tính theo số lƣợng ngƣời thiệt mạng. Trận bão này giết chết hơn 135.000 ngƣời và đẩy hơn một triệu ngƣời vào cảnh không nhà cửa. Các yếu tố về biến đổi khí hậu * Các thành tố biến đổi thƣờng xuyên: - Nhiệt độ - Lƣợng mƣa (cƣờng độ, dòng chảy, .) - Gió - Thủy triều - Sóng - Sự thay đổi mùa của các thành tố trên (mƣa trái mùa, hạn hán và lũ lụt.
* Thời tiết cực đoan: Bão lốc, mƣa lớn, nắng nóng… 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các tác động của biến đổi khí hậu lên các hệ sinh thái Nếu nhiệt độ tăng 2°C, mực nƣớc biển dâng 1m, có thể làm mất 12,2% diện tích đất là nơi cƣ trú của 23 % dân số (khoảng 17 triệu ngƣời). Riêng với đồng bằng sông Cửu Long, nếu mực nƣớc biển dâng nhƣ dự báo vào năm 2030 sẽ khiến khoảng 45% diện tích đất của khu vực này có nguy cơ bị nhiễm mặn cực độ và gây thiệt hại mùa màng nghiêm trọng do lũ lụt và úng và thiệt hại tài sản ƣƣớc tính lên tới 17 tỷ USD. Nhiệt độ tăng sẽ làm thay đổi vùng phân bố và cấu trúc quần xã sinh vật của nhiều HST: các loài nhiệt đới sẽ giảm đi trong các HST ven biển và có xu hƣớng chuyển dịch lên các đới và vĩ độ cao hơn.
Trong các HST trên cạn, các loài ôn đới sẽ giảm đi, cấu trúc chuỗi và lƣới thức ăn cũng thay đổi. BĐKH còn ảnh hƣởng đến các thuỷ vực nội địa (sông, hồ, đầm lầy.) qua sự thay đổi nhiệt độ nƣớc và mực nƣớc làm thay đổi lớn tới thời tiết (chế độ mƣa, bão,hạn hán, cháy rừng, elino…), tần suất và thời gian của những trận lũ và hạn hán lớn sẽ làm giảm sản lƣợng sinh học bao gồm cả các cây trồng nông, công và lâm nghiệp, và sự diệt vong của nhiều loài động, thực vật bản địa, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế. Bão, lũ lụt, hỏa họan và những thay đổi điều kiện sinh thái khác sẽ dẫn tới các thảm họa chết ngƣời, ốm đau, thƣơng tích, suy dinh dƣỡng và các bệnh dịch mới, nhất là các bệnh do virus vectơ truyền có tỷ lệ tử vong cao. Đối với Việt Nam, có lẽ vùng ven biển, tài nguyên nƣớc ngọt và sau đấy là ĐDSH (nhất là ĐDSH nông nghiệp và lâm nghiệp) sẽ là vùng/ lĩnh vực chịu hậu quả nặng nề nhất của BĐKH và đây chính là những thách thức lớn trong quá trình phát triển bền vững.
Theo dự báo thì biến đổi khí hậu sẽ làm cho các trận bão ở Việt Nam thƣờng xuyên xảy ra hơn với mức độ tàn phá nghiêm trọng hơn. Nƣớc biển dâng sẽ ảnh hƣởng đến vùng đất ngập nƣớc của bờ biển Việt Nam, nghiêm trọng nhất là các khu vực rừng ngập mặn của Cà Mau, thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu và Nam Định. Hai vùng đồng bằng và các vùng ven biển nƣớc ta, trong đó có rừng ngập mặn và hệ thống đất ngập nƣớc rất giàu có về các loài sinh vật, là những hệ sinh thái rất nhạy cảm, dễ bị tổn thƣơng. Mựcnƣớc biển dâng lên cùng với cƣờng độ của bão tố sẽ làm thay đổi thành phần của trầm tích, độ mặn và mức độ ô nhiễm của nƣớc, làm suy thoái và đe dọa sự sống còn của rừng ngập 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mặn và các loài sinh vật đa dạng trong đó.
Khi mực nƣớc biển dâng cao, khoảng một nửa trong số 68 khu đất ngập nƣớc có tầm quan trọng quốc gia sẽ bị ảnh hƣởng nặng; nƣớc mặn sẽ xâm nhập sâu vào nội địa, giết chết nhiều loài động, thực vật nƣớc ngọt, ảnh hƣởng đến nguồn nƣớc ngọt cho sinh hoạt và hệ thống trồng trọt của nhiều vùng. 36 khu bảo tồn, trong đó có 8 vƣờn quốc gia, 11 khu dự trữ thiên nhiên sẽ nằm trong khu vực bị ngập. Hệ sinh thái biển sẽ bị tổn thƣơng.