CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. SƠ LƯỢC VỀ THỰC VẬT DÂN TỘC HỌC VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA KIẾN THỨC SỬ DỤNG CÂY THUỐC TRUYỀN THỐNG Dân tộc là một tiếp đầu ngữ được sử dụng để diễn đạt ngắn gọn cách mà những người khác nhìn vào thế giới. Khi được đặt trước tên các nhà thực vật học hay dược lý học sẽ có ngụ ý rằng các nhà nghiên cứu đang tìm hiểu nhận thức của người dân địa phương về tri thức văn hoá và khoa học.
Thuật ngữ sinh thái dân tộc học được sử dụng nhiều nhằm bao hàm tất cả các nghiên cứu mô tả sự tương tác giữa người dân địa phương với môi trường tự nhiên, bao gồm các phân ngành như sinh vật dân tộc học, thực vật dân tộc học, côn trùng dân tộc học và động vật dân tộc học. Như vậy, thực vật dân tộc học là một phần nghiên cứu thuộc mảng sinh thái dân tộc học, là một bộ môn khoa học nghiên cứu các mối quan hệ giữa con người và thực vật. Thuật ngữ thực vật dân tộc học xuất phát từ Harshberger, người đã định nghĩa nó vào cuối những năm 1890 là việc sử dụng thực vật của thổ dân [8, 9,10]. Lịch sử phát triển của thực vật dân tộc học trải dài qua nhiều giai đoạn trong lịch sử nhân loại kể từ ngày các loài thực vật đầu tiên được khám phá ra cách sử dụng.
Tuy nhiên, có thể tóm lượt qua những dấu mốc lịch sử quan trọng của ngành thực vật dân tộc học như sau [9]: • 1492: Một số loài thực vật có giá trị kinh tế đáng kể và dựa trên sự quan sát của người dân bản địa đã được xác định khi Tân thế giới được phát hiện ra. • 1663: John Josselyn bắt đầu nghiên cứu về lịch sử tự nhiên của New England, sau đó xuất bản tài liệu về các sinh vật hiếm, bao gồm thực vật bản địa, “New-England’s Rarities discovered” vào năm 1672. • 1871-1878: Các tác phẩm quan trọng của nhà thực vật học Palmer và Powers được xuất bản. Đây là thời gian mà ngành thực vật học kinh tế nổi lên.
4 • 1893: Mối quan tâm của nhân chủng học đối với thực vật học của người bản xứ dẫn đến sự nhấn mạnh hơn vào tầm quan trọng của văn hóa dựa vào cây cỏ. • 1895: Harshberger giới thiệu thuật ngữ về thực vật dân tộc học. • 1896: Fewkes giới thiệu thuật ngữ thực vật dân tộc học trong tài liệu Nhân chủng học. • 1898: Khoa Dân tộc học của Bảo tàng Quốc gia Hoa Kỳ nỗ lực ghi lại tất cả các loài thực vật hữu ích của thổ dân da đỏ Bắc Mỹ.
• 1900: Bằng tiến sĩ đầu tiên về Thực vật học dân tộc học được trao cho David Barrow. • 1919: Gilmore đi tiên phong trong nghiên cứu về quản lý nguồn tài nguyên truyền thống của người dân. • 1930: Castetter thiết lập một chương trình thạc sĩ về dân tộc học tại Đại học New Mexico. • 1950-1970: Conklin nêu bật ý nghĩa thực tế về thực vật học dân tộc học và ngành cổ thực vật học dân tộc nổi lên dẫn đầu.
• 1981: Hiệp hội dân tộc học xuất bản số đầu tiên của tạp chí Dân tộc học. • Những năm 1990: Chương trình đào tạo đại học và sau đại học về thực vật dân tộc học ngày càng phổ biến, khi mà nhiều dự án nghiên cứu tập trung vào các ứng dụng thực tế của tri thức về thực vật. Nhằm tăng cường các chương trình bảo tồn thực vật dựa vào cộng đồng trên toàn thế giới, WWF, UNESCO và Vườn Thực vật Hoàng gia Kew đã thành lập sáng kiến Con người và Thực vật. • Năm 1995, Martin đưa ra khái niệm thực vật dân tộc học là một phần của nghiên cứu sinh thái dân tộc học, thể hiện sự tương tác của người dân địa phương với thực vật nhằm có được sự hiểu biết toàn diện về kiến thức bản địa về thực vật.
• Những năm 2000, tạp chí Nghiên cứu và Ứng dụng Thực vật học Dân tộc học và Tạp chí Sinh học Dân tộc học và Y học Dân tộc học ra đời. 5 • Năm 2006, quy tắc đạo đức cho nghiên cứu dân tộc học đã được thông qua bởi tất cả các thành viên của Hiệp hội quốc tế về dân tộc học. Thực vật dân tộc học là một sự kết hợp liên ngành từ các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau đóng góp vào việc phân tích mối tương tác giữa con người và thế giới cỏ cây. Trong đó, có bốn yếu tố chính tác động lẫn nhau trong thực vật dân tộc học là [8]: • Thực vật dân tộc học cơ sở: thu thập tài liệu cơ bản về tri thức cây cỏ truyền thống; • Thực vật dân tộc học định lượng: lượng giá về việc sử dụng và quản lý tài nguyên thực vật; • Thực vật dân tộc học thực nghiệm: đánh giá thực nghiệm về nguồn lợi thu từ cây cỏ (gồm cả mục đích mưu sinh và thương mại); • Các dự án nâng cao tối đa giá trị tri thức sinh thái của người dân địa phương đối với nguồn tài nguyên thực vật nơi họ sinh sống.
Nghiên cứu về thực vật dân tộc học có thể khám phá ra nhiều nhiều cách sử dụng thực vật dựa vào văn hoá địa phương như thực phẩm, nghi lễ, xây dựng, dụng cụ gia đình, tinh dầu, nhạc củ, quần áo, đặc biệt là công dụng làm thuốc [2, 11]. Trong lĩnh vực y học cổ truyền, cây thuốc được dùng ở dạng tươi, hoặc khô bằng cách cắt nhỏ, nghiền thành bột hoặc nấu, sắc [9]. Năm 2001, Rukangira cho rằng “Việc thiếu bằng chứng khoa học liên quan đến hiệu quả của y học cổ truyền sẽ làm hạn chế việc sử dụng những kiến thức truyền thống về chăm sóc sức khỏe cho con người và động vật mặc dù chúng đã tồn tại trên thế giới. Ngoài ra, theo quan điểm của WHO (1978) và Adenike (2007) thì nền y học cổ truyền đã được mô tả là một trong những phương pháp chiếm phạm vi rộng trong việc sử dụng điều trị bệnh và chăm sóc sức khỏe dân số trên toàn thế giới.
Sự quan tâm đến lĩnh vực này được công nhận rộng rãi trong các chính sách phát triển, truyền thông và tài liệu khoa học ngày nay. Sự quan tâm này là một động lực cho các nghiên cứu, đầu tư trong lĩnh vực này ở các quốc gia [12]. 6 Theo WHO cho rằng có đến 80% dân số đang sử dụng thuốc có nguồn gốc thực vật cho việc chăm sóc sức khỏe tại các nước đang phát triển [11, 12]. Sự quan tâm đến cây thuốc ngày càng nhiều tạo nên cơ hội mới trong việc tăng thu nhập cho người dân địa phương.
Nhiều cây thuốc được thu hái trong tự nhiên và bán đi hỗ trợ cuộc sống của các hộ nghèo. Tuy nhiên họ chỉ nhận được một phần nhỏ hoặc không biết được giá trị thực sự hoặc không có đủ điều kiện tiếp thị đến người tiêu dùng trực tiếp dù sản phẩm cuối cùng có giá trị rất cao [12]. Như vậy, cây thuốc đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu của các thị trường y học cổ truyền (nội địa và quốc tế) và các khía cạnh khác như kinh tế, xã hội, văn hóa và sinh thái trong các cộng đồng địa phương. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÂY THUỐC 1.
Tình hình nghiên cứu cây thuốc trên thế giới Ở nhiều khu vực trên thế giới, người dân vẫn còn sử dụng cây thuốc trong việc chăm sóc sức khoẻ. Đặc biệt là ở các cộng đồng dân cư sinh sống tại khu vực nông thôn ở Châu Phi, Trung và Nam Mỹ và một phần khu vực của châu Á [13]. Ở châu Âu cũng có xu hướng sử dụng các loại thuốc thảo mộc bên cạnh dược phẩm, chẳng hạn ở Đức có đến 90% dân số sử dụng thảo mộc để trị bệnh. Nhiều dược phẩm từ kiến thức cổ truyền đã được sản xuất, ví dụ như phát hiện và sản xuất Vitamin C (ascorbic acid) từ kinh nghiệm sử dụng lá thông để nấu nước uống vào mùa đông của một số cộng đồng thiểu số Bắc Âu, chế tạo thuốc chữa ung thư từ kinh nghiệm sử dụng cây Thông đỏ (Taxus spp.) của thổ dân Bắc Mỹ, v.
Do đó, kiến thức sử dụng cây thuốc đã được quan tâm nghiên cứu và tư liệu hóa trong các bộ sách về cây thuốc của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt tại các nước phương Đông có nền y học cổ truyền lâu đời như Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, v. Ở khu vực Đông Nam Á, Chương trình PROSEA về cây cỏ có ích ở khu vực đã xuất bản đến 3 tập sách về cây thuốc và cây độc cho khu vực [14, 15, 16]. Ở Châu Phi, đã có nhiều nghiên cứu về cây thuốc, như Cây thuốc và các bài thuốc cổ truyền tại châu Phi [17], Cây thuốc ở Đông Phi [18] Y học cổ truyền châu Phi: Từ điển về sử dụng thực vật và các ứng dụng [19], Cẩm nang Cây thuốc tại Châu Phi [20]. 7 Ở khu vực Đông Dương, bộ sách “Les plantes médicinales du Cambodge, du Laos et du Viêtnam” của Petelot xuất bản trong thời gian 1952-1954 là ấn phẩm đầu tiên về cây thuốc cho toàn bộ khu vực.
Sau đó, Nguyễn Văn Dương (1993) đã có nhiều bổ sung. Ở Lào, việc nghiên cứu cây thuốc được bắt đầu quan tâm từ khoảng năm 1976. Năm 2007, Greijanmans và cộng sự đã xuất bản sách về các sản phẩm truyền thống của Lào, trong đó mô tả công dụng 70 loài cây thuốc [21]. Nghiên cứu và áp dụng tri thức sử dụng cây thuốc trong y học hiện đại đã được thực hành từ lâu trên thế giới [22].
Nhiều quốc gia trên thế giới đang tích hợp các loại thuốc truyền thống từ thực vật vào hệ thống y tế chính thống, điển hình như Trung Quốc đã công bố mục tiêu tích hợp y học cổ truyền vào hệ thống chăm sóc sức khoẻ vào tháng 12 năm 2020 [13]. Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới WHO thì đến cuối những năm 1970 đã có gần 21.000 loài thực vật được sử dụng làm thuốc hoặc có hoạt chất dùng chế biến thuốc [23]. Năm 2007, tổ chức IUCN thống kê khoảng 50.000 loài thực vật có hoa trên toàn thế giới được sử dụng làm thuốc và có ít nhất 15.000 loài trong số đó đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng do khai thác quá mức, một số loài điển hình như Ulmus rubra Muhl., Hydrastis canadensis Poir., Taxus brevifolia Nutt., Taxus chinensis (Pilg. Năm 2017, nhóm Dịch vụ đặt tên cây thuốc Kew (thuộc Vườn thực vật hoàng gia Kew) đã phát hiện ra rằng chỉ có 4.478 loài thực vật làm thuốc được trích dẫn trong các ấn phẩm quy định trong khi đối chiếu 28.187 loài cây thuốc.