Luận án về đa dạng sinh học khu hệ cá đồng bằng sông Cửu Long và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu

Nghiên cứu đa dạng sinh học khu hệ cá đồng bằng sông Cửu Long và tác động của biến đổi khí hậu, phát triển kinh tế xã hội đến chúng.

Trường đại học

Trường Đại học Saint Louis

Chuyên ngành

Sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2015

229
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CÁM ƠN

TÓM TẮT

ABSTRACT

1. CHƯƠNG I: MỞ ĐẦU

1.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

1.1.1. Đặc điểm địa lý tự nhiên

1.1.2. Lưu vực sông Mê Công và vùng đồng bằng sông Cửu Long

1.1.3. Tổng quan về lũ ở đồng bằng sông Cửu Long

1.1.4. Đặc điểm thủy triều và diễn biến xâm nhập mặn ở vùng ĐBSCL

1.1.5. Tóm tắt Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng vùng ĐBSCL của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012)

1.2. HỆ SINH THÁI THỦY VỰC NỘI ĐỊA ĐBSCL

1.2.1. Hệ sinh thái thủy vực nước ngọt

1.2.2. Hệ sinh thái thủy vực nước lợ, mặn

1.2.3. Các tiểu vùng sinh thái đồng bằng sông Cửu Long

1.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁ NƯỚC NGỌT VÀ HIỆN TRẠNG NGUỒN LỢI CÁ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

1.3.1. Tình hình nghiên cứu cá nước ngọt ở Việt Nam và vùng ĐBSCL

1.3.2. Hiện trạng Bảo tồn đa dạng sinh học và quản lý nguồn lợi thủy sản ở đồng bằng sông Cửu Long

2. CHƯƠNG II: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu

2.1.2. Thời gian nghiên cứu

2.1.3. Địa điểm nghiên cứu

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU NGOÀI THỰC ĐỊA

2.2.1. Phương pháp thu mẫu nghiên cứu hình thái

2.2.2. Phương pháp thu mẫu nghiên cứu sinh học phân tử

2.2.3. Phương pháp điều tra, phỏng vấn trực tiếp

2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM

2.3.1. Phương pháp định loại, xác định tên khoa học dựa vào đặc điểm cấu tạo hình thái ngoài

2.3.2. Phương pháp phân tích và giải trình tự DNA (DNA extraction, amplification and sequencing)

2.3.3. Phân tích, xử lý dữ liệu và lưu trữ dữ liệu

3. CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. ĐA DẠNG KHU HỆ CÁ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

3.1.1. Thành phần loài khu hệ cá

3.1.2. Đa dạng về cấu trúc thành phần loài và số lượng

3.1.3. Đa dạng về cấu trúc thành phần loài theo mùa

3.1.4. Đa dạng về di truyền - nguồn gen

3.1.5. Đặc điểm sinh thái học khu hệ cá ĐBSCL

3.1.5.1. Đặc điểm phân bố địa lý
3.1.5.2. Đặc điểm di cư
3.1.5.3. Đặc điểm sinh sản
3.1.5.4. Đặc điểm sinh trưởng, dinh dưỡng

3.1.6. Các loài ghi nhận mới cho khu hệ cá vùng ĐBSCL

3.1.7. Các loài cá quý hiếm, bị đe dọa và loài nhập nội ở ĐBSCL

3.1.7.1. Các loài cá quý hiếm, bị đe dọa
3.1.7.2. Các loài nhập nội

3.1.8. Các loài cá có giá trị kinh tế

3.2. TÁC ĐỘNG CỦA SỰ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, NƯỚC BIỂN DÂNG VÀ PHÁT TRIỂN THUỶ ĐIỆN, CÁC CÔNG TRÌNH THUỶ LỢI, KHAI THÁC NGUỒN LỢI ĐẾN KHU HỆ CÁ ĐBSCL

3.2.1. Tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng

3.2.2. Tóm tắt kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng (chi tiết đến cấp xã) vùng cửa sông ven biển từ cửa Tiểu đến cửa Cổ Chiên

3.2.3. Dự báo xu thế tác động của Biến đổi khí hậu và nước biển dâng đối với khu hệ cá và hoạt động nghề cá ở vùng cửa sông ven biển từ cửa Tiểu đến cửa Cổ Chiên (cửa Tiểu, cửa Đại, cửa sông Hàm Luông, cửa Ba Lai và cửa Cổ Chiên)

3.2.4. Tác động của các hoạt động phát triển Kinh tế - xã hội

3.2.5. Các hệ thống công trình thủy lợi, đê bao

3.2.6. Phương thức khai thác, sử dụng nguồn lợi thủy sản

3.3. THỰC NGHIỆM XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐỒNG QUẢN LÝ NGHỀ CÁ Ở VÙNG ĐẤT NGẬP NƯỚC BÚNG BÌNH THIÊN, HUYỆN AN PHÚ TỈNH AN GIANG

3.3.1. Kết quả lồng ghép xây dựng mô hình ĐQL nghề cá gắn với bảo tồn đa dạng sinh học ở vùng đất ngập nước Búng Bình Thiên

3.3.2. Giới thiệu vùng đất ngập nước Búng Bình Thiên

3.3.3. Hiện trạng KT-XH. Hiện trạng Môi trường hóa lý

3.3.4. Khu hệ thủy sinh vật

3.3.5. Nguồn lợi cá ở Búng Bình Thiên

3.3.6. Hiện trạng nghề cá ở Búng Bình Thiên

3.3.7. Đánh giá điều kiện, nhu cầu và tăng cường năng lực cộng đồng ngư dân và các bên tham gia có liên quan

3.3.8. Triển khai các hoạt động Đồng quản lý nghề cá gắn với Bảo tồn Đa dạng sinh học

3.3.9. Kết quả đạt được trong lồng ghép bảo tồn Đa dạng sinh học với Đồng quản lý nghề cá thích ứng

4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHẦN PHỤ LỤC

Phụ lục 1. Danh lục thành phần loài cá đồng bằng sông Cửu Long

Phụ lục 2. Kết quả giải trình tự DNA 20 loài cá của bộ cá Chép (Cypriniformes)

Phụ lục 3. Hình ảnh mã vạch 20 loài cá giải trình tự DNA

Phụ lục 4. Một số hình ảnh về thủy vực sông Mê Công và ĐBSCL

Phụ lục 5. Hình ảnh một số ngư cụ và hoạt động khai thác cá ở ĐBSCL

Phụ lục 6. Chất lượng môi trường nước mặt và trầm tích ở BBT

Phụ lục 7. Khu hệ thủy sinh vật và thành phần loài cá ở BBT

Phụ lục 8. Một số hình ảnh hoạt động về ĐQL nghề cá ở BBT

Phụ lục 9. Mẫu phiếu điều tra thu thập thông tin

Phụ lục 10. Hình ảnh các loài cá ở ĐBSCL

Tóm tắt

I. Đa dạng sinh học cá đồng bằng sông Cửu Long

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong những khu vực có đa dạng sinh học phong phú nhất tại Việt Nam. Nghiên cứu đã xác định được 216 loài cá thuộc 60 họ và 19 bộ. Trong đó, bộ cá vược (Perciformes) chiếm ưu thế với 66 loài, tiếp theo là bộ cá chép (Cypriniformes) với 55 loài. Sự phong phú này không chỉ thể hiện qua số lượng loài mà còn qua sự đa dạng về cấu trúc sinh thái. Các loài cá ở đây được phân chia thành hai nhóm chính: nhóm cá nước ngọt và nhóm cá nước mặn, lợ. Điều này cho thấy sự thích ứng của các loài cá với điều kiện môi trường khác nhau trong mùa lũ và mùa khô. Khu vực này cũng ghi nhận nhiều loài cá quý hiếm, trong đó có 19 loài nằm trong sách Đỏ Việt Nam và danh lục Đỏ thế giới (IUCN).

1.1. Thành phần loài và cấu trúc sinh thái

Thành phần loài cá ở ĐBSCL rất đa dạng, với sự hiện diện của nhiều loài có giá trị kinh tế cao. Nghiên cứu cho thấy rằng các loài cá không chỉ phong phú về số lượng mà còn đa dạng về hình thái và sinh thái học. Các loài cá có sự phân bố địa lý rõ rệt, với những loài đặc trưng cho từng tiểu vùng sinh thái. Sự đa dạng này đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hệ sinh thái và cung cấp nguồn lợi thủy sản cho người dân địa phương.

II. Tác động của biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu đang gây ra những tác động nghiêm trọng đến hệ sinh tháiđa dạng sinh học ở ĐBSCL. Nước biển dâng và sự thay đổi khí hậu đã làm thay đổi môi trường sống của nhiều loài cá. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, sự xâm nhập mặn gia tăng trong mùa khô đã ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của các loài cá nước ngọt. Điều này không chỉ làm giảm số lượng cá mà còn ảnh hưởng đến nguồn lợi thủy sản của khu vực. Các kịch bản dự báo cho thấy rằng, nếu không có biện pháp ứng phó kịp thời, tình trạng này sẽ ngày càng trở nên nghiêm trọng.

2.1. Tác động đến nguồn lợi thủy sản

Sự biến đổi khí hậu đã làm thay đổi đáng kể đến nguồn lợi thủy sản ở ĐBSCL. Nhiều loài cá có giá trị kinh tế đang bị đe dọa do môi trường sống bị thay đổi. Nghiên cứu cho thấy rằng, các hoạt động khai thác thủy sản cũng cần được điều chỉnh để phù hợp với tình hình mới. Việc quản lý bền vững nguồn lợi thủy sản là cần thiết để bảo tồn đa dạng sinh học và đảm bảo sinh kế cho người dân địa phương.

III. Giải pháp bảo tồn và quản lý

Để bảo tồn đa dạng sinh học và ứng phó với biến đổi khí hậu, cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Mô hình đồng quản lý nghề cá đã được đề xuất như một phương pháp khả thi để kết hợp giữa bảo tồn và phát triển bền vững. Việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của bảo tồn cáhệ sinh thái là rất cần thiết. Các chương trình giáo dục và tuyên truyền cần được triển khai để người dân hiểu rõ hơn về tác động của biến đổi khí hậu và cách thức bảo vệ nguồn lợi thủy sản.

3.1. Mô hình đồng quản lý nghề cá

Mô hình đồng quản lý nghề cá tại Búng Bình Thiên đã cho thấy hiệu quả trong việc bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển nguồn lợi thủy sản. Sự tham gia của cộng đồng ngư dân trong quá trình quản lý là rất quan trọng. Các hoạt động như khảo sát, đánh giá nguồn lợi và xây dựng kế hoạch quản lý cần được thực hiện thường xuyên để đảm bảo tính bền vững của mô hình này.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) chiếm phần lớn châu thổ Mê Công, với tổng diện tích tự nhiên 39.734 km2 chiếm 12% diện tích tự nhiên của cả nước. Dân số ĐBSCL tính đến năm 2013 là 17.900 người, mật độ dân số 431 người/km2. ĐBSCL là một trong những “vựa thủy sản” lớn của cả nước, không chỉ cung cấp nguồn thực phẩm trong nước mà còn đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu, lưu giữ nguồn gen quý hiếm và các loài cá có giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên, hiện nay nguồn lợi cá ĐBSCL chịu những tác động không nhỏ từ phương thức quản lý, khai thác, cùng với sự thay đổi bất thường của điều kiện tự nhiên (Biến đổi khí hậu, Nước biển dâng), các hoạt động phát triển Kinh tế - xã hội: phát triển cơ sở hạ tầng đô thị, giao thông, thủy lợi, thủy điện, nhiệt điện, v.

Trước tình hình đó, để đánh giá đúng về hiện trạng Đa dạng sinh học các loài cá, các nhân tố đã và đang tác động đến sự phát triển bền vững của nguồn lợi cá, góp phần trong công tác quản lý thích ứng và khai thác, sử dụng bền vững nguồn lợi cá ĐBSCL,đồng thời bước đầu nghiên cứu về sinh học phân tửmột số loài cá, nhằm góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu trong công tác bảo tồn nguồn gen của các loài cá ởĐBSCL,chúng tôi thực hiện luận án: “Nghiên cứu Đa dạng sinh học khu hệ cá Đồng bằng sông Cửu Long và sự biến đổi của chúng do tác động của biến đổi khí hậu và sự phát triển Kinh tế - xã hội”. Mục tiêu của luận án là nghiên cứu đa dạng sinh học (ĐDSH) và các yếu tố ảnh hưởng đến khu hệ cá ĐBSCL, lồng ghép quản lý nghề cá thích ứng gắn với bảo tồn ĐDSH. Với những nội dung sau: 1. Đa dạng khu hệ cá ĐBSCL, thành phần loài,sự phân bố theo mùa, các loài quý hiếm bị đe dọa, các loài có giá trị kinh tế, các loài nhập nội, nghiên cứu về đặc điểm hình thái, sinh học phân tử của một số loài thuộc bộ cá Chép (Cypriniformes).

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự đa dạng sinh học của khu hệ cá ĐBSCL. Giải pháp quản lý nghề cá bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học ở ĐBSCL. Những điểm mới của luận án:kết quả nghiên cứu cập nhật hiện trạng đa dạng sinh học của khu hệ cá ĐBSCL; kết quả nghiên cứu lồng ghép giữa quản lý khai thác, 2 gắn với bảo tồn Đa dạng sinh học khu hệ cá có sự tham gia của cộng đồng - Đồng quản lý nghề cá; kết quả nghiên cứu, đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố cực đoan (BĐKH, NBD) đến sự đa dạng của khu hệ cá và hoạt động nghề cá vùng cửa sông ven biển từ cửa Tiểu (Tiền Giang) đến cửa Cổ Chiên (Bến Tre), ở các giai đoạn vào năm 2020, 2050 và 2100, kịch bản (B2 và A1F1); kết quả nghiên cứu về DNA của 20 loài cá thuộc bộ cá Chép (Cypriniformes), nhằm đóng góp cơ sở dữ liệu về gen từng bước đầy đủ và đồng bộ. Với những kết quả đạt được,hy vọng luận án sẽ đóng góp phần nào về cơ sở khoa học và thực tiễn chocông tác bảo tồn nguồn lợi, quản lý nghề cá thích ứng và cơ sở dữ liệu về sinh học phân tử, trong nghiên cứu bảo tồn đa dạng nguồn gencác loài cá ĐBSCL.

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 1. Đặc điểm địa lý tự nhiên ĐBSCL gồm 12 tỉnh và 1 thành phố trực thuộc Trung ương (Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu,Cà Mau và thành phố Cần Thơ), với tổng diện tích tự nhiên 39.734 km2 chiếm 12% diện tích tự nhiên của cả nước. Dân số vùng ĐBSCL tính đến năm 2013 là 17.900 người, mật độ dân số 431 người/km2. Dân cư đô thị trên 4 triệu người.

Số dân trong độ tuổi lao động 10.129 triệu người[Tổng cục Thống kê, 2013], [84]. Mối quan tâm của Việt Nam tại ĐBSCL về tài nguyên nước là lũ, lụt, xâm nhập mặn, xói lở bờ, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, v.ĐBSCL là phần hạ lưu của châu thổ sông Mê Công, một miền trũng Kainozoi Mê Công, được lấp đầy chủ yếu bằng các trầm tích hỗn hợp sông - biển. Ngoài ra, còn có các trầm tích nguồn gốc khác nhau như: bồi tích, trầm tích trên các giếng cát có nguồn gốc biển, trầm tích nguồn gốc hồ và trầm tích hỗn hợp đầm lầy - sông và đầm lầy - biển.ĐBSCL có 5 nhóm đất chính: đất phèn, đất mặn, đất phù sa, đất xám và đất cát ở các "giồng" cát ven sông và ven biển. Ngoài ra, còn có một số đất khác như đất đỏ vàng, than bùn.

ĐBSCL khá bằng phẳng và hơi thấp, cao độ phổ biến từ 0,3 m - 2,0 m, trừ một số đồi núi ở phía tây bắc thuộc tỉnh An Giang, Kiên Giang, toàn bộ đất đai còn lại có cao độ dưới 5 m. Ngoài ra, còn có những gờ đất ven sông và cồn cát ven biển tương đối cao, hai vùng trũng nhất là Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên. Bờ biển thấp với các bãi ngang ngập nước khi triều lên[133]. Khí hậu ĐBSCL nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nền khí hậu quanh năm nắng và sự phân mùa khô - ẩm rất sâu sắc, tùy theo hoạt động của hoàn lưu gió mùa.

Mùa khô thường trùng với mùa ít mưa, đây cũng là thời kỳ khống chế của gió mùa ĐôngBắc (GMĐB) kéo dài khoảng từ tháng XI đến tháng IV năm sau, có khí hậu đặc trưng là 4 khô, nóng và ít mưa. Mùa ẩm trùng với mùa mưa, là thời kỳ khống chế của gió mùa TâyNam (GMTN) kéo dài từ tháng V đến tháng X. Khí hậu ở ĐBSCL là khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa cận xích đạo, nắng nhiều, nhiệt độ cao quanh năm. Bức xạ tổng cộng trung bình năm khoảng từ 150 - 160 kcal/cm2.

Số giờ nắng trung bình năm khoảng từ 2. Nhiệt độ không khí trung bình năm biến đổi trong phạm vi 26oC - 29oC[133]. Do tác động chính bởi yếu tố khí hậu, chế độ thủy văn hàng năm của sông Cửu Long chia thành 2 mùa rõ rệt. Mùa lũ từ tháng VI đến tháng XII với lượng dòng chảy chiếm 90% tổng lượng dòng chảy năm và mùa khô từ tháng I đến tháng V.

Tháng III và tháng IV có dòng chảy cạn nhất [131]. Các số liệu về nhiệt độ (Nhiệt độ trung bình, nhiệt độ tối cao tuyệt đối, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối), tổng lượng mưa, số giờ nắng, thời tiết đặc biệt (số ngày có dông) từ năm 2001 đến năm 2013 ở ĐBSCL được cập nhật từ Bộ NN&PTNT [14], (Hình 1). Nhiệt độ trung bình qua các tháng trong năm 2001 của một số Nhiệt độ trung bình qua các tháng trong năm 2010 của một số tỉnh ở vùng đồng bằng sông Cửu Long tỉnh ở vùng đồng bằng sông Cửu Long 30.0 T1 T4 T7 T10 T12 T1 T4 T7 T10 T12 Nhiệt độ trung bình qua các tháng trong năm 2013 của một số Tổng lượng mưa (R) qua các tháng trong năm 2001 của một số tỉnh ở vùng đồng bằng sông Cửu Long tỉnh ở vùng đồng bằng sông Cửu Long 30. Đồ thị biểu diễn thời tiết ở các trạm thuộc ĐBSCL 1.

Lưu vực sông Mê Công và vùng đồng bằng sông Cửu Long Sông Mê Cônglà sông lớn nhất Đông Nam Á và là một trong những con sông lớn trên thế giới, bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, có độ cao 5.500 m so với mực nước biển và đổ ra biển Đông. Sông Mê Công có chiều dài 4.880 km, diện tích lưu 5 vực 795.000 km2, chảy qua lãnh thổ của 6 Quốc gia gồm các nước: Trung Quốc 21%, Myanmar 3%, Thái Lan 23%, Lào 25%, Campuchia20% và Việt Nam 8% [79].Hạ lưu vực Mê Công, từ Chiang Saen đến biển dài 2.400 km với diện tích 600.Sau Kratie, sông Mê Công đi vào vùng đồng bằng ngập lũ và nối với Biển Hồ qua Tonlesap[8], [89]. Lưu vực sông Mê Côngở Việt Nam có diện tích khoảng 71.000 km2, chiếm 8% diện tích toàn lưu vực và 20% diện tích lưu vực cả nước. Lưu vực sông Mê Công ở Việt Nam có các sông gồm: (1) Sông Nậm Rốm và Nậm Núa, bắt nguồn từ Bắc huyện Điện Biên và chảy sang Lào; (2) Một số sông suối phía tây huyện Hương Hóa (tỉnh Quảng Trị) chảy về hướng tây, đổ vào sông Xê Bang Hiêng (Lào) rồi hòa vào dòng Mê Công; (3) Sông Sêkong bắt nguồn từ dãy núi Trường Sơn (vùng Aso), huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên - Huế.

(quanh sông A Sáp và một chi lưu nhỏ của Sêkong bắt nguồn từ Kon Tum); (4) Tây nguyên là thượng nguồn đối với Campuchia trong khi Đồng bằng sông Cửu Long là hạ nguồn cuối cùng của lưu vực sông Mê Công. Lưu vực sông Mê Công ở Tây Nguyên gồm các sông Sê San và sông Srepok. Hai nhánh chính của sông Srepok là Krông Knô và Krông Ana.(5) Sông Mê Công khi chảy xuống hạ lưu Pnompenh vào Việt Nam được chia thành hai nhánh chính là sông Mê Công bên tả ngạn vào lãnh thổ Việt nam gọi là sông Tiền và sông Bassac bên hữu ngạn vào lãnh thổ Việt Nam gọi là sông Hậu. Sông Hậu và sông Tiền chảy trong lãnh thổ Việt Nam, gọi là sông Cửu Long, chia ra năm sông và đổ ra biển với chín cửa gồm:Sông Hậu đổ ra biển qua ba cửa(Định An, Ba Thắc - Bassac và Trần Đề),hiện nay cửa Ba Thắc đã bị bồi lắng hoàn toàn nên chỉ còn hai cửa.

Sông Tiền chia thành 4 sông và đổ ra biển qua sáu cửa. Sông Mỹ Tho đổ ra biển qua cửa Đại và sông cửa Tiểu (nhánh nhỏ của sông Mỹ Tho) đổ ra cửa Tiểu. Sông Hàm Luông đổ ra cửa Hàm Luông, sông Ba Lai đổ ra cửa Ba Lai. Sông Cổ chiên đổ ra biển bằnghai cửa Cổ Chiên và Cung Hầu.

Hiện nay, cửa Ba Lai bị bồi lắng đã cạn dần do cống đập ngăn mặn, giữ ngọt trên sông Ba Lai và chế độ thủy văn cũng thay đổi có phần phụ thuộc vào hoạt động của cống đập Ba Lai[88, 89], [115, 117], [131](Hình 2). 6 Đánh cá ở sông Srepok (thuộc Buôn Drangphok) Đáy bè và quăng chài mùa lũ ở sông Hậu Đánh lưới và Đóng đáy ở vùng cửa sông Trần Đề Đánh lưới và Bẫy rập (12 cửa ngục) ở sông Tiền Hình 2. Hình ảnh một số sông thuộc lưu vực sông Mê Công ở Việt Nam 1. Tổng quan về lũ ở đồng bằng sông Cửu Long Lũ sông Mê Công cho đến Kratie mang tính chất lũ miền núi, với biên độ lớn (10 m - 15 m) và lên xuống với cường suất cao (0,7 m - 1,5 m/ngày), truyền về hạ lưu với tốc độ 7 - 10 km/h.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án "Luận án về đa dạng sinh học khu hệ cá đồng bằng sông Cửu Long và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu" của tác giả Thái Ngọc Trí, dưới sự hướng dẫn của nhiều giảng viên uy tín tại Trường Đại học Saint Louis, tập trung vào việc nghiên cứu sự đa dạng sinh học của các loài cá trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long và những tác động của biến đổi khí hậu đến hệ sinh thái này. Nghiên cứu không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng hiện tại của khu hệ cá mà còn chỉ ra những thách thức mà chúng phải đối mặt trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng. Điều này mang lại lợi ích cho các nhà nghiên cứu, quản lý tài nguyên và những người quan tâm đến bảo tồn đa dạng sinh học.

Để mở rộng thêm kiến thức về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Luận án tiến sĩ về khu hệ mollusca gastropoda ở nước ngọt và trên cạn tại Thừa Thiên Huế, nghiên cứu về đa dạng sinh học trong môi trường nước ngọt, và Luận án tiến sĩ về tích hợp giáo dục môi trường và biến đổi khí hậu trong dạy học sinh học, đề cập đến tác động của biến đổi khí hậu trong giáo dục. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về đa dạng sinh học và biến đổi khí hậu trong các hệ sinh thái khác nhau.