MỞ ĐẦU Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) chiếm phần lớn châu thổ Mê Công, với tổng diện tích tự nhiên 39.734 km2 chiếm 12% diện tích tự nhiên của cả nước. Dân số ĐBSCL tính đến năm 2013 là 17.900 người, mật độ dân số 431 người/km2. ĐBSCL là một trong những “vựa thủy sản” lớn của cả nước, không chỉ cung cấp nguồn thực phẩm trong nước mà còn đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu, lưu giữ nguồn gen quý hiếm và các loài cá có giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên, hiện nay nguồn lợi cá ĐBSCL chịu những tác động không nhỏ từ phương thức quản lý, khai thác, cùng với sự thay đổi bất thường của điều kiện tự nhiên (Biến đổi khí hậu, Nước biển dâng), các hoạt động phát triển Kinh tế - xã hội: phát triển cơ sở hạ tầng đô thị, giao thông, thủy lợi, thủy điện, nhiệt điện, v.
Trước tình hình đó, để đánh giá đúng về hiện trạng Đa dạng sinh học các loài cá, các nhân tố đã và đang tác động đến sự phát triển bền vững của nguồn lợi cá, góp phần trong công tác quản lý thích ứng và khai thác, sử dụng bền vững nguồn lợi cá ĐBSCL,đồng thời bước đầu nghiên cứu về sinh học phân tửmột số loài cá, nhằm góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu trong công tác bảo tồn nguồn gen của các loài cá ởĐBSCL,chúng tôi thực hiện luận án: “Nghiên cứu Đa dạng sinh học khu hệ cá Đồng bằng sông Cửu Long và sự biến đổi của chúng do tác động của biến đổi khí hậu và sự phát triển Kinh tế - xã hội”. Mục tiêu của luận án là nghiên cứu đa dạng sinh học (ĐDSH) và các yếu tố ảnh hưởng đến khu hệ cá ĐBSCL, lồng ghép quản lý nghề cá thích ứng gắn với bảo tồn ĐDSH. Với những nội dung sau: 1. Đa dạng khu hệ cá ĐBSCL, thành phần loài,sự phân bố theo mùa, các loài quý hiếm bị đe dọa, các loài có giá trị kinh tế, các loài nhập nội, nghiên cứu về đặc điểm hình thái, sinh học phân tử của một số loài thuộc bộ cá Chép (Cypriniformes).
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự đa dạng sinh học của khu hệ cá ĐBSCL. Giải pháp quản lý nghề cá bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học ở ĐBSCL. Những điểm mới của luận án:kết quả nghiên cứu cập nhật hiện trạng đa dạng sinh học của khu hệ cá ĐBSCL; kết quả nghiên cứu lồng ghép giữa quản lý khai thác, 2 gắn với bảo tồn Đa dạng sinh học khu hệ cá có sự tham gia của cộng đồng - Đồng quản lý nghề cá; kết quả nghiên cứu, đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố cực đoan (BĐKH, NBD) đến sự đa dạng của khu hệ cá và hoạt động nghề cá vùng cửa sông ven biển từ cửa Tiểu (Tiền Giang) đến cửa Cổ Chiên (Bến Tre), ở các giai đoạn vào năm 2020, 2050 và 2100, kịch bản (B2 và A1F1); kết quả nghiên cứu về DNA của 20 loài cá thuộc bộ cá Chép (Cypriniformes), nhằm đóng góp cơ sở dữ liệu về gen từng bước đầy đủ và đồng bộ. Với những kết quả đạt được,hy vọng luận án sẽ đóng góp phần nào về cơ sở khoa học và thực tiễn chocông tác bảo tồn nguồn lợi, quản lý nghề cá thích ứng và cơ sở dữ liệu về sinh học phân tử, trong nghiên cứu bảo tồn đa dạng nguồn gencác loài cá ĐBSCL.
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 1. Đặc điểm địa lý tự nhiên ĐBSCL gồm 12 tỉnh và 1 thành phố trực thuộc Trung ương (Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu,Cà Mau và thành phố Cần Thơ), với tổng diện tích tự nhiên 39.734 km2 chiếm 12% diện tích tự nhiên của cả nước. Dân số vùng ĐBSCL tính đến năm 2013 là 17.900 người, mật độ dân số 431 người/km2. Dân cư đô thị trên 4 triệu người.
Số dân trong độ tuổi lao động 10.129 triệu người[Tổng cục Thống kê, 2013], [84]. Mối quan tâm của Việt Nam tại ĐBSCL về tài nguyên nước là lũ, lụt, xâm nhập mặn, xói lở bờ, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, v.ĐBSCL là phần hạ lưu của châu thổ sông Mê Công, một miền trũng Kainozoi Mê Công, được lấp đầy chủ yếu bằng các trầm tích hỗn hợp sông - biển. Ngoài ra, còn có các trầm tích nguồn gốc khác nhau như: bồi tích, trầm tích trên các giếng cát có nguồn gốc biển, trầm tích nguồn gốc hồ và trầm tích hỗn hợp đầm lầy - sông và đầm lầy - biển.ĐBSCL có 5 nhóm đất chính: đất phèn, đất mặn, đất phù sa, đất xám và đất cát ở các "giồng" cát ven sông và ven biển. Ngoài ra, còn có một số đất khác như đất đỏ vàng, than bùn.
ĐBSCL khá bằng phẳng và hơi thấp, cao độ phổ biến từ 0,3 m - 2,0 m, trừ một số đồi núi ở phía tây bắc thuộc tỉnh An Giang, Kiên Giang, toàn bộ đất đai còn lại có cao độ dưới 5 m. Ngoài ra, còn có những gờ đất ven sông và cồn cát ven biển tương đối cao, hai vùng trũng nhất là Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên. Bờ biển thấp với các bãi ngang ngập nước khi triều lên[133]. Khí hậu ĐBSCL nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nền khí hậu quanh năm nắng và sự phân mùa khô - ẩm rất sâu sắc, tùy theo hoạt động của hoàn lưu gió mùa.
Mùa khô thường trùng với mùa ít mưa, đây cũng là thời kỳ khống chế của gió mùa ĐôngBắc (GMĐB) kéo dài khoảng từ tháng XI đến tháng IV năm sau, có khí hậu đặc trưng là 4 khô, nóng và ít mưa. Mùa ẩm trùng với mùa mưa, là thời kỳ khống chế của gió mùa TâyNam (GMTN) kéo dài từ tháng V đến tháng X. Khí hậu ở ĐBSCL là khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa cận xích đạo, nắng nhiều, nhiệt độ cao quanh năm. Bức xạ tổng cộng trung bình năm khoảng từ 150 - 160 kcal/cm2.
Số giờ nắng trung bình năm khoảng từ 2. Nhiệt độ không khí trung bình năm biến đổi trong phạm vi 26oC - 29oC[133]. Do tác động chính bởi yếu tố khí hậu, chế độ thủy văn hàng năm của sông Cửu Long chia thành 2 mùa rõ rệt. Mùa lũ từ tháng VI đến tháng XII với lượng dòng chảy chiếm 90% tổng lượng dòng chảy năm và mùa khô từ tháng I đến tháng V.
Tháng III và tháng IV có dòng chảy cạn nhất [131]. Các số liệu về nhiệt độ (Nhiệt độ trung bình, nhiệt độ tối cao tuyệt đối, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối), tổng lượng mưa, số giờ nắng, thời tiết đặc biệt (số ngày có dông) từ năm 2001 đến năm 2013 ở ĐBSCL được cập nhật từ Bộ NN&PTNT [14], (Hình 1). Nhiệt độ trung bình qua các tháng trong năm 2001 của một số Nhiệt độ trung bình qua các tháng trong năm 2010 của một số tỉnh ở vùng đồng bằng sông Cửu Long tỉnh ở vùng đồng bằng sông Cửu Long 30.0 T1 T4 T7 T10 T12 T1 T4 T7 T10 T12 Nhiệt độ trung bình qua các tháng trong năm 2013 của một số Tổng lượng mưa (R) qua các tháng trong năm 2001 của một số tỉnh ở vùng đồng bằng sông Cửu Long tỉnh ở vùng đồng bằng sông Cửu Long 30. Đồ thị biểu diễn thời tiết ở các trạm thuộc ĐBSCL 1.
Lưu vực sông Mê Công và vùng đồng bằng sông Cửu Long Sông Mê Cônglà sông lớn nhất Đông Nam Á và là một trong những con sông lớn trên thế giới, bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, có độ cao 5.500 m so với mực nước biển và đổ ra biển Đông. Sông Mê Công có chiều dài 4.880 km, diện tích lưu 5 vực 795.000 km2, chảy qua lãnh thổ của 6 Quốc gia gồm các nước: Trung Quốc 21%, Myanmar 3%, Thái Lan 23%, Lào 25%, Campuchia20% và Việt Nam 8% [79].Hạ lưu vực Mê Công, từ Chiang Saen đến biển dài 2.400 km với diện tích 600.Sau Kratie, sông Mê Công đi vào vùng đồng bằng ngập lũ và nối với Biển Hồ qua Tonlesap[8], [89]. Lưu vực sông Mê Côngở Việt Nam có diện tích khoảng 71.000 km2, chiếm 8% diện tích toàn lưu vực và 20% diện tích lưu vực cả nước. Lưu vực sông Mê Công ở Việt Nam có các sông gồm: (1) Sông Nậm Rốm và Nậm Núa, bắt nguồn từ Bắc huyện Điện Biên và chảy sang Lào; (2) Một số sông suối phía tây huyện Hương Hóa (tỉnh Quảng Trị) chảy về hướng tây, đổ vào sông Xê Bang Hiêng (Lào) rồi hòa vào dòng Mê Công; (3) Sông Sêkong bắt nguồn từ dãy núi Trường Sơn (vùng Aso), huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên - Huế.
(quanh sông A Sáp và một chi lưu nhỏ của Sêkong bắt nguồn từ Kon Tum); (4) Tây nguyên là thượng nguồn đối với Campuchia trong khi Đồng bằng sông Cửu Long là hạ nguồn cuối cùng của lưu vực sông Mê Công. Lưu vực sông Mê Công ở Tây Nguyên gồm các sông Sê San và sông Srepok. Hai nhánh chính của sông Srepok là Krông Knô và Krông Ana.(5) Sông Mê Công khi chảy xuống hạ lưu Pnompenh vào Việt Nam được chia thành hai nhánh chính là sông Mê Công bên tả ngạn vào lãnh thổ Việt nam gọi là sông Tiền và sông Bassac bên hữu ngạn vào lãnh thổ Việt Nam gọi là sông Hậu. Sông Hậu và sông Tiền chảy trong lãnh thổ Việt Nam, gọi là sông Cửu Long, chia ra năm sông và đổ ra biển với chín cửa gồm:Sông Hậu đổ ra biển qua ba cửa(Định An, Ba Thắc - Bassac và Trần Đề),hiện nay cửa Ba Thắc đã bị bồi lắng hoàn toàn nên chỉ còn hai cửa.
Sông Tiền chia thành 4 sông và đổ ra biển qua sáu cửa. Sông Mỹ Tho đổ ra biển qua cửa Đại và sông cửa Tiểu (nhánh nhỏ của sông Mỹ Tho) đổ ra cửa Tiểu. Sông Hàm Luông đổ ra cửa Hàm Luông, sông Ba Lai đổ ra cửa Ba Lai. Sông Cổ chiên đổ ra biển bằnghai cửa Cổ Chiên và Cung Hầu.
Hiện nay, cửa Ba Lai bị bồi lắng đã cạn dần do cống đập ngăn mặn, giữ ngọt trên sông Ba Lai và chế độ thủy văn cũng thay đổi có phần phụ thuộc vào hoạt động của cống đập Ba Lai[88, 89], [115, 117], [131](Hình 2). 6 Đánh cá ở sông Srepok (thuộc Buôn Drangphok) Đáy bè và quăng chài mùa lũ ở sông Hậu Đánh lưới và Đóng đáy ở vùng cửa sông Trần Đề Đánh lưới và Bẫy rập (12 cửa ngục) ở sông Tiền Hình 2. Hình ảnh một số sông thuộc lưu vực sông Mê Công ở Việt Nam 1. Tổng quan về lũ ở đồng bằng sông Cửu Long Lũ sông Mê Công cho đến Kratie mang tính chất lũ miền núi, với biên độ lớn (10 m - 15 m) và lên xuống với cường suất cao (0,7 m - 1,5 m/ngày), truyền về hạ lưu với tốc độ 7 - 10 km/h.