Luận văn thạc sĩ hay nghiên cứu tình trạng và phân bố các loài bò sát reptilia tại khu bảo tồn đồng sơn kỳ thượng huyện hoành bồ tỉnh quảng ninh

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tình trạng và phân bố các loài bò sát Reptilia tại khu bảo tồn Đồng Sơn Kỳ Thượng, huyện Hoành Bồ, Quảng Ninh.

Trường đại học

Trường Đại học Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2018

81
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Đặc điểm của Bò sát

1.2. Các nghiên cứu thành phần loài bò sát ở Việt Nam

1.3. Các nghiên cứu thành phần loài bò sát ở vùng Đông Bắc

1.4. Các nghiên cứu thành phần loài bò sát ở Khu bảo tồn Đồng Sơn – Kỳ Thượng

2. CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Công tác chuẩn bị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về tình trạng và phân bố bò sát tại Đồng Sơn Kỳ Thượng

Khu bảo tồn Đồng Sơn - Kỳ Thượng là một trong những khu vực có đa dạng sinh học cao tại tỉnh Quảng Ninh. Nghiên cứu tình trạng và phân bố các loài bò sát tại đây không chỉ giúp hiểu rõ hơn về hệ sinh thái mà còn góp phần bảo tồn các loài động vật quý hiếm. Theo tài liệu nghiên cứu, khu vực này đã ghi nhận được nhiều loài bò sát, trong đó có những loài đặc hữu và có nguy cơ tuyệt chủng. Việc nghiên cứu này sẽ cung cấp thông tin quan trọng cho công tác bảo tồn và quản lý tài nguyên thiên nhiên.

1.1. Đặc điểm sinh thái và môi trường khu bảo tồn

Khu bảo tồn Đồng Sơn - Kỳ Thượng có hệ sinh thái rừng kín thường xanh, với nhiều loại thực vật và động vật phong phú. Điều kiện khí hậu và địa hình đa dạng tạo ra môi trường sống lý tưởng cho các loài bò sát. Nghiên cứu cho thấy, khu vực này có sự phân bố phong phú của các loài bò sát, từ thằn lằn đến rắn và rùa.

1.2. Vai trò của bò sát trong hệ sinh thái

Bò sát đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái. Chúng giúp kiểm soát số lượng côn trùng và các loài động vật nhỏ khác, đồng thời là nguồn thức ăn cho nhiều loài động vật khác. Việc bảo tồn bò sát không chỉ bảo vệ các loài này mà còn bảo vệ toàn bộ hệ sinh thái.

II. Các thách thức đối với tình trạng bò sát tại khu bảo tồn

Mặc dù khu bảo tồn Đồng Sơn - Kỳ Thượng có nhiều tiềm năng, nhưng tình trạng bò sát tại đây đang gặp nhiều thách thức. Các hoạt động khai thác tài nguyên, săn bắt trái phép và biến đổi khí hậu đang đe dọa đến sự tồn tại của nhiều loài bò sát. Việc nhận diện và đánh giá các mối đe dọa này là rất cần thiết để có biện pháp bảo tồn hiệu quả.

2.1. Tác động của con người đến môi trường sống

Các hoạt động như khai thác gỗ, sử dụng thuốc trừ sâu và săn bắt động vật hoang dã đã làm giảm đáng kể số lượng bò sát trong khu vực. Những tác động này không chỉ ảnh hưởng đến bò sát mà còn đến toàn bộ hệ sinh thái.

2.2. Biến đổi khí hậu và ảnh hưởng đến bò sát

Biến đổi khí hậu đang làm thay đổi môi trường sống của bò sát, ảnh hưởng đến sự sinh sản và phân bố của chúng. Nhiệt độ tăng cao và sự thay đổi lượng mưa có thể làm giảm khả năng sinh tồn của nhiều loài bò sát.

III. Phương pháp nghiên cứu tình trạng bò sát tại Đồng Sơn Kỳ Thượng

Để đánh giá tình trạng và phân bố bò sát, nghiên cứu đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Các phương pháp này bao gồm điều tra thực địa, phỏng vấn người dân địa phương và phân tích mẫu vật. Việc sử dụng các phương pháp này giúp thu thập dữ liệu chính xác và đầy đủ về các loài bò sát trong khu bảo tồn.

3.1. Điều tra thực địa và thu thập mẫu

Điều tra thực địa được thực hiện để ghi nhận sự hiện diện của các loài bò sát. Các mẫu vật được thu thập và phân tích để xác định danh sách loài và tình trạng bảo tồn của chúng.

3.2. Phỏng vấn và thu thập thông tin từ cộng đồng

Phỏng vấn người dân địa phương giúp thu thập thông tin về sự phân bố và tình trạng bò sát. Những thông tin này rất quý giá trong việc hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa con người và bò sát trong khu vực.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy khu bảo tồn Đồng Sơn - Kỳ Thượng có sự đa dạng cao về bò sát, với nhiều loài quý hiếm. Những thông tin này không chỉ có giá trị khoa học mà còn có thể được ứng dụng trong công tác bảo tồn và quản lý tài nguyên thiên nhiên. Việc bảo tồn bò sát sẽ góp phần bảo vệ đa dạng sinh học và phát triển bền vững khu vực.

4.1. Danh sách các loài bò sát được ghi nhận

Nghiên cứu đã ghi nhận được nhiều loài bò sát, trong đó có những loài đặc hữu và có nguy cơ tuyệt chủng. Danh sách này sẽ là cơ sở để xây dựng các kế hoạch bảo tồn cụ thể.

4.2. Đề xuất giải pháp bảo tồn bò sát

Dựa trên kết quả nghiên cứu, các giải pháp bảo tồn bò sát đã được đề xuất. Những giải pháp này bao gồm việc tăng cường quản lý khu bảo tồn, giáo dục cộng đồng và thực hiện các chương trình bảo tồn cụ thể cho từng loài.

V. Kết luận và triển vọng tương lai cho bò sát tại Đồng Sơn Kỳ Thượng

Nghiên cứu tình trạng và phân bố bò sát tại khu bảo tồn Đồng Sơn - Kỳ Thượng đã chỉ ra rằng việc bảo tồn các loài này là rất cần thiết. Tương lai của bò sát tại khu vực này phụ thuộc vào các biện pháp bảo tồn hiệu quả và sự hợp tác của cộng đồng. Cần có những nghiên cứu tiếp theo để theo dõi tình trạng bò sát và điều chỉnh các chiến lược bảo tồn cho phù hợp.

5.1. Tầm quan trọng của bảo tồn bò sát

Bảo tồn bò sát không chỉ bảo vệ các loài này mà còn bảo vệ toàn bộ hệ sinh thái. Việc duy trì sự đa dạng sinh học là rất quan trọng cho sự phát triển bền vững.

5.2. Hướng đi tương lai cho nghiên cứu và bảo tồn

Cần tiếp tục nghiên cứu và theo dõi tình trạng bò sát để có những biện pháp bảo tồn kịp thời. Hợp tác giữa các cơ quan, tổ chức và cộng đồng là rất cần thiết để đạt được mục tiêu bảo tồn.

17/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay nghiên cứu tình trạng và phân bố các loài bò sát reptilia tại khu bảo tồn đồng sơn kỳ thượng huyện hoành bồ tỉnh quảng ninh

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Tài nguyên động vật rừng Việt Nam không những phong phú và đa dạng mà còn có tính đặc hữu cao, Bò sát là nhóm động vật như vậy. Bò sát là nhóm Động vật có xương sống đầu tiên thích nghi với đời sống trên cạn hoàn toàn. Chúng cũng như nhiều động vật khác trong tự nhiên là một mắt xích rất quan trọng trong mạng lưới thức ăn của quần xã, góp phần tạo nên sự đa dạng sinh học, điều chỉnh sự cân bắng sinh thái. Với Bò sát chúng cũng có vai trò quan trọng trong tự nhiên, trong sự phát triển kinh tế - xã hội của loài người.

Đa số các loài Bò sát tiêu diệt côn trùng, thân mềm, gặm nhấm gây hại trong nông nghiệp, những vật chủ trung gian lây truyền bệnh cho con người và gia súc. Ngược lại, nhiều loài Bò sát là nguồn thức ăn cho nhóm động vật khác như chim, thú và các loài Bò sát lớn. Nhiều loài Bò sát làm thực phẩm có giá trị đối với sức khỏe con người như Ba ba, rùa, rắn, các loài trăn…Đặc biệt thịt rùa, ba ba, vích, đồi mồi là thực phẩm đặc sản cao cấp. Không những thế,chúng còn là nguyên liệu để bào chế ra những dược liệu quý chữa bệnh như suy nhược thần kinh, bồi bổ cơ thể, bệnh còi xương trẻ em…Bò sát là một đối tượng nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và khoa học.

Mặc dù Bò sát có những ý nghĩa kinh tế rất lớn nhưng việc khai thác chúng hiện nay vẫn chưa có kế hoạch, quy mô khai thác đúng mức dẫn đến việc nhiều loài đang ở mức nguy cơ tuyệt chủng gần như hoàn toàn làm giảm đáng kể về số lượng loài trong tự nhiên. Khu bảo tồn Đồng Sơn – Kỳ Thượng nằm trọn trên địa bàn 5 xã: Đồng Lâm, Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Vũ Oai và Hòa Bình thuộc huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh. Khu rừng này có tính đa dạng sinh học cao và được xem là một khu điển hình của hệ sinh thái rừng kín thường xanh núi thấp có diện tích rừng tự nhiên tập trung lớn nhất vùng Đông Bắc Việt Nam với nhiều loài động vật, thực vật rừng quý hiếm. Từ khi thành lập theo quyết định số 1672/QĐ – UB ngày 22/05/2002 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc phê LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 duyệt dự án xây dựng KBT Đồng Sơn – Kỳ Thượng và Quyết định số 440/QĐ – UB ngày 12/02/2003 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc thành lập Ban quản lý KBT Đồng Sơn – Kỳ Thượng thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh.

Tháng 5 năm 2007 Khu bảo tồn phối hợp với đoàn cán bộ khoa học thuộc Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật; Viện động vật Xanh Pê-téc- bua của Nga điều tra thực địa tại tiểu khu 61 xã Kỳ Thượng đã phát hiện và lấy mẫu được 43 loài bò sát, ếch nhái. Qua phân tích các mẫu động vật, đoàn công tác đã đánh giá đây là khu vực đa dạng về bò sát, ếch nhái. Đặc biệt là các loài bò sát. Tuy nhiên, quá trình điều tra diễn ra trong thời gian ngắn do vậy việc nghiên cứu, tổng hợp loài bò sát tại khu vực là một trong những yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa thực tiễn cao về mặt khoa học và bảo tồn.

Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu tình trạng và phân bố các loài bò sát (Reptilia) tại Khu bảo tồn Đồng Sơn – Kỳ Thượng – Huyện Hoành Bồ - Tỉnh Quảng Ninh” góp phần bảo tồn các loài bò sát tại khu bảo tồn nghiên cứu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Đặc điểm của Bò sát Việt nam được biết như một đất nước có tiềm năng đa dạng sinh học cao và mang tính đặc hữu, đặc biệt là các loài bò sát. Từ rất lâu, việc nghiên cứu các loài bò sát đã được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đặc biệt từ thể kỷ XX đến nay.

Trước khi đến với những nghiên cứu cụ thể các loài bò sát tìm hiểu đặc điểm loài bò sát: Động vật bò sát (danh pháp khoa học: Reptilia) là các động vât bốn chân có màng ối (nghĩa là các phôi thai được bao bọc trong màng ối). Ngày nay, chúng còn lại các đại diện của 4 bộ còn sống sót lại là: Crocodilia: gồm các loài cá sấu thực sự, cá sấu caiman và cá sấu Mỹ, có 23 loài Sphenodontia (các loài tuatara ở New Zealand): 2 loài. Squamata: gồm các loài thằn lằn, rắn và amphisbaenia (bò sát giống bọ),có khoảng 7. Testudines: gồm các loài rùa, ba ba, vích, đồi mồi…,có khoảng 300 loài.

Động vật bò sát được tìm thấy gần như ở mọi nơi trên thế giới, ngoại trừ châu Nam Cực, mặc dù khu vực phân bổ chính của chúng là các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Mặc dù tất cả hoạt động trao đổi chất trong các tế bào sản sinh ra một nguồn năng lượng nhất định, nhưng phần lớn các loài bò sát ngày nay không sản sinh ra đủ năng lượng để duy trì một thân nhiệt ổn định và vì thế chúng còn được gọi là "động vật máu lạnh" (ectothermic), ngoại lệ duy nhất là rùa da (Dermochelys coriacea). Thay vì thế, chúng dựa trên việc thu và mất nhiệt từ môi trường để điều chỉnh nhiệt độ bên trong của chúng, chẳng hạn bằng cách di chuyển ra chỗ có ánh nắng hay chỗ có bóng râm, hoặc bằng cách tuần hoàn máu có ưu đãi - chuyển máu nóng vào phần trung tâm của cơ thể, trong khi đẩy máu lạnh ra các khu vực LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 ngoại biên. Trong môi trường sinh sống tự nhiên của chúng, phần lớn các loài là rất lão luyện trong công việc này, và chúng có thể thường xuyên duy trì nhiệt độ tại các cơ quan trung tâm trong một phạm vi dao động nhỏ, khi so sánh với các loài động vật có vú và chim, hai nhóm còn sống sót của "động vật máu nóng".

Trong khi sự thiếu hụt cơ chế điều chỉnh thân nhiệt bên trong đã làm chúng phải chịu một cái giá đáng kể cho việc này thông qua các hành vi, thì ở mặt khác nó cũng đem lại một số lợi ích đáng kể như cho phép động vật bò sát có thể tồn tại ở những khu vực ít thức ăn hơn so với các loài chim và động vật có vú có kích thước tương đương, là những động vật phải dành hầu hết nguồn năng lượng thu nạp được cho việc giữ ấm cơ thể. Trong khi về cơ bản thì động vật máu nóng di chuyển nhanh hơn so với động vật máu lạnh thì những loài thằn lằn, cá sấu hay rắn khi tấn công con mồi lại là những động vật di chuyển cực nhanh.Ngoại trừ một số ít thành viên trong bộ Rùa (Testudines), thì tất cả các loài bò sát đều có vảy che phủ. Phần lớn các loài bò sát là động vật đẻ trứng. Tuy nhiên, nhiều loài trong nhóm Squamata lại có khả năng sinh ra con non.

Điều này có thể là thông qua cơ chế đẻ trứng thai (nghĩa là con non phát triển trong vỏ trứng bên trong cơ thể mẹ trước khi sinh ra), hoặc đẻ con (con non được sinh ra không cần trứng có vỏ chứa canxi). Nhiều loài đẻ con nuôi dưỡng bào thai của chúng thông qua các dạng nhau thai khác nhau, tương tự như ở động vật có vú (Pianka & Vitt, 2003, các trang 116-118). Chúng thường cũng có sự chăm sóc ban đầu đáng kể cho các con non mới sinh. Các nghiên cứu thành phần loài bò sát ở Việt Nam: Từ năm 1878, J.Andeson mô tả một số loài Bò sát ở Bắc Bộ.

Tiếp đến tổng kết công trình nghiên cứu về Bò sát của R.Bourret (1924-1944) một số địa điểm Việt Nam và toàn đại dương. Ông đã thống kê và ghi nhận được 177 loài thằn lằn, 245 loài và phân loài rắn, 45 loài và phân loài rùa , trong đó có các loài ở Việt Nam (Bourret. Đặc biệt năm 1996, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc ghi nhận 258 loài bò sát, số lượng tăng lên 368 loài vào năm 2009 (Nguyen và cs) và lên tới 420 loài năm 2013. Theo thống kê của hai trang web về cơ sơ dữ liệu của bò sát và ếch nhái thế giới (Reptile database and Amphibian Species of the World) thì số lượng loài bò sát của Việt Nam trong năm 2016 là 417 trong đó 186 loài thằn lằn, 195 loài rắn, 34 loài rùa và 2 loài cá sấu (Uetz & Hošek 2016; Forst 2016).

Luu et al. 2013 đã báo cáo tổng cộng 151 loài (101 loài bò sát và 50 loài lưỡng cư) trong đó ghi nhận 13 loài mới cho VQG Phong Nha - Kẻ Bàng và tỉnh Quảng Bình. Ziegler et al. 2014 đã cung cấp một danh lục của 102 loài (50 loài lưỡng cư và 52 loài bò sát) trong đó ghi nhận lần đầu tiên cho tỉnh Hà Giang 8 loài ếch nhái và 12 loài bò sát.

Nguyen et al. 2016 đã ghi nhận 31 loài lưỡng cư và bò sát từ kết quả nghiên cứu thực địa ở năm 2015 và 2016 trong đó có 8 loài mới ghi nhận cho huyện Hướng Hóa và 4 loài ghi nhận mới cho tỉnh Quảng Trị. Pham et al. 2017 đã lần đầu báo cáo 21 loài ếch nhái cho hệ sinh thái núi đá vôi của huyện Hà Lang, tỉnh Cao Bằng trong đó ghi nhận mới 3 loài (Odorrana bacboensis, O.

graminea, Rhacophorus maximus) cho tỉnh Cao Bằng. Hoàng Thị Tươi và Lưu Quang Vinh (2017) đã ghi nhận lần đầu tiên 27 loài bò sát và 18 loài ếch nhái tại hệ sinh thái núi đá vôi của Quần thể danh thắng Tràng An, tỉnh Ninh Bình. Số loài mới cho khoa học được công bố hàng năm cũng tăng lên rõ rệt qua các thời kỳ. Nếu trong thời kỳ 1954–1975 chỉ phát hiện được 1 loài bò sát mới cho khoa học, thì từ năm 1976–1996, số loài phát hiện mới cho khoa học đã tăng lên 12 loài bò sát, trong giai đoạn từ 1996-2005 số lượng loài mới phát hiện là 29 loài bò sát, trong giai đoạn 10 năm gần đây từ 2006-2016 số lượng loài mới phát hiện đã tăng nhanh lên đến 88 loài bò sát.

Một số loài mới được công bố gần đây có thể kể đến: 47 loài bò sát như: Cnemaspis psychedelica Grismer, Ngo & Grismer, 2010; Calamaria concolor Orlov, Truong, Tao, Ananjeva & Cuc, 2010; Tropidophorus LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 boehmei Nguyen, Nguyen, Schmitz, & Ziegler, 2010; Scincella darevskii Nguyen, Ananjeva,, Orlov, Rybaltovsky & Bohme, 2010; Scincella apraefrontalis Nguyen, Nguyen, Bohme & Ziegler, 2010; Scincella apraefrontalis Nguyen, Nguyen, Böhme & Ziegler 2010; Acanthosaura brachypoda Ananjeva, Orlov, Nguyen & Ryabov, 2011; Cyrtodactylus huongsonensis Luu, Nguyen, Do & Ziegler, 2011[18].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu tình trạng và phân bố bò sát tại khu bảo tồn Đồng Sơn - Kỳ Thượng" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự đa dạng và phân bố của các loài bò sát trong khu bảo tồn này. Nghiên cứu không chỉ giúp xác định các loài bò sát hiện có mà còn phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của chúng. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững khu vực.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các nghiên cứu liên quan đến đa dạng sinh học, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu đánh giá tính đa dạng sinh học và chức năng sinh thái rừng ngập mặn tiên yên hà cối tỉnh quảng ninh, nơi nghiên cứu về sự đa dạng sinh học trong các hệ sinh thái rừng ngập mặn.

Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ hay nghiên cứu tính đa dạng thực vật bậc cao có mạch tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh nam xuân lạc tỉnh bắc kạn cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về sự đa dạng thực vật, một yếu tố quan trọng trong hệ sinh thái nơi có bò sát sinh sống.

Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ hay nghiên cứu đặc điểm thảm thực vật tại rừng quốc gia yên tử tỉnh quảng ninh, tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa thực vật và động vật trong các khu bảo tồn. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về sự đa dạng sinh học và các yếu tố ảnh hưởng đến nó.