Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam được đánh giá là một trong những trung tâm đa dạng sinh học cao của thế giới với hơn 420 loài bò sát đã được công bố. Trong đó, vùng Đông Bắc đóng vai trò là hành lang sinh thái quan trọng với nhiều loài đặc hữu. Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn – Kỳ Thượng thuộc huyện Hoành Bồ (nay thuộc thành phố Hạ Long), tỉnh Quảng Ninh, sở hữu tổng diện tích tự nhiên 16.269,9 ha, bao gồm 15.777,7 ha đất rừng tự nhiên. Đây là mẫu chuẩn điển hình cho hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp còn sót lại nguyên vẹn nhất của vùng Đông Bắc.

Tuy nhiên, áp lực từ hoạt động khai thác lâm sản, săn bắt động vật hoang dã trái phép và mở rộng nương rẫy canh tác đang làm suy thoái nghiêm trọng nơi cư trú của khu hệ bò sát. Trước thời điểm năm 2018, các dữ liệu về bò sát tại khu bảo tồn còn phân tán, thiếu tính hệ thống và chưa cập nhật đầy đủ biến động quần thể.

Nhằm giải quyết bài toán cấp bách này, đề tài tập trung đánh giá toàn diện hiện trạng thành phần loài, quy luật phân bố không gian theo 4 dạng sinh cảnh và 4 đai độ cao, đồng thời xác định các tác động tiêu cực đến môi trường sống của bò sát. Nghiên cứu được triển khai trên địa bàn 5 xã gồm Đồng Sơn, Đồng Lâm, Kỳ Thượng, Vũ Oai và Hòa Bình.

Kết quả đề tài cung cấp cơ sở khoa học định lượng chuẩn xác với 36 loài được ghi nhận, đóng góp luận cứ trực tiếp phục vụ công tác quy hoạch phân khu chức năng và nâng cao hiệu lực quản lý bảo tồn tài nguyên sinh vật tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết sinh thái học quần xã động vật (Community Ecology) và lý thuyết ổ sinh thái nhiệt (Thermal Niche Theory) của động vật biến nhiệt (Ectothermic). Đối với lớp Bò sát (Reptilia), khả năng điều hòa thân nhiệt phụ thuộc hoàn toàn vào nhiệt độ môi trường, dẫn đến sự chọn lọc khắt khe về cấu trúc vi sinh cảnh, độ che phủ tầng tán và nguồn ẩm ven suối.

Khung lý thuyết của đề tài tích hợp 4 khái niệm then chốt: Đa dạng thành phần loài (Species Richness), Sinh cảnh vi mô (Microhabitat), Phân bố theo đai cao (Altitudinal Zonation) và Mối đe dọa sinh học (Anthropogenic Threats). Đề tài vận dụng mô hình đánh giá mối đe dọa của Margoluis và Salafsky (2001) nhằm lượng hóa các áp lực nhân sinh lên quần thể bò sát dựa trên 3 tiêu chí: Diện tích ảnh hưởng, Cường độ tác động và Tính cấp thiết.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn kết hợp chặt chẽ giữa điều tra thực địa sơ cấp và phỏng vấn xã hội học. Cỡ mẫu phỏng vấn bán cấu trúc bao gồm 31 đối tượng, trong đó có 6 cán bộ quản lý, kiểm lâm địa bàn và 25 người dân địa phương am hiểu địa hình đi rừng tại 5 xã vùng đệm. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm thu thập dữ liệu lịch sử xuất hiện và tập quán khai thác của cộng đồng bản địa.

Điều tra thực địa được thực hiện qua 4 tuyến khảo sát có chiều dài từ 1.000m đến 2.000m, cắt qua 4 dạng sinh cảnh đại diện. Các đợt khảo sát phân bổ vào hai khung giờ hoạt động cao điểm của bò sát: ban ngày (từ 9h00 đến 16h00) và ban đêm (từ 19h00 đến 24h00). Tốc độ di chuyển trên tuyến duy trì chậm dưới 1 km/h kết hợp quan sát, soi đèn tìm kiếm dọc hai bên tuyến nhằm hạn chế tối đa việc bỏ sót các cá thể ngụy trang. Tọa độ điểm bắt gặp được xác định chính xác bằng thiết bị định vị vệ tinh GPS Garmin 76.

Mẫu vật thu thập được xử lý nội nghiệp theo quy chuẩn chuyên ngành: gây mê bằng ethyl acetate trong 24 giờ, cố định hình thái trong cồn 80% đến 90% từ 8 đến 10 tiếng, sau đó lưu trữ lâu dài trong cồn 70%. Giám định danh pháp khoa học dựa theo hệ thống phân loại của Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trường (2009). Giá trị bảo tồn được tra cứu đối chiếu qua Sách Đỏ Việt Nam (2007), Danh lục Đỏ IUCN (2018), Công ước CITES (2018), Nghị định 32/2006/NĐ-CP và Nghị định 160/2013/NĐ-CP của Chính phủ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra thực địa và tổng hợp tư liệu đã ghi nhận tổng cộng 36 loài bò sát thuộc 11 họ và 2 bộ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn – Kỳ Thượng. Đề tài đã bổ sung 1 họ mới là Họ Ba ba (Trionychidae) cùng 3 loài mới cho danh lục bò sát của khu bảo tồn, gồm: Ba ba gai (Palea steindachneri), Rắn bồng chì (Hypsirhina plumbea) và Rắn lệch đầu kinh tuyến (Dinodon meridionale).

Phân bố bò sát theo sinh cảnh cho thấy sự chênh lệch rõ nét về độ phong phú:

  • Sinh cảnh 4 (Rừng hỗn giao tre nứa kết hợp rừng thường xanh phục hồi ven suối) ghi nhận số lượng loài cao nhất với 15 loài, chiếm 41,67% tổng số loài.
  • Sinh cảnh 1 (Rừng thường xanh phục hồi, rừng nghèo và suối) ghi nhận 11 loài, chiếm 30,56%.
  • Sinh cảnh 3 (Rừng hỗn giao núi đất và suối) ghi nhận 9 loài, chiếm 25,00%.
  • Sinh cảnh 2 (Rừng thường xanh nghèo kết hợp rừng trồng) có mức độ đa dạng thấp nhất với 5 loài, chiếm 13,89%.

Phân bố theo đai cao ghi nhận sự tập trung vượt trội ở đai độ cao dưới 600m với 24 loài xuất hiện. Độ đa dạng giảm dần khi lên đai 600m - 800m và chỉ còn một số ít loài có biên độ thích ứng rộng như Tắc kè (Gekko gecko), Thạch sùng đuôi sần (Hemidactylus frenatus) và Thằn lằn bóng đuôi dài (Mabuya longicaudata) phân bố lên trên đai 800m - 1.000m. Khu hệ cũng sở hữu nhiều đại diện quý hiếm có nguy cơ đe dọa cao như Trăn đất (Python molurus), Rắn hổ mang chúa (Ophiophagus hannah), Rùa hộp trán vàng (Cuora galbinifrons) và Kỳ đà hoa (Varanus salvator).

Thảo luận kết quả

Sự tập trung đậm đặc của các loài bò sát tại Sinh cảnh 4 và Sinh cảnh 1 ven suối phản ánh đặc tính nhiệt đới ẩm của khu hệ động vật Đông Bắc. Khu vực thung lũng ven khe suối duy trì độ ẩm cao, thảm mục dày và nguồn thức ăn dồi dào từ côn trùng, lưỡng cư, tạo điều kiện thuận lợi cho bò sát máu lạnh sưởi ấm, săn mồi và sinh sản. Dữ liệu phân bố sinh cảnh và đai cao có thể được biểu diễn trực quan thông qua biểu đồ cột kép và bảng ma trận không gian, giúp các nhà quản lý dễ dàng nhận diện các điểm nóng đa dạng sinh học (Biodiversity Hotspots) cần ưu tiên khoanh vùng bảo vệ.

So sánh với các khu bảo tồn lân cận như Tây Yên Tử tại Bắc Giang (ghi nhận 89 loài năm 2008) hay Tam Đảo tại Vĩnh Phúc (hơn 80 loài rắn năm 2000), số lượng 36 loài tại Đồng Sơn – Kỳ Thượng phản ánh đặc trưng của sinh cảnh núi đất thấp bị tác động phân mảnh. Điều này cũng cho thấy tiềm năng khu hệ vẫn còn phong phú và cần tiếp tục khảo sát bổ sung. Nghiên cứu đã chỉ ra 5 nhóm nhân tố đe dọa hàng đầu gồm: săn bắt thương mại, lạm dụng hóa chất bảo vệ thực vật trong nông nghiệp, phá rừng làm nương rẫy, khai thác gỗ và thu hái lâm sản ngoài gỗ quá mức.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả đánh giá thực địa, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm bảo tồn bền vững khu hệ bò sát:

  • Tăng cường tuần tra thực địa: Hạt Kiểm lâm Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn – Kỳ Thượng cần thiết lập các chốt bảo vệ cơ động, nâng tần suất tuần tra lên 100% tại 4 tiểu khu trọng điểm (gồm tiểu khu 52, 56, 60 và 61) trong giai đoạn 2018 - 2020. Mục tiêu là triệt phá và giảm tối thiểu 80% tình trạng đặt bẫy, săn bắt động vật hoang dã trái phép.
  • Phục hồi sinh cảnh vi mô ven suối: Ban Quản lý Khu bảo tồn phối hợp cùng chính quyền huyện Hoành Bồ triển khai khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên trên diện tích 500 ha rừng đầu nguồn và hành lang ven khe suối trong khung thời gian 3 năm (2019 - 2022). Giải pháp này nhằm tái lập kết nối sinh thái và mở rộng nơi cư trú cho các loài rùa và rắn quý hiếm.
  • Chuyển đổi sinh kế cộng đồng vùng đệm: Ủy ban nhân dân 5 xã vùng đệm chủ trì tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật canh tác nông lâm kết hợp bền vững cho toàn bộ 34 hộ dân đang sinh sống trong vùng lõi và 5.790 lao động vùng đệm trước năm 2021. Hướng dẫn bà con thay thế 90% lượng thuốc trừ sâu hóa học bằng chế phẩm sinh học nhằm bảo vệ nguồn nước và chuỗi thức ăn tự nhiên.
  • Ứng dụng công nghệ GIS và dữ liệu số: Phòng Khoa học Kỹ thuật của Khu bảo tồn chịu trách nhiệm xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa, cập nhật định kỳ 6 tháng một lần biến động quần thể của 36 loài bò sát, kết hợp bản đồ phân vùng nhạy cảm sinh thái giai đoạn 2019 - 2025 để hỗ trợ điều hành chính xác.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia: Cung cấp khung phương pháp luận chuẩn hóa về lập tuyến điều tra ban đêm, biểu mẫu phỏng vấn cộng đồng và kỹ thuật đánh giá mối đe dọa sinh học trên diện tích hơn 16.000 ha rừng đặc dụng.
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu sinh thái học: Cung cấp hệ thống dữ liệu hình thái, sinh thái học thực địa và tọa độ phân bố chuẩn xác của 36 loài bò sát vùng Đông Bắc, đặc biệt là dẫn liệu mô tả chi tiết của 3 loài mới bổ sung cho khu vực Quảng Ninh.
  • Học viên cao học và sinh viên ngành Quản lý tài nguyên rừng: Đóng vai trò là tài liệu tham khảo mẫu mực về quy trình thực hiện một đề tài nghiên cứu từ khâu chuẩn bị công cụ thực địa, thu thập xử lý mẫu vật ngâm cồn đến phân tích ma trận đa dạng sinh thái.
  • Cơ quan hoạch định chính sách lâm nghiệp địa phương: Cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho Chi cục Kiểm lâm và Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn tỉnh Quảng Ninh trong việc phê duyệt các đề án bảo tồn loài nguy cấp và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội bền vững cho đồng bào dân tộc Dao.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn đã ghi nhận và bổ sung những loài bò sát nào mới cho khu bảo tồn?
Nghiên cứu đã ghi nhận tổng cộng 36 loài bò sát, đồng thời bổ sung 1 họ mới là Họ Ba ba (Trionychidae) và 3 loài mới cho danh lục Khu bảo tồn Đồng Sơn – Kỳ Thượng. Ba loài bổ sung bao gồm Ba ba gai (Palea steindachneri), Rắn bồng chì (Hypsirhina plumbea) và Rắn lệch đầu kinh tuyến (Dinodon meridionale).

Tại sao sinh cảnh rừng hỗn giao tre nứa kết hợp rừng phục hồi lại có số loài bò sát cao nhất?
Sinh cảnh này sở hữu cấu trúc tầng tán đa dạng, thảm mục phong phú và mạng lưới suối nhỏ xen kẽ, tạo nên vi khí hậu mát mẻ và nguồn thức ăn dồi dào. Khảo sát thực địa ghi nhận tại đây có tới 15 loài (chiếm 41,67% tổng số loài), vượt trội so với các sinh cảnh rừng trồng thuần loài.

Quy trình đánh giá các mối đe dọa đến bò sát được thực hiện như thế nào?
Đề tài áp dụng phương pháp định lượng của Margoluis và Salafsky (2001), tiến hành chấm điểm các tác động nhân sinh dựa trên 3 tiêu chí cốt lõi: Diện tích ảnh hưởng, Cường độ tác động và Tính cấp thiết. Kết quả chỉ ra hoạt động săn bắt trái phép và lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật là hai mối đe dọa nguy hại nhất.

Quy luật phân bố của bò sát theo độ cao tại khu vực nghiên cứu thể hiện ra sao?
Bò sát tại khu vực nghiên cứu tập trung đậm đặc nhất ở đai độ cao dưới 600m với 24 loài xuất hiện nhờ nhiệt độ ấm áp và thảm thực vật rậm rạp. Càng lên cao trên 800m đến 1.000m, điều kiện nhiệt độ giảm mạnh và gió lạnh khiến số lượng loài suy giảm rõ rệt.

Những loài bò sát quý hiếm nào tại Đồng Sơn – Kỳ Thượng cần ưu tiên bảo vệ khẩn cấp?
Khu bảo tồn hiện ghi nhận nhiều loài thuộc diện nguy cấp trong Sách Đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ IUCN như Rùa hộp trán vàng (Cuora galbinifrons), Rắn hổ mang chúa (Ophiophagus hannah), Kỳ đà hoa (Varanus salvator) và Trăn đất (Python molurus). Đây là những loài đang chịu áp lực săn bắt thương mại lớn nhất.

Kết luận

  • Luận văn đã xác lập danh lục khoa học hoàn chỉnh gồm 36 loài bò sát thuộc 11 họ và 2 bộ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn – Kỳ Thượng, bổ sung 1 họ và 3 loài mới cho khu vực.
  • Phân bố không gian của khu hệ gắn liền chặt chẽ với các sinh cảnh rừng phục hồi ven suối (chiếm tới 41,67% số loài) và tập trung chủ yếu ở đai thấp dưới 600m.
  • Đề tài đã lượng hóa và xếp hạng 5 mối đe dọa nhân sinh chính, cung cấp bức tranh toàn diện về áp lực quản lý trên diện tích 16.269,9 ha rừng đặc dụng.
  • Hệ thống 4 giải pháp đồng bộ được đề xuất với lộ trình triển khai chi tiết từ năm 2018 đến năm 2025, kết hợp chặt chẽ giữa kỹ thuật tuần tra, phục hồi sinh cảnh và phát triển sinh kế cho 34 hộ dân vùng lõi.
  • Nghiên cứu là tài liệu tham khảo then chốt thúc đẩy các cơ quan quản lý và nhà khoa học tiếp tục hợp tác triển khai các chương trình giám sát dài hạn nhằm bảo tồn nguyên vẹn tính đa dạng sinh học quý báu của vùng Đông Bắc.