ĐẶT VẤN ĐỀ Tài nguyên động vật rừng Việt Nam không những phong phú và đa dạng mà còn có tính đặc hữu cao, Bò sát là nhóm động vật như vậy. Bò sát là nhóm Động vật có xương sống đầu tiên thích nghi với đời sống trên cạn hoàn toàn. Chúng cũng như nhiều động vật khác trong tự nhiên là một mắt xích rất quan trọng trong mạng lưới thức ăn của quần xã, góp phần tạo nên sự đa dạng sinh học, điều chỉnh sự cân bắng sinh thái. Với Bò sát chúng cũng có vai trò quan trọng trong tự nhiên, trong sự phát triển kinh tế - xã hội của loài người.
Đa số các loài Bò sát tiêu diệt côn trùng, thân mềm, gặm nhấm gây hại trong nông nghiệp, những vật chủ trung gian lây truyền bệnh cho con người và gia súc. Ngược lại, nhiều loài Bò sát là nguồn thức ăn cho nhóm động vật khác như chim, thú và các loài Bò sát lớn. Nhiều loài Bò sát làm thực phẩm có giá trị đối với sức khỏe con người như Ba ba, rùa, rắn, các loài trăn…Đặc biệt thịt rùa, ba ba, vích, đồi mồi là thực phẩm đặc sản cao cấp. Không những thế,chúng còn là nguyên liệu để bào chế ra những dược liệu quý chữa bệnh như suy nhược thần kinh, bồi bổ cơ thể, bệnh còi xương trẻ em…Bò sát là một đối tượng nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và khoa học.
Mặc dù Bò sát có những ý nghĩa kinh tế rất lớn nhưng việc khai thác chúng hiện nay vẫn chưa có kế hoạch, quy mô khai thác đúng mức dẫn đến việc nhiều loài đang ở mức nguy cơ tuyệt chủng gần như hoàn toàn làm giảm đáng kể về số lượng loài trong tự nhiên. Khu bảo tồn Đồng Sơn – Kỳ Thượng nằm trọn trên địa bàn 5 xã: Đồng Lâm, Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Vũ Oai và Hòa Bình thuộc huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh. Khu rừng này có tính đa dạng sinh học cao và được xem là một khu điển hình của hệ sinh thái rừng kín thường xanh núi thấp có diện tích rừng tự nhiên tập trung lớn nhất vùng Đông Bắc Việt Nam với nhiều loài động vật, thực vật rừng quý hiếm. Từ khi thành lập theo quyết định số 1672/QĐ – UB ngày 22/05/2002 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc phê LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 duyệt dự án xây dựng KBT Đồng Sơn – Kỳ Thượng và Quyết định số 440/QĐ – UB ngày 12/02/2003 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc thành lập Ban quản lý KBT Đồng Sơn – Kỳ Thượng thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh.
Tháng 5 năm 2007 Khu bảo tồn phối hợp với đoàn cán bộ khoa học thuộc Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật; Viện động vật Xanh Pê-téc- bua của Nga điều tra thực địa tại tiểu khu 61 xã Kỳ Thượng đã phát hiện và lấy mẫu được 43 loài bò sát, ếch nhái. Qua phân tích các mẫu động vật, đoàn công tác đã đánh giá đây là khu vực đa dạng về bò sát, ếch nhái. Đặc biệt là các loài bò sát. Tuy nhiên, quá trình điều tra diễn ra trong thời gian ngắn do vậy việc nghiên cứu, tổng hợp loài bò sát tại khu vực là một trong những yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa thực tiễn cao về mặt khoa học và bảo tồn.
Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu tình trạng và phân bố các loài bò sát (Reptilia) tại Khu bảo tồn Đồng Sơn – Kỳ Thượng – Huyện Hoành Bồ - Tỉnh Quảng Ninh” góp phần bảo tồn các loài bò sát tại khu bảo tồn nghiên cứu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Đặc điểm của Bò sát Việt nam được biết như một đất nước có tiềm năng đa dạng sinh học cao và mang tính đặc hữu, đặc biệt là các loài bò sát. Từ rất lâu, việc nghiên cứu các loài bò sát đã được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đặc biệt từ thể kỷ XX đến nay.
Trước khi đến với những nghiên cứu cụ thể các loài bò sát tìm hiểu đặc điểm loài bò sát: Động vật bò sát (danh pháp khoa học: Reptilia) là các động vât bốn chân có màng ối (nghĩa là các phôi thai được bao bọc trong màng ối). Ngày nay, chúng còn lại các đại diện của 4 bộ còn sống sót lại là: Crocodilia: gồm các loài cá sấu thực sự, cá sấu caiman và cá sấu Mỹ, có 23 loài Sphenodontia (các loài tuatara ở New Zealand): 2 loài. Squamata: gồm các loài thằn lằn, rắn và amphisbaenia (bò sát giống bọ),có khoảng 7. Testudines: gồm các loài rùa, ba ba, vích, đồi mồi…,có khoảng 300 loài.
Động vật bò sát được tìm thấy gần như ở mọi nơi trên thế giới, ngoại trừ châu Nam Cực, mặc dù khu vực phân bổ chính của chúng là các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Mặc dù tất cả hoạt động trao đổi chất trong các tế bào sản sinh ra một nguồn năng lượng nhất định, nhưng phần lớn các loài bò sát ngày nay không sản sinh ra đủ năng lượng để duy trì một thân nhiệt ổn định và vì thế chúng còn được gọi là "động vật máu lạnh" (ectothermic), ngoại lệ duy nhất là rùa da (Dermochelys coriacea). Thay vì thế, chúng dựa trên việc thu và mất nhiệt từ môi trường để điều chỉnh nhiệt độ bên trong của chúng, chẳng hạn bằng cách di chuyển ra chỗ có ánh nắng hay chỗ có bóng râm, hoặc bằng cách tuần hoàn máu có ưu đãi - chuyển máu nóng vào phần trung tâm của cơ thể, trong khi đẩy máu lạnh ra các khu vực LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 ngoại biên. Trong môi trường sinh sống tự nhiên của chúng, phần lớn các loài là rất lão luyện trong công việc này, và chúng có thể thường xuyên duy trì nhiệt độ tại các cơ quan trung tâm trong một phạm vi dao động nhỏ, khi so sánh với các loài động vật có vú và chim, hai nhóm còn sống sót của "động vật máu nóng".
Trong khi sự thiếu hụt cơ chế điều chỉnh thân nhiệt bên trong đã làm chúng phải chịu một cái giá đáng kể cho việc này thông qua các hành vi, thì ở mặt khác nó cũng đem lại một số lợi ích đáng kể như cho phép động vật bò sát có thể tồn tại ở những khu vực ít thức ăn hơn so với các loài chim và động vật có vú có kích thước tương đương, là những động vật phải dành hầu hết nguồn năng lượng thu nạp được cho việc giữ ấm cơ thể. Trong khi về cơ bản thì động vật máu nóng di chuyển nhanh hơn so với động vật máu lạnh thì những loài thằn lằn, cá sấu hay rắn khi tấn công con mồi lại là những động vật di chuyển cực nhanh.Ngoại trừ một số ít thành viên trong bộ Rùa (Testudines), thì tất cả các loài bò sát đều có vảy che phủ. Phần lớn các loài bò sát là động vật đẻ trứng. Tuy nhiên, nhiều loài trong nhóm Squamata lại có khả năng sinh ra con non.
Điều này có thể là thông qua cơ chế đẻ trứng thai (nghĩa là con non phát triển trong vỏ trứng bên trong cơ thể mẹ trước khi sinh ra), hoặc đẻ con (con non được sinh ra không cần trứng có vỏ chứa canxi). Nhiều loài đẻ con nuôi dưỡng bào thai của chúng thông qua các dạng nhau thai khác nhau, tương tự như ở động vật có vú (Pianka & Vitt, 2003, các trang 116-118). Chúng thường cũng có sự chăm sóc ban đầu đáng kể cho các con non mới sinh. Các nghiên cứu thành phần loài bò sát ở Việt Nam: Từ năm 1878, J.Andeson mô tả một số loài Bò sát ở Bắc Bộ.
Tiếp đến tổng kết công trình nghiên cứu về Bò sát của R.Bourret (1924-1944) một số địa điểm Việt Nam và toàn đại dương. Ông đã thống kê và ghi nhận được 177 loài thằn lằn, 245 loài và phân loài rắn, 45 loài và phân loài rùa , trong đó có các loài ở Việt Nam (Bourret. Đặc biệt năm 1996, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc ghi nhận 258 loài bò sát, số lượng tăng lên 368 loài vào năm 2009 (Nguyen và cs) và lên tới 420 loài năm 2013. Theo thống kê của hai trang web về cơ sơ dữ liệu của bò sát và ếch nhái thế giới (Reptile database and Amphibian Species of the World) thì số lượng loài bò sát của Việt Nam trong năm 2016 là 417 trong đó 186 loài thằn lằn, 195 loài rắn, 34 loài rùa và 2 loài cá sấu (Uetz & Hošek 2016; Forst 2016).
Luu et al. 2013 đã báo cáo tổng cộng 151 loài (101 loài bò sát và 50 loài lưỡng cư) trong đó ghi nhận 13 loài mới cho VQG Phong Nha - Kẻ Bàng và tỉnh Quảng Bình. Ziegler et al. 2014 đã cung cấp một danh lục của 102 loài (50 loài lưỡng cư và 52 loài bò sát) trong đó ghi nhận lần đầu tiên cho tỉnh Hà Giang 8 loài ếch nhái và 12 loài bò sát.
Nguyen et al. 2016 đã ghi nhận 31 loài lưỡng cư và bò sát từ kết quả nghiên cứu thực địa ở năm 2015 và 2016 trong đó có 8 loài mới ghi nhận cho huyện Hướng Hóa và 4 loài ghi nhận mới cho tỉnh Quảng Trị. Pham et al. 2017 đã lần đầu báo cáo 21 loài ếch nhái cho hệ sinh thái núi đá vôi của huyện Hà Lang, tỉnh Cao Bằng trong đó ghi nhận mới 3 loài (Odorrana bacboensis, O.
graminea, Rhacophorus maximus) cho tỉnh Cao Bằng. Hoàng Thị Tươi và Lưu Quang Vinh (2017) đã ghi nhận lần đầu tiên 27 loài bò sát và 18 loài ếch nhái tại hệ sinh thái núi đá vôi của Quần thể danh thắng Tràng An, tỉnh Ninh Bình. Số loài mới cho khoa học được công bố hàng năm cũng tăng lên rõ rệt qua các thời kỳ. Nếu trong thời kỳ 1954–1975 chỉ phát hiện được 1 loài bò sát mới cho khoa học, thì từ năm 1976–1996, số loài phát hiện mới cho khoa học đã tăng lên 12 loài bò sát, trong giai đoạn từ 1996-2005 số lượng loài mới phát hiện là 29 loài bò sát, trong giai đoạn 10 năm gần đây từ 2006-2016 số lượng loài mới phát hiện đã tăng nhanh lên đến 88 loài bò sát.
Một số loài mới được công bố gần đây có thể kể đến: 47 loài bò sát như: Cnemaspis psychedelica Grismer, Ngo & Grismer, 2010; Calamaria concolor Orlov, Truong, Tao, Ananjeva & Cuc, 2010; Tropidophorus LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 boehmei Nguyen, Nguyen, Schmitz, & Ziegler, 2010; Scincella darevskii Nguyen, Ananjeva,, Orlov, Rybaltovsky & Bohme, 2010; Scincella apraefrontalis Nguyen, Nguyen, Bohme & Ziegler, 2010; Scincella apraefrontalis Nguyen, Nguyen, Böhme & Ziegler 2010; Acanthosaura brachypoda Ananjeva, Orlov, Nguyen & Ryabov, 2011; Cyrtodactylus huongsonensis Luu, Nguyen, Do & Ziegler, 2011[18].