MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đa dạng sinh học nấm lớn có vai trò quan trọng trong việc duy trì c n bằng sinh thái và các chu trình tuần hoàn tự nhiên. Tuy nhiên, nguồn tài nguyên sinh thái này đang có nguy cơ bị suy giảm hay bị mất đi bởi sự gia tăng các tác động tiêu cực của con ngƣời. Đồng thời, tại các Vƣờn quốc gia của Việt Nam việc bảo tồn đối với các loài nấm qu hiếm và nhận thức cho việc bảo tồn ch ng còn hạn chế.
Hiện nay, Nhà nƣớc cũng nhƣ cộng đồng rất quan t m và đƣa ra các chính sách, biện pháp nhằm khắc phục tình trạng suy giảm tài nguyên sinh vật, tuy nhiên các nghiên cứu về nấm lớn vẫn chƣa đầy đủ, đồng thời còn mang tính riêng rẽ, chƣa khái quát và tổng hợp. Ở Việt Nam hiện nay chƣa có bất kỳ nghiên cứu hay đề tài nào đ thực hiện về x y dựng cơ sở dữ liệu cho loài nấm lớn một cách tổng th. Nghiên cứu về các loài nấm lớn tại Việt Nam nói riêng và trên Thế giới nói chung nhằm mục đích bảo tồn cần có một hệ thống số liệu lớn, có tính kế thừa, đƣợc tổng hợp từ các kết quả nghiên cứu đ đƣợc công nhận. Từ đó, ta nhận thấy cơ sở dữ liệu hay việc chia sẻ dữ liệu về nấm lớn đƣợc x y dựng có nghĩa quan trọng trong công tác phối hợp giữa các cơ quan đơn vị đ thực hiện các mục tiêu nhƣ n ng cao chất lƣợng quản l , thực hiện hiệu quả các công tác bảo tồn, nh n giống hay theo dõi sự phát tri n của các loài nấm lớn.
Với một hệ thống cơ sở dữ liệu khi đƣợc chia sẻ với những ngƣời có chuyên môn hoặc với cộng đồng sẽ góp phần truyền tải thông tin về các loài nấm và cách thức đ bảo tồn ch ng, không những vậy, điều này còn gi p cho việc hoàn thiện và phát tri n cơ sở dữ liệu này nhằm hƣớng tới mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học các loài nấm trên toàn thế giới. Đồng thời, ở Việt Nam khu hệ nấm nói chung và nấm lớn nói riêng mới ch đƣợc nghiên cứu bƣớc đầu. Tuy nhiên, khu hệ nấm lớn ở Việt Nam rất đa Luan van 2 dạng và đƣợc hình thành từ rất l u ở các khu rừng nguyên sinh, có giá trị tài nguyên to lớn. Đ bảo tồn và phát huy tài nguyên qu giá này ch ng ta cần đầu tƣ nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống về khu hệ nấm lớn tại Việt Nam trong thời gian tới.
Trong khuôn khổ luận văn tốt nghiệp tôi lựa chọn phạm vi dữ liệu nghiên cứu là Vƣờn quốc gia Tam Đảo, bởi hệ động thực vật ở nơi đ y khá phong ph và đa dạng, đ có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến đa dạng sinh học cũng nhƣ bảo tồn đa dạng sinh học tại vƣờn quốc gia này. Tuy nhiên, các nghiên cứu về nấm lớn hay x y dựng cơ sở dữ liệu về nấm lớn thì chƣa có hoặc còn rất hạn chế. Xuất phát từ những cơ sở l luận trên tôi tiến hành thực hiện đề tài: "Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu nấm lớn phục vụ công tác bảo tồn tại Vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc". Mục tiêu nghiên cứu - Thiết lập đƣợc cơ sở khoa học và cung cấp phƣơng pháp, quy trình x y dựng cơ sở dữ liệu nấm lớn tại Vƣờn quốc gia Tam Đảo, t nh Vĩnh Ph c.
- Thiết kế đƣợc mô hình hệ thống cơ sở dữ liệu, tích hợp với bản đồ vị trí ph n bố phục vụ cho bảo tồn đa dạng sinh học nấm lớn tại Vƣờn quốc gia Tam Đảo, t nh Vĩnh Ph c. Nội dung nghiên cứu Nội dung 1: Nghiên cứu Hiện trạng quản l đa dạng sinh học nấm lớn tại VQG Tam Đảo: Nội dung 2: Nghiên cứu cơ sở khoa học, các phƣơng pháp và quy trình x y dựng cơ sở dữ liệu nấm lớn. Nội dung 3: X y dựng hệ thống cơ sở dữ liệu nấm lớn, tích hợp dữ liệu về không gian, x y dựng bản đồ ph n bố nấm lớn, từ đó đề xuất khu vực ƣu tiên bảo tồn Luan van 3 Chƣơng 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Trong chƣơng này ch ng tôi tổng quan một số khái niệm liên quan đến nấm lớn và cơ sở dữ liệu, tình hình nghiên cứu về nấm lớn, x y dựng cơ sở dữ liệu nấm lớn trên thế giới và trong nƣớc; quy trình x y dựng cơ sở dữ liệu và các phần mềm đƣợc sử dụng đ x y dựng.
Tổng quan các nghiên cứu về nấm lớn Trong thời kỳ Pháp thuộc, những nghiên cứu về nấm của Việt Nam nói chung và nấm lớn nói riêng đƣợc thực hiện đầu tiên từ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 bởi các tác giả nƣớc ngoài nhƣ Patouillard N. Ở miền Bắc Việt Nam, việc nghiên cứu nấm đƣợc bắt đầu vào năm 1953. Phạm Hoàng Hộ là ngƣời Việt Nam đầu tiên có công trình nghiên cứu về nấm đó là: “C y cỏ miền Nam Việt Nam”, ở nghiên cứu này ông đ liệt kê và mô tả đƣợc 48 chi, 31 loài nấm. Tính đến năm 1978 đ có 618 loài thuộc 150 chi đƣợc ghi nhận ở miền Bắc Việt Nam.
Tại Đại học Tổng hợp Hà Nội có công trình nghiên cứu của Trƣơng Văn Năm (1965) “Nghiên cứu nấm sống trên gỗ ở lâm trường Hữu Lũng” [9], Trịnh Tam Kiệt với đề tài “Bước đầu điều tra bộ Aphyllophorales vùng Hà Nội” (1965) [5] và “Sơ bộ điều tra nghiên cứu các loài nấm ăn và nấm độc chính ở một số vùng miền Bắc Việt Nam”(1966) [6], Nguyễn Văn Diễn (1965). Tính đến năm 1978 đ có 618 loài thuộc 150 chi đƣợc ghi nhận ở miền Bắc Việt Nam. Bên cạnh đó còn có các tác giả: Lê Bá Dũng (1977) “Nghiên cứu họ Polyporaceae miền Bắc Việt Nam” [3] đ mô tả 22 loài; Lê Văn Liễu (1977) “Một số nấm ăn được và nấm độc ở rừng” với 118 loài [12]; Luan van 4 Năm 1978, ở nghiên cứu này Trịnh Tam Kiệt đ công bố “Những dẫn liệu về hệ nấm sống trên gỗ vùng Nghệ An”, tác giả đ mô tả 90 loài nấm mọc trên gỗ [7]. Tiếp đó, các nghiên cứu liên quan đến nấm nói chung, hay nấm lớn nói riêng đ đƣợc phát tri n mạnh mẽ bởi một số tác giả trong nƣớc nhƣ: Trịnh Tam Kiệt (1977, 1981, 1996, 1998, 2001, 2005, 2008, 2010), Ngô Anh (1978, 1999, 2003), Phan Huy Dục (1991, 1996), Lê Xu n Thám và Hoàng Thị Mỹ Linh (2001).
Nhìn chung, khu hệ nấm Việt Nam, bao gồm nấm lớn còn chƣa đƣợc nghiên cứu một cách đầy đủ so với các loài thực vật bậc cao và động vật có xƣơng sống, các công trình ch đƣợc công bố chủ yếu bởi các nghiên cứu khoa học học trong nƣớc và một số ít ở nƣớc ngoài và hầu hết không đƣợc công khai hoặc biết đến một cách rộng r i và có hệ thống. Bên cạnh đó, các sách xuất bản chuyên về ph n loại nấm cũng còn rất ít. Vì vậy, những số liệu, tài liệu liên quan đến nấm còn mang tính chất sơ bộ, riêng rẽ, chƣa đƣợc hệ thống hóa một cách đầy đủ phục vụ cho mục đích tra cứu, tham khảo hay quản l. Tổng quan về cơ sở dữ liệu 1.
Khái niệm về cơ sở dữ liệu Cơ sở dữ liệu là tập hợp các dữ liệu có cấu tr c và liên quan với nhau đƣợc lƣu trữ trên máy tính, đƣợc nhiều ngƣời sử dụng và đƣợc tổ chức theo một mô hình. Trong khái niệm này, ch ng ta cần nhấn mạnh, cơ sở dữ liệu là tập hợp các thông tin có tính chất hệ thống, không phải là các thông tin rời rạc, không có liên quan với nhau. Các thông tin này phải có cấu tr c và tập hợp các thông Luan van 5 tin này phải có khả năng đáp ứng nhu cầu khai thác của nhiều ngƣời sử dụng một cách đồng thời. Một ƣu đi m nổi bật của cách tổ chức cơ sở dữ liệu là làm giảm thi u sự tr ng lặp thông tin và đảm bảo đƣợc tính nhất quán, tính toàn vẹn của dữ liệu.
Một ƣu đi m khác của cơ sở dữ liệu là khả năng chia sẻ thông tin cho nhiều ngƣời sử dụng khác nhau tiết kiệm đƣợc tài nguyên và tăng hiệu quả khai thác. Yêu cầu về dữ liệu: - Các dữ liệu cần phải tách bạch, rõ ràng theo chủng loại - Trong mỗi chủng loại, dữ liệu phải nhất quán theo chuẩn đề ra - Các dữ liệu không đƣợc tr ng lặp, chồng chéo và không thừa hoặc thiếu thông tin. Ph n loại cơ sở dữ liệu: - Cơ sở dữ liệu không gian là cơ sở dữ liệu có chứa trong nó những thông tin về định vị của đối tƣợng. Nó là những dữ liệu phản ánh, th hiện những đối tƣợng có kích thƣớc vật l nhất định.
Nếu là những cơ sở dữ liệu không gian địa l thì đó là những dữ liệu phản ánh những đối tƣợng có trên bề mặt hoặc trong vỏ quả đất; - Cơ sở dữ liệu thuộc tính hay còn gọi là cơ sở dữ liệu phi không gian là cơ sở dữ liệu phản ánh tính chất của các đối tƣợng khác nhau. Dữ liệu thuộc tính đƣợc sắp xếp theo hàng và cột, mỗi hàng bao gồm nhiều loại thông tin về một đối tƣợng nào đó nhƣ tên, diện tích, … Mỗi loại thông tin khác nhau này đƣợc gọi là một trƣờng, mỗi trƣờng đƣợc sắp xếp tƣơng ứng với một cột. Tổng quan hiện trạng xây dựng cơ sở dữ liệu môi trƣờng, cơ sở dữ liệu nấm lớn Hiện nay, trên Thế giới, có 03 cơ sở dữ liệu về nấm hoặc liên quan đến nấm: Luan van 6 - Mycobank.org (Cơ sở dữ liệu nấm, danh pháp và ng n hàng loài): MycoBank là một cơ sở dữ liệu trực tuyến nhằm mục đích phục vụ cho khoa học và x hội bằng cách ghi lại các danh pháp học tự nhiên và dữ liệu liên quan. Sắp xếp thứ tự theo cặp và xác định đa hình của nấm và nấm men.org (Cơ sở dữ liệu nấm): cơ sở dữ liệu toàn cầu của tên nấm phối hợp và hỗ trợ bởi Fungorum Partnership Index, chứa tên của nấm (bao gồm cả nấm men, địa y, nấm chromistan, nấm đơn bào và các hình thức hóa thạch) ở tất cả các cấp bậc.