Mở đầu Chương II – Tổng quan tài liệu. Chương III – Nội dung và phương pháp nghiên cứu Chương IV – Kết quả và thảo luận Chương V – Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo. 3 Chương 2 – TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện tự nhiên của Thành Phố Hồ Chí Minh 2.1 Vị trí Địa lý Toạ độ địa lý: TP.HCM nằm trong tọa độ địa lý khoảng 10°10' – 10°38' vĩ độ Bắc và 106°22' – 106°54' kinh độ Đông. Phạm vi ranh giới: Thành phố Hồ Chí Minh nằm giữa khu vực đồng bằng sông Cửu Long và khu vực Đông Nam Bộ - Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương - Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, - Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, - Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Nam giáp biển Đông) - Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang.
4 Hình 1: Bản đồ hành chính thành phố Hồ Chí Minh ( Nguồn http://web.org/sedec/solieu/bando/m-hcmc1.2 Khí hậu Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo. Lượng bức xạ hằng năm tương đối lớn, khoảng 140 kcal/cm2/năm. Số giờ nắng trung bình trong ngày khoảng 6/24h. Nhiệt độ trung bình khoảng 27 - 28oC.
Nhiệt độ cao nhất khoảng 32oC, vào tháng 6 hằng năm. Nhiệt độ thấp nhất khoảng 23oC, thường rơi vào tháng 12 hằng năm. Biên độ nhiệt trung bình giữa các tháng trong năm thấp, khoảng 2 - 3oC. Khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
Lượng mưa trung bình 1.931mm/năm, phân bố không đều theo thời gian và không gian. Theo thời gian, khoảng 90% lượng mưa trong năm tập trung vào mùa mưa. Theo không gian, lượng mưa có xu hướng tăng dần từ Tây Nam lên Đông Bắc. Các huyện phía Nam và Tây Nam của thành phố như: Cần Giờ, Nhà Bè, Bình Chánh, lượng mưa tương đối thấp, khoảng 1.
Các quận nội thành và các huyện phía Bắc như Củ Chi, Hóc Môn lượng mưa thường đạt trên 2.3 Địa hình Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong khu vực chuyển tiếp giữa Nam Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Địa hình thuộc dạng đồng bằng thấp, nhiều nơi còn là vùng trũng. Bề mặt địa hình tương đối bằng phẳng, bị chia cắt mạnh bởi mạng lưới sông ngòi, kênh rạch. Chiều cao địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, độ dốc không lớn lắm.
Địa hình đồi bóc mòn: phân bố nhiều nhất ở khu vực Long Bình, quận Thủ Đức. Đặc trưng cho dạng địa hình này là các đồi hình bát úp, đỉnh tròn, sườn thoải cao từ 20 - 25 m, bề mặt bị phong hoá mạnh, dễ bị bóc mòn, rửa trôi. Địa hình đồng bằng thềm với 3 bậc khác nhau: bậc 1 phân bố ở huyện Bình Chánh, phía Đông huyện Hóc Môn, phía Nam huyện Củ Chi, quận Thủ Đức và toàn bộ huyện Nhà Bè, độ cao trung bình 1m được cấu tạo bởi trầm tích hỗn hợp sông và biển. Bậc 2 phân bố chủ yếu ở khu vực nội thành và chạy dọc theo các thung lũng 6 sông thuộc huyện Củ Chi, độ cao trung bình từ 3-8m, tăng dần từ nội thành ra ngoại thành.
Bậc 3 phân bố ở huyện Củ Chi và một phần quận Thủ Đức, độ cao khác nhau trung bình từ 5 - 25 m. Địa hình đầm lầy kéo dài từ Thái Mỹ đến nông trường Lê Minh Xuân; vùng đầm lầy bãi bồi ven biển ở huyện Cần Giờ với độ cao 0,5 - 1 m và các giồng cát ven biển.4 Đất đai Đất đai của thành phố được chia thành 4 nhóm chính: nhóm đất phèn, nhóm đất phù sa, nhóm đất xám và nhóm đất mặn. Nhóm đất phèn chiếm khoảng 27,5%, đang được cải tạo và khai thác ở các huyện ngoại thành như: Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh. - Nhóm đất phù sa ít bị nhiễm phèn chiếm diện tích tương đối nhỏ, khoảng 12,6% tổng diện tích đất tự nhiên của thành phố.
- Nhóm đất xám phát triển trên phù sa cổ chiếm khoàng 19,3%. - Nhóm đất mặn chiếm 12,2%, tập trung ở huyện Cần Giờ Ngoài ra, thành phố còn có một số nhóm đất khác chiếm khoảng 28,4% diện tích còn lại như: đất đỏ vàng phân bố ở vùng gò đồi thuộc huyện Củ Chi và quận Thủ Đức, đất cát tập trung ở vùng ven biển huyện Cần Giờ, gần sông suối.5 Thủy văn Chế độ thuỷ văn của thành phố chịu tác động qua lại bởi hệ thống sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông, cùng với thuỷ triều. Hầu hết các kênh rạch và một phần hạ lưu sông Sài Gòn, sông Đồng Nai đều chịu ảnh hưởng của thuỷ triều. Thành phố Hồ Chí Minh còn có mạng lưới sông ngòi kênh rạch rất đa dạng.
Sông Đồng Nai bắt nguồn từ cao nguyên Lâm viên, hợp lưu bởi nhiều sông khác, có lưu vực lớn, khoảng 45. Với lưu lượng bình quân 20–500 m³/s, hàng năm cung cấp 15 tỷ m³ nước, sông Đồng Nai trở thành nguồn nước ngọt chính của thành phố. 7 Sông Sài Gòn bắt nguồn từ vùng Hớn Quảng, chảy qua Thủ Dầu Một đến Thành phố Hồ Chí Minh, với chiều dài 200 km và chảy dọc trên địa phận thành phố dài 80 km. Sông Sài Gòn có lưu lượng trung bình vào khoảng 54 m³/s, bề rộng tại thành phố khoảng 225 m đến 370 m, độ sâu tới 20 m.
Nhờ hệ thống kênh Rạch Chiếc, hai con sông Đồng Nai và Sài Gòn nối thông ở phần nội thành mở rộng. Một con sông nữa của Thành phố Hồ Chí Minh là sông Nhà Bè, hình thành ở nơi hợp lưu hai sông Đồng Nai và Sài Gòn, chảy ra biển Đông bởi hai ngả chính Soài Rạp và Gành Rái. Trong đó, ngả Gành Rái chính là đường thủy chính cho tàu ra vào bến cảng Sài Gòn. Ngoài các con sông chính, Thành phố Hồ Chí Minh còn có một hệ thống kênh rạch chằng chịt: Láng The, Bàu Nông, rạch Tra, Bến Cát, An Hạ, Tham Lương, Cầu Bông, Nhiêu Lộc-Thị Nghè, Bến Nghé, Lò Gốm, Kênh Tẻ, Tàu Hũ, Kênh Ðôi.6 Hệ thực vật Trên cơ sở các yếu tố cơ bản của điều kiện tự nhiên ở TP.HCM, có thể khái quát hóa thành ba kiểu sinh thái, tương ứng với nó là ba hệ sinh thái thảm thực vật rừng tiêu biểu: - Rừng nhiệt đới ẩm mưa mùa: hệ sinh thái rừng này vốn có ở Củ Chi và Thủ Ðức.
- Rừng úng phèn: thảm thực vật rừng tự nhiên trên vùng đất phèn TP.HCM rất nghèo nàn. Các cánh rừng Tràm tự nhiên (Melaleuca cajuputi) trên dải diện tích rộng lớn khi xưa ở tây nam Củ Chi, Bình Chánh, Hóc môn, Nhà Bè, do khai thác và canh tác của con người. Nay hầu như không còn nữa, chỉ sót lại số ít rặng cây ở dạng chồi bụi, hoặc một vài ha rừng tràm trồng còn được bảo tồn ở trạm thí nghiệm Tân Tạo (Bình Chánh). - Rừng ngập mặn: tập trung ở huyện Cần Giờ ( phía nam TP) vốn là rừng nguyên sinh, xuất hiện đã lâu năm theo lịch sử của quá trình hình thành bãi bồi cửa 8 sông ven biển, trong chiến tranh đã bị tàn phá do chất độc hóa học (thuốc khai quang).
Sau giải phóng (1975) đã được trồng lại với loài ưu thế là cây đước (Rhizophora apiculata) có kích thước lớn. Hiện nay, theo điều tra của “ Dự án bảo tồn thiên nhiên” (2004) hệ thực vật khá phong phú: 104 loài thuộc 48 họ.7 Hệ động vật Theo nguồn kỷ yếu hội thảo khoa học Đại học Tôn Đức Thắng, 5/2012 do các tác giả Phạm Văn Miên( Viện Khoa học môi trường và phát triển), Nguyễn Thị Mai Linh, Phạm Anh Đức(Khoa môi trường và bảo hộ Lao động – Đại học Tôn Đức Thắng) thực hiện thống kê, đánh giá tính đa dạng của các nhóm sinh vật phổ biến ở TP.HCM đã lập ra danh mục thành phần loài các nhóm sinh vật gồm : Động vật không xương sống : 668 loài Lớp cá : 173 loài Lớp lưỡng cư : 14 loài Lớp bò sát : 60 loài Lớp chim : 142 loài Lớp thú : 41 loài Trong đó, có 10 loài cá, 17 loài bò sát, 2 loài chim và 9 loài thú quý, hiếm có tên trong sách đỏ Việt Nam, sách đỏ IUCN, Nghị định 48/2002/NĐ-CP của Chính phủ, Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ hoặc Công ước về buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã nguy cấp (CITES). Có thể xem đây là danh mục thành phần loài tương đối đầy đủ và chính xác về mặt phân loại học và danh pháp của các nhóm sinh vật ở Thành phố Hồ Chí Minh.Tuy nhiên, cho tới nay nhiều nhóm sinh vật có tầm quan trọng về mặt y học, nông nghiệp và đời sống còn chưa được nghiên cứu đầy đủ và tu chỉnh lại về mặt phân loại và danh pháp: động vật nguyên sinh, nấm, rêu, địa y, côn trùng… 9 2.2 Sơ lược những nghiên cứu về họ Bìm Bìm (Convolvulaceae ) trên thế giới và Việt Nam 2.1 Thế giới Họ Bìm bìm(Convolvulaceae) được H. Jussieu định tên vào năm 1789 trên cơ sở khi chia Convovulus L.
Sau đó họ Bìm bìm được xếp theo nhiều hệ thống sinh khác nhau và được dùng cho đến ngày nay. Hệ thống sinh G.Hooker trong “Genera Plantarum 1862- 1883” xếp trong bộ Polemoniales – Bicarpellatae – Gamopetalae Hệ thống sinh C. de Dalla Torre và H. Harms trong “Genera Siphonogamarum ad Systema Englerianum Conscripta( 1900-1907)”: họ Convolvulaceae cùng họ Polemoniaceae được xếp trong Convolvulineae – Tubiflorae – Metachlamydeae.
Hệ thống sinh D.Young trong Phytologia 51: 65- 156(1982) Convolvulaceae – Solanales – Solananae – Rosidae Hệ thống sinh R. Dahlgren trong “Nordic J.3:119 – 149(1983) họ Bìm Bìm(Convolvulaceae) tách ra Cuscutaceae, xếp trong bộ Solanales – Solaniflorae. Hệ thống sinh A. Takhtajan trong “Systema Magnoliophytorum” (1987) Convolvulaceae tách riêng Cuscutaceae, được xếp trong bộ Convolvulales, Solananae – Lamiidae – Magnoliopsida Hệ thống sinh A.
Cronquist trong“ The Evolution and Classification of Flowering Plants ” (1989) Convolvulaceae tách riêng Cuscutaceae xếp trong bộ Solanales – Asteridae Ngày nay hầu hết các tác giả đều xếp họ Bìm bìm theo tài liệu của R.Brummitt(1992) có 55 chi và trên 1500 loài. Phân bố rộng khắp thế giới, chủ yếu ở vùng Nhiệt đới và Cận nhiệt đới, ít có ở vùng Ôn đới. Chủ yếu là cây thân 10 thảo dạng dây leo, chỉ có một ít loài ở dạng cây gỗ( Humbertia Comm. Đa phần có các tuyến nhựa mủ.
Theo chúng tôi thì, việc sắp xếp của A. Takhtajan(1987) là hợp lý hơn cả, như vậy họ Bìm bìm không bao gồm chi Cuscuta(vì đã tách thành họ Cuscutaceae) nên chỉ tập trung nghiên cứu họ Convolvulaceae .