Chương 1. Lược sử nghiên cứu khu hệ cá ở Nam Bộ và lưu vực sông Vàm Cỏ 1. Lược sử nghiên cứu khu hệ cá ở Nam Bộ Việt Nam thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa và có hệ thống sông ngòi chằng chịt, phân bố rộng khắp. Vì vậy, sinh vật nói chung và khu hệ cá nói riêng có độ đa dạng rất cao.
Việc nghiên cứu cá ở Việt Nam đã được thực hiện nhiều từ các nhà khoa học trong và ngoài nước qua các thời kì khác nhau. Trước 1975, ở miền Nam cũng có một số công trình nghiên cứu về cá nước ngọt do các cán bộ khoa học người Việt Nam phối hợp với người nước ngoài thực hiện như: Trần Ngọc Lợi (1964), Fourmanvir (1965), Nguyễn Viết Trương và Trần Thị Túy Hoa (1972), … Trong đó, Kuronuma (1961) đã tổng hợp một danh lục cá ở Việt Nam gồm 139 loài; Nguyễn Viết Trương và Trần Thị Túy Hoa (1972) đã đưa ra một danh sách cá nước ngọt ĐBSCL gồm 93 loài [3]. Sau 1975, các công trình nghiên cứu về cá nước ngọt ở Nam Bộ nói chung và ở khu vực ĐBSCL nói riêng đã được nghiên cứu sâu hơn, đạt được nhiều thành quả đáng kể, không chỉ dừng ở thống kê thành phần loài mà còn mô tả đặc điểm hình thái cá và đánh giá tình hình nguồn lợi cá. Đặc biệt, trong những năm gần đây, nguồn lợi cá ở ĐBSCL được quan tâm nên có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học cho cả ĐBSCL và các khu vực nhỏ được tiến hành và xuất bản thành sách, đăng trên các tạp chí khoa học.
Vì vậy, số liệu về thành phần loài cá, sự phân bố của chúng được cập nhật, phát hiện được các loài cá quý hiếm, thậm chí là loài mới. Các công trình có thể kể đến như: Công trình nghiên cứu tiêu biểu của Mai Đình Yên và cộng sự (cs) (1992), đã xuất bản sách “Định loại các loài cá nước ngọt Nam Bộ” thu mẫu tại sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ, sông Tiền, sông Hậu, Đồng Tháp Mười, U Minh và Phú Quốc gồm 255 loài trong 139 giống thuộc 43 họ và 14 bộ được thu mẫu và mô tả [4]. Trương Thủ Khoa, Trần Thị Thu Hương (1993), đã xuất bản sách “Định loại cá nước ngọt vùng đồng bằng sông Cửu Long” với 173 loài thuộc 99 giống, 39 họ và 13 bộ [5]. Luan van 4 Hoàng Đức Đạt, Thái Ngọc Trí (2001), “Xây dựng bộ mẫu các loài cá nước ngọt ở các tỉnh phía Nam Việt Nam” đã xây dựng bộ mẫu của 120 loài cá thuộc 41 họ, 14 bộ [6].
Công trình “Góp phần nghiên cứu khu hệ cá nội địa Cà Mau” của tác giả Nguyễn Hồng Nhung (2003) gồm 179 loài, 125 giống, 56 họ, 17 bộ [7]. Đinh Minh Quang đã thu được 68 loài cá thuộc 50 giống, 29 họ trong đó có 10 loài có nguồn gốc từ biển thuộc 8 giống trong 5 họ từ tháng 2 đến tháng 7/2007 đăng trên tạp chí khoa học Cần Thơ “Dẫn liệu về thành phần cá trên lưu vực sông Hậu thuộc địa phận An Phú - An Giang” [8]. Công trình “Điều tra thành phần loài và xây dựng bộ mẫu về các loài cá có giá trị kinh tế trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp” của Phạm Đình Văn (2010) đã xác định được 119 loài, 81 giống, 39 họ thuộc 12 bộ cá có giá trị kinh tế trên địa bàn tỉnh [9]. Công trình “Nghiên cứu sự đa dạng sinh học khu hệ cá ở vùng đất ngập nước Búng Bình Thiên, tỉnh An Giang” của Thái Ngọc Trí, Hoàng Đức Đạt, Nguyễn Văn Sang (2012), từ năm 2008 đến 2011 đã thu thập và xác định được 111 loài cá thuộc 27 họ, 10 bộ [10].
Dự án NEF - CTU của các tác giả Trần Đắc Định và cs (2013) đã xuất bản cuốn sách “Mô tả định loại cá đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam” mô tả chi tiết hình thái của 322 loài cá thu được, trong đó 312 loài thu mẫu được trong vùng nước ngọt và nước lợ, 10 loài cá biển thu được ở vùng cửa sông [11]. Cao Hoài Đức và cs (2013 - 2014), “Nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm phân bố cá ở lưu vực sông Cái Lớn - tỉnh Kiên Giang”, đã xác định được 117 loài cá, thuộc 91 giống, 50 họ, 16 bộ và có 5 loài trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) [12]. Lâm Hồng Ngọc (2014), “Nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm phân bố cá ở lưu vực hạ lưu sông Hậu thuộc tỉnh Trà Vinh và tỉnh Sóc Trăng” thu được 413 mẫu cá với 113 loài, xếp trong 87 giống, 47 họ, 16 bộ [2]. Đề tài “Nghiên cứu đa dạng sinh học khu hệ cá ĐBSCL và sự biến đổi của chúng do tác động của biến đổi khí hậu và sự phát triển kinh tế xã hội” của Thái Ngọc Trí (2015) đã thu thập và xác định được 216 loài cá thuộc 60 họ, 19 bộ, ghi nhận mới 6 loài cá thuộc 3 họ, 2 bộ cho khu hệ cá ĐBSCL (4 loài thuộc bộ cá Chép Luan van 5 và 1 loài thuộc bộ cá Vược) trong đó có 19 loài cá thuộc 11 họ, 8 bộ bị đe dọa ở các mức độ khác nhau [13].
Công trình nghiên cứu “Thành phần loài cá ở lưu vực sông Hậu thuộc địa phận tỉnh Hậu Giang” từ tháng 12/2015 - 11/2016 của các tác giả Lê Kim Ngọc và cs tại 44 điểm thu mẫu đã xác định được 125 loài cá thuộc 49 bộ và 16 họ [14]. Đề tài “Nghiên cứu thành phần loài và sự phân bố cá ở lưu vực sông Tiền - tỉnh Tiền Giang” của Đạo Thị Ánh Phi (2018) đã thu được 168 mẫu cá thuộc 101 loài, xếp trong 70 giống, 38 họ, 16 bộ, trong đó 3 loài có trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) [15]. Nhận xét: Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về khu hệ cá ở ĐBSCL đã và đang được các nhà khoa học quan tâm, đặc biệt trước những tác động của biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn vào mùa khô và hoạt động của con người. Đây chính là cơ sở khoa học để đánh giá tác động của môi trường lên thành phần loài, sự phân bố, sự suy giảm nguồn lợi cá ở các sông, khu vực nội địa của ĐBSCL từ đó có những kế hoạch khai thác cá hợp lí.
Tuy nhiên, vẫn còn một số tồn tại như có những địa điểm, khu vực được tập trung nghiên cứu nhiều (chủ yếu là sông Tiền, sông Hậu và các phân lưu của nó) còn một số vùng chưa được quan tâm nghiên cứu nên chưa có tài liệu thống kê gần đây về thành phần loài và sự phân bố của các loài cá hiện nay, so sánh sự biến động thành phần loài và phân bố của chúng hiện nay với các công trình trước đó. Lược sử nghiên cứu cá ở lưu vực sông Vàm Cỏ Công trình của Mai Đình Yên và cs (1992), “Định loại các loài cá nước ngọt Nam Bộ” có thu mẫu trên sông Vàm Cỏ với các địa điểm thu mẫu như 2 điểm trên nhánh Vàm Cỏ Đông (tại Tây Ninh, Bến Lức), 2 điểm trên nhánh Vàm Cỏ Tây (tại Đồng Tháp Mười, Tân An) và 1 điểm tại sông Vàm Cỏ (Cần Đước) là nơi hợp lưu của hai nhánh nhưng thời gian đã quá lâu [4]. Tại Cần Đước, công trình thu mẫu được 7 loài bao gồm: cá Úc mím (Cephalocassis borneensis), cá Chét (Eleutheronema tetradactylum), cá Nâu (Scatophagus argus), cá Chìa vôi (Proteracanthus sarissophorus), cá Chẽm (Lates Luan van 6 calcarifer), cá Sơn xương (Ambassis gymnocephalus), cá Bống rảnh vảy nhỏ (Oxyurichthys microlepis). Tính đến thời điểm hiện nay, chúng tôi chưa tìm thấy công trình nào gần đây nghiên cứu về thành phần loài và đặc điểm phân bố cá trên sông Vàm Cỏ nói chung và hạ lưu sông Vàm Cỏ nói riêng.
Đó chính là cơ sở để đề tài tiến hành thực hiện. Đặc điểm tự nhiên khu vực sông Vàm Cỏ 1. Đặc điểm tự nhiên tỉnh Long An 1. Vị trí địa lí Tỉnh Long An có vị trí địa lí đặc biệt, là một tỉnh thuộc miền Tây Nam Bộ song lại thuộc Vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam.
Tọa độ địa lí: 105030' 30'' đến 106047' 02'' kinh độ Đông và 10023' 40'' đến 11002' 00'' vĩ độ Bắc. Diện tích tự nhiên của toàn tỉnh là 449 194, 49 ha. Long An là cửa ngõ nối liền ĐBSCL với miền Đông Nam Bộ. Phía Đông tiếp giáp với TP.
Hồ Chí Minh và Tây Ninh, phía Tây giáp với tỉnh Đồng Tháp, phía Bắc giáp với vương quốc Campuchia và tiếp giáp với tỉnh Tiền Giang về phía Nam [2]. Bản đồ địa giới hành chính tỉnh Long An (Nguồn: http://sacsvt.org/) Luan van 7 1. Đặc điểm địa hình Toàn tỉnh có địa hình bằng phẳng nhưng thấp dần theo hướng Bắc - Đông Bắc xuống Nam - Tây Nam. Địa hình bị chia cắt bởi hệ thống sông Vàm Cỏ và nhiều kênh rạch nên nhiều vùng của tỉnh là vùng đất ngập nước [2].
Đặc điểm khí hậu Tỉnh Long An mang khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo đặc trưng của miền Nam Việt Nam với hai mùa rõ rệt trong năm: Mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau có gió Đông Bắc. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 có gió Đông Nam. Nhiệt độ trung bình tháng từ 27,2 đến 27,7 0C. Tháng 4 có nhiệt độ trung bình cao nhất là 28,9 0C.
Tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là tháng 1 khoảng 25,2 0C [2]. Lượng mưa hàng năm khoảng 966 -1325 mm, trong đó những tháng mùa mưa chiếm 70 - 82% tổng lượng mưa cả năm. Tuy nhiên, lượng mưa phân bố không đều: giảm dần từ vùng giáp ranh với TP. Hồ Chí Minh xuống phía Tây và Tây Nam, các huyện phía Đông Nam gần biển có lượng mưa ít nhất [2].
Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm là 80 - 82 % [2]. Đặc điểm thủy văn Long An chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều của biển Đông qua cửa sông Soài Rạp. Thời gian 1 ngày triều là 24 giờ 50 phút, một chu kỳ triều là 13-14 ngày. Vùng chịu ảnh hưởng của triều nhiều nhất là các huyện phía Nam quốc lộ 1A, đây là nơi ảnh hưởng mặn từ 4 - 6 tháng trong năm [2].
Triều biển Đông tại cửa sông Soài Rạp có biên độ lớn từ 3,5 - 3,9 m, đã xâm nhập vào sâu trong nội địa với cường độ triều mạnh nhất là mùa khô khi nước bổ sung đầu nguồn cho 2 sông Vàm Cỏ rất ít. Biên độ triều cực đại trong tháng từ 217 - 235 cm tại Tân An và từ 60 - 85 cm tại Mộc Hóa. Do biên độ triều lớn, đỉnh triều mùa gió chướng đe dọa xâm nhập mặn vào vùng phía Nam.