chương 1, ta có thể tìm hiểu được quá trình hình thành công ty, cơ cấu tổ chức của công ty, chức năng và nhiệm vụ của các bộ phận nhằm phục vụ cho công tác quản trị sản xuất nói chung và quản trị nguyên vật liệu nói riêng. Tuy tuổi đời công ty còn khá trẻ nhưng công ty đã không ngừng nổ lực phát huy các thế mạnh và hạn chế những khó khăn để có thể đạt được các thành quả qua các năm hoạt động, cũng đặt ra phương hướng để phát triển trong tương lai nhằm tạo ra sản phẩm có được sự tin tưởng của khách hàng. Để đi sâu vào quá trình hoạt động của công ty, đặc biệt là công tác cung ứng nguyên vật liệu, trong chương 2 sẽ giới thiệu về thực trạng cung ứng nguyên vật liệu để sản xuất sợi tại công ty TNHH Vũ Chân. 19 SVTH: TRẦN ĐOÀN THUẬN SƠN do an LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS.
HÀ NGUYỄN MINH QUÂN CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Các khái niệm cơ bản 2. Sản xuất và quản trị sản xuất Sản xuất hàng hóa là một khái niệm được sử dụng trong kinh tế chính trị Marx – Lenin dùng để chỉ về kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra không phải để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó mà là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán. Hay nói cách khác, sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm sản xuất ra để bán(1).
Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là hoạt động chủ yếu của trong các hoạt động kinh tế của con người. Sản xuất là quá trình là ra sản phẩm để trao đổi, buôn bán trong thương mại. Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề chính sau: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai, giá thành sản xuất và làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết để làm ta sản phẩm. Về thực chất, sản xuất là quá trình chuyển hóa các yếu tố đầu vào, biến chúng thành các đầu ra dưới dạng sản phẩm hoặc dịch vụ.
Quá trình sản xuất Các yếu tố đầu vào Quá trình sản xuất Kết quả đầu ra Đất đai Thông qua quá Sản phẩm hữu Lao động trình sản xuất, các hình: ti vi, tủ lạnh, Vốn doanh nghiệp chuyển máy móc, chai nước Trang thiết bị hóa các yếu tố đầu ngọt, quần áo, giày Nguyên nhiên vào thành kết quả đầu dép,… vật liệu ra Sản phẩm dịch Tiến bộ khoa vụ: tư vấn pháp lý, học chăm sóc sức khỏe, du … lịch,… (1) Vũ Anh Tuấn, Phạm Quang Phân, Tô Đức Hạnh, Kinh tế học chính trị Marx – Lenin (tái bản lần thứ 2), Nxb Tổng hợp, thành phố Hồ Chí Minh, năm 2007 20 SVTH: TRẦN ĐOÀN THUẬN SƠN do an LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. HÀ NGUYỄN MINH QUÂN Sản xuất là một trong những phân hệ chính có ý nghĩa quyết định đến việc tạo ra sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ cho xã hội. Quản lý hệ thống sản xuất sản phẩm, dịch vụ là chức năng, nhiệm vụ cơ bản của từng doanh nghiệp. Hình thành và phát triển và tổ chức điều hành tốt hoạt động sản xuất là cơ sở và yêu cầu thiết yếu để mỗi doanh nghiệp có thể đứng vững và phát triển trên thị trường.
Quản trị sản xuất chính là quá trình thiết kế, hoạch định, tổ chức điều hành và kiểm tra theo dõi hệ thống sản xuất nhằm thực hiện những mục tiêu sản xuất đã đề ra. Hay nói cách khác, quản trị sản xuất là tổng hợp các hoạt động xây dựng hệ thống sản xuất và quản trị quá trình sử dụng các yếu tố đầu vào tạo thành các sản phẩm, dịch vụ ở đầu ra theo yêu cầu của khách hàng nhằm thực hiện các mục tiêu đã xác định. Cũng giống như các phân hệ khác, hệ thống sản xuất bao gồm các yếu tố cấu thành có mối quan hệ khăng khít, chặt chẽ với nhau. Phân hệ hệ thống sản xuất được biểu diễn trong sơ đồ sau.
Hệ thống sản xuất Biến đổi ngẫu nhiên Quá trình biến đổi Đầu vào Đầu ra Thông tin Thông tin phản hồi phản hồi Kiểm tra Nhiệm vụ của quản trị sản xuất là thiết kế và tổ chức hệ thống sản xuất nhằm biến đổi đầu vào thành các yếu tố đầu ra sau mỗi quá trình biến đổi. Giá trị gia tăng là yếu tố quan trọng nhất, là động cơ hoạt động của các doanh nghiệp và mọi tổ chức cá nhân có liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Giá trị gia tăng là nguồn gốc của sự gia tăng của cải và mức sống của toàn xã hội, tạo 21 SVTH: TRẦN ĐOÀN THUẬN SƠN do an LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. HÀ NGUYỄN MINH QUÂN ra nguồn thu nhập cho tất cả các đối tượng có tham gia đóng góp vào hoạt động của doanh nghiệp như những người lao động, chủ sở hữu, cán bộ quản lý và là nguồn tái đầu tư sản xuất mở rộng, đảm bảo cho sự tồn tài và phát triển lau dài của doanh nghiệp.
Nguyên vật liệu trong sản xuất Nguyên vật liệu là các yếu tố đầu vào, thông qua sự biến đổi trong quá trình sản xuất để cấu trúc thành các đầu ra là các sản phẩm hàng hóa hữu hình theo yêu cầu và mong muốn của doanh nghiệp và tạo ra được giá trị gia tăng, đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Trong quản trị nguyên vật liệu, MRP (Material Requirement Planning) xác định mối liên hệ giữa lịch trình sản xuất, đơn đặt hàng, lượng tiếp nhận và nhu cầu sản phẩm. Mối quan hệ này được phân tích trong khoảng thời gian từ khi một sản phẩm được đưa vào phân xưởng cho tới khi rời phân xưởng để chuyển sang bộ phận khác. Để xuất xưởng một sản phẩm trong một ngày ấn định nào đó, cần phải sản xuất các chi tiết, bộ phận hoặc mua nguyên vật liệu, kinh kiện bên ngoài trước một thời hạn nhất định.
Quá trình MRP được tiến hành theo sơ đồ sau: Sơ đồ 2. Các bước tiến hành MRP Xác định Phân tích thời gian kết cấu sản Tính tổng Tính nhu phát đơn phẩm nhu cầu cầu thực hàng hoặc lệnh sản xuất Bước 1: Phân tích kết cấu sản phẩm. Phương pháp hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu được tiến hành dựa trên việc phân loại nhu cầu độc lập và nhu cầu phụ thuộc. Nhu cầu độc lập là nhu cầu về sản phẩm cuối cùng và các chi tiết, linh kiện, phụ tùng dùng để thay thế.
Nhu cầu độc lập được xác định bằng các phương pháp dự báo mức tiêu thụ sản phẩm hoặc bằng các đơn hàng. Nhu cầu phụ thuộc là những nhu cầu được tạo ra từ các nhu cầu độc lập. Đó là những bộ phận, chi tiết, nguyên vật liệu dùng trong quá trình sản xuất nhằm tạo ra sản phẩm cuối cùng. Nhu cầu này được xác định bằng phương pháp tính toán thông qua phân tích cầu trúc sản phẩm cuối cùng, nhu 22 SVTH: TRẦN ĐOÀN THUẬN SƠN do an LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS.
HÀ NGUYỄN MINH QUÂN cầu dự báo, đơn đặt hàng, kế hoạch dự trữ và lịch trình sản xuất. Để tính toán nhu cầu phụ thuộc, cần tiến hành các phân tích cấu trúc sản phẩm. Cách phân tích dùng trong MRP là kết cấu thành hình cây của sản phẩm. Mỗi hạng mục trong kết cấu hình cây tương ứng với từng chi tiết bộ phận cấu thành sản phẩm.
Chúng được biểu diễn dưới dạng cấp bậc từ trên xuống theo trình tự và lắp ráp sản phẩm. Kết quả phân tích sơ đồ kết cấu sản phẩm cần phản ánh được số lượng các chi tiết và thời gian thực hiện (LT – Lead time). Trong sơ đồ kết cấu sản phẩm, sản phẩm hoàn chỉnh được ghi ở cấp 0 trên đỉnh của cây, sau đó là những bộ phận cần thiết để lắp ráp thành sản phẩm hoàn chỉnh ở cấp 1, tiếp theo mỗi bộ phận này lại được cấu tạo từ những chi tiết khác và chi tiết này được biểu diễn ở bậc cấp 2, và cứ thế tiếp diễn để hình thành cây cấu trúc sản phẩm. Sơ đồ kết cầu sản phẩm một loại sản phẩm A (LT tính theo tuần) Cấp 0 A LT=2 Cấp 1 B(2) C(1) LT=2 LT=1 Cấp 2 D(4) E(5) D(2) F(2) LT=1 Cấp 3 G(4) F(2) Khi phân tích có thể gặp trường hợp một bộ phận, chi tiết có mặt ở nhiều cấp trong kết cấu của sản phẩm, có thể ở cùng cấp như chi tiết D hoặc ở khác cấp như chi tiết F.
Trong trường hợp đó, ta áp dụng nguyên tắc hạ cấp thấp nhất, chi tiết F vừa là cấp 2 vừa là cấp 3, vậy F là chi tiết cấp 3. Nhờ nguyên tắc này, việc chuẩn bị các chi tiết này tiết kiệm được thời gian và tạo ra sự dễ dàng trong tính toán. Nó cho phép chỉ cần tính nhu cầu của bộ phận, chi tiếp đó một lần và xác định mức dự trữ đối với chi tiết, bộ phận cần sớm nhất chứ không phải với sản phẩm cuối cùng ở cấp cao nhất. 23 SVTH: TRẦN ĐOÀN THUẬN SƠN do an LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS.
HÀ NGUYỄN MINH QUÂN Bước 2: Tính tổng nhu cầu. Tổng nhu cầu là số lượng dự kiến, dự báo đối với một loại chi tiết hoặc nguyên vật liệu trong tưng giai đoạn mà không tính đến dự trữ hiện có hoặc lượng sẽ tiếp nhận được. Tổng nhu cầu hạng mục cấp 0 lấy ở lịch trình sản xuất. Đối với các hạng mục thấp hơn, tổng nhu cầu được tính trực tiếp từ số lượng phát đơn hàng của hạng mục cấp cao hơn ngay trước nó.
Đó là nhu cầu phát sinh do nhu cầu thực tế về một bộ phận hợp thành nào đó đòi hỏi. Tổng nhu cầu của các bộ phận, chi tiết, nguyên vật liệu bằng số lượng đặt hàng theo kế hoạch của bộ phận trung gian trước đó nhân với hệ số nếu có. Bước 3: Tính nhu cầu thực. Nhu cầu thực là tổng số nguyên vật liệu, chi tiết cần thiết bổ sung trong từng giai đoạn, được tính như sau: Nhu cầu thực = Tổng nhu cầu – Dự trữ hiện có + Dự trữ an toàn Đơn hàng phát ra theo kế hoạch là tổng khối lượng dự kiến kế hoạch đặt hàng đặt hàng trong từng giai đoạn.
Lệnh đề nghị phản ảnh số lượng cần cung cấp hay sản xuất để thỏa mãn nhu cầu thực. Lệnh đề nghị có thể là đơn đặt hàng đối với các chi tiết, bộ phận mua ngoài và là lệnh sản xuất nếu chúng được sản xuất tại doanh nghiệp.