Tổng quan nghiên cứu

Huyện Yên Thế (tỉnh Bắc Giang) sở hữu quy mô đàn gia cầm lớn hàng đầu cả nước với tổng đàn thường xuyên đạt trên 4 triệu con, cung cấp cho thị trường khoảng 12 đến 13 triệu con gà thương phẩm mỗi năm (tương đương 23.000 đến 25.000 tấn thịt gà). Dù sản phẩm gà đồi Yên Thế (chủ lực là gà Ri lai và gà Mía lai) đã được cấp chứng nhận nhãn hiệu, việc tổ chức kênh tiêu thụ sang thị trường trọng điểm thành phố Hà Nội – nơi có quy mô dân số gần 8 triệu người với nhu cầu tiêu thụ thịt gia cầm đạt gần 390.000 tấn/năm – vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Nguồn cung tại chỗ của Hà Nội chỉ đáp ứng khoảng 60% đến 65% nhu cầu nội địa, mở ra dư địa thương mại lớn nhưng chuỗi cung ứng hiện hữu lại vận hành nhỏ lẻ, tự phát và phụ thuộc nặng nề vào các chợ truyền thống.

Mục tiêu nghiên cứu tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng cấu trúc chuỗi cung ứng gà đồi Yên Thế về thị trường Hà Nội, phân tích dòng sản phẩm, dòng thông tin, dòng tài chính và hiệu quả kinh tế của từng tác nhân tham gia. Phạm vi nghiên cứu khảo sát không gian sản xuất tại 21 xã, thị trấn thuộc huyện Yên Thế và hệ thống tiêu thụ tại các quận, huyện nội ngoại thành Hà Nội trong giai đoạn từ tháng 9/2015 đến tháng 8/2016 (kết hợp chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2013 - 2015). Luận văn mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp giải pháp tối ưu hóa chuỗi giá trị, giúp cân bằng biên lợi nhuận giữa các tác nhân và nâng cao năng lực cạnh tranh cho nông sản vùng trung du.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng mô hình tham chiếu hoạt động chuỗi cung ứng SCOR (Supply Chain Operations Reference) cùng lý thuyết năm nhân tố thúc đẩy chuỗi cung ứng gồm: sản xuất, hàng tồn kho, địa điểm, vận chuyển và thông tin. Mô hình giải thích mối quan hệ tương tác giữa các mắt xích từ nhà cung cấp nguyên liệu đầu vào, đơn vị sản xuất, nhà thu gom, cơ sở chế biến đến đơn vị phân phối bán sỉ, bán lẻ và người tiêu dùng cuối cùng.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp lý thuyết về hiệu ứng chiếc roi da (Bullwhip Effect) nhằm phân tích sự méo mó, phóng đại của tín hiệu nhu cầu thị trường khi truyền ngược từ điểm bán lẻ tại Hà Nội về các trang trại chăn nuôi tại Bắc Giang. Ba khái niệm nền tảng được làm rõ gồm: Chuỗi cung ứng nông sản khép kín, Giá trị gia tăng (Value Added - VA) theo từng công đoạn và Tính minh bạch của dòng thông tin thị trường trong việc giảm thiểu tổn thất kinh tế.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm dữ liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê huyện Yên Thế, Cục Thống kê thành phố Hà Nội giai đoạn 2013 - 2015 và dữ liệu sơ cấp thu thập từ tháng 9/2015 đến tháng 12/2015. Cỡ mẫu điều tra thực tế gồm 95 hộ chăn nuôi đại diện tại các vùng đồi Yên Thế, 20 thương nhân thu gom, 10 cơ sở giết mổ gia cầm và 30 đại lý bán buôn, quầy bán lẻ tại chợ đầu mối và hệ thống siêu thị Hà Nội.

Phương pháp chọn mẫu áp dụng kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo quy mô đàn (dưới 1.000 con, từ 1.000 đến 2.000 con và trên 2.000 con) cùng phương pháp chọn mẫu có chủ đích đối với các đầu mối thương mại. Dữ liệu được tổng hợp, xử lý trên phần mềm thống kê kết hợp bảng tính Excel. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích chi phí - lợi nhuận và chuỗi giá trị nhằm bóc tách định lượng cơ cấu chi phí sản xuất, giá bán tại từng chặng và mức độ phân bổ giá trị gia tăng giữa các bên tham gia chuỗi.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kênh phân phối truyền thống chiếm tỷ trọng áp đảo: Hơn 85% sản lượng gà đồi Yên Thế xuất bán về Hà Nội dưới dạng gà lông sống thông qua thương lái trung gian và tập kết tại các chợ đầu mối gia cầm như chợ Hà Vĩ, chợ Bắc Thăng Long. Kênh phân phối hiện đại gồm 134 siêu thị và 24 trung tâm thương mại trên địa bàn Hà Nội chỉ tiêu thụ dưới 15% tổng sản lượng.

Bất đối xứng nghiêm trọng trong phân bổ giá trị gia tăng: Hộ chăn nuôi gánh chịu từ 75% đến 80% tổng chi phí đầu tư toàn chuỗi (chi phí thức ăn công nghiệp và con giống chiếm tới hơn 70% giá thành chăn nuôi) nhưng chỉ nhận được khoảng 30% đến 35% tổng giá trị gia tăng tạo ra. Ngược lại, khâu thu gom, bán buôn và bán lẻ chỉ chịu 20% đến 25% chi phí nhưng hưởng tỷ suất lợi nhuận trên chi phí cao gấp 1,8 đến 2,5 lần so với người chăn nuôi.

Biên độ chênh lệch giá thành qua các khâu trung gian quá lớn: Giá gà lông xuất chuồng bình quân dao động từ 55.000 đến 65.000 VNĐ/kg, nhưng khi qua các cấp trung gian và phân phối đến tay người tiêu dùng Hà Nội dưới dạng thịt pha lọc hoặc nguyên con đã giết mổ, giá bán đạt mức 110.000 đến 130.000 VNĐ/kg (tăng gần 90% đến 100% so với giá gốc tại trang trại).

Rủi ro thị trường và dịch bệnh đổ dồn về điểm đầu chuỗi: Do thiếu hợp đồng bao tiêu chặt chẽ, người chăn nuôi chịu hoàn toàn tác động từ biến động giá thức ăn chăn nuôi nhập khẩu và rủi ro dịch bệnh bùng phát, trong khi thương nhân trung gian dễ dàng điều chỉnh hạ giá mua gom để bảo toàn biên độ lợi nhuận.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của các tồn tại trên xuất phát từ sự lỏng lẻo trong liên kết dọc và liên kết ngang. Người chăn nuôi vẫn hoạt động phân tán, thiếu các tổ chức hợp tác xã đủ mạnh để đàm phán giá đầu vào và ký kết hợp đồng thương mại lớn. Khâu giết mổ công nghiệp tại vùng sản xuất chưa phát triển đồng bộ, khiến sản phẩm khó đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về an toàn thực phẩm và chuỗi cung ứng lạnh của các chuỗi bán lẻ hiện đại.

Dữ liệu phân bổ chi phí và giá trị gia tăng của gà Ri lai và gà Mía lai có thể được mô hình hóa trực quan qua bảng cấu trúc chi phí - giá trị gia tăng (VA) và sơ đồ luân chuyển dòng sản phẩm. So sánh với kinh nghiệm từ mô hình liên kết gia công của Tập đoàn chăn nuôi tại Thái Lan (với tỷ lệ ký hợp đồng bao tiêu lên tới 80% - 100%) hay chuỗi liên kết gà đồi Ba Vì tại Hà Nội (đạt 180.000 con thương phẩm/năm nhờ quản lý nhãn hiệu tập thể), chuỗi cung ứng gà Yên Thế cần chuyển dịch cấp thiết từ mô hình buôn bán tự do sang chuỗi giá trị khép kín có sự kiểm soát vệ sinh an toàn dịch bệnh.

Đề xuất và khuyến nghị

Tổ chức lại vùng sản xuất và củng cố liên kết hợp tác xã: Ủy ban nhân dân huyện Yên Thế và Hội Chăn nuôi gà đồi cần vận động, tái cơ cấu các hộ nuôi nhỏ lẻ vào 10 đến 15 hợp tác xã chuyên ngành hoạt động theo tiêu chuẩn VietGAHP. Mục tiêu nâng tỷ lệ sản lượng tiêu thụ qua hợp đồng kinh tế ràng buộc từ mức dưới 15% hiện nay lên đạt 40% đến 50% trong lộ trình 3 năm (2017 - 2020).

Đầu tư hạ tầng giết mổ công nghiệp và logistics chuỗi lạnh: Doanh nghiệp thương mại phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bắc Giang quy hoạch xây dựng 1 đến 2 cơ sở giết mổ tập trung bán tự động tại Yên Thế với công suất 3.000 đến 5.000 con/ngày trong vòng 18 đến 24 tháng. Việc sơ chế, đóng gói hút chân không có nhãn mác ngay tại vùng nguyên liệu sẽ giúp sản phẩm tiếp cận trực tiếp mạng lưới 134 siêu thị và hơn 1.500 nhà hàng tại Hà Nội.

Thiết lập hệ thống thông tin thị trường và truy xuất nguồn gốc số hóa: Sở Công Thương Hà Nội và Bắc Giang cần triển khai đồng bộ hệ thống dán tem mã QR truy xuất nguồn gốc cho 100% lô gà thương phẩm đưa về Thủ đô. Thiết lập cổng thông tin dự báo cung - cầu và biến động giá theo thời gian thực nhằm triệt tiêu hiệu ứng chiếc roi da, hạn chế tình trạng ứ đọng sản lượng sau các dịp cao điểm tiêu dùng.

Phát triển kênh phân phối trực tiếp và định vị thương hiệu: Doanh nghiệp phân phối chủ động mở mới 20 đến 30 điểm bán lẻ thực phẩm sạch chuyên doanh gà đồi Yên Thế tại các quận trung tâm Hà Nội, giảm bớt 2 đến 3 tầng nấc trung gian, giúp hạ giá bán lẻ từ 10% đến 15% nhằm kích cầu người tiêu dùng và tăng tỷ suất sinh lời thực tế cho người nuôi.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Học viên cao học, nghiên cứu sinh ngành Quản trị kinh doanh và Kinh tế nông nghiệp: Cung cấp khung lý thuyết SCOR ứng dụng, phương pháp phân tích chuỗi giá trị (Value Chain Analysis) và mô hình hóa chi phí thực nghiệm trong ngành chăn nuôi gia cầm.

Nhà hoạch định chính sách tại các cơ quan quản lý nhà nước: Các chuyên viên thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công Thương tại các địa phương có thể sử dụng số liệu để xây dựng chính sách liên kết vùng, quy hoạch chuỗi cung ứng nông sản an toàn liên tỉnh.

Chủ doanh nghiệp chế biến thực phẩm và nhà bán lẻ hiện đại: Khai thác bức tranh toàn cảnh về nhu cầu thị trường thịt gia cầm Hà Nội, các thông số về chi phí logistics và cơ hội đầu tư vào các trạm giết mổ, hệ thống bảo quản lạnh.

Chủ trang trại, hộ chăn nuôi và ban quản trị hợp tác xã: Nắm bắt cơ chế hình thành giá cả thị trường, từ đó chủ động liên kết nhóm hộ, đàm phán hợp đồng mua chung vật tư đầu vào để cắt giảm từ 5% đến 8% chi phí sản xuất.

Câu hỏi thường gặp

Chuỗi cung ứng gà đồi Yên Thế hiện đối mặt với rào cản lớn nhất nào khi thâm nhập thị trường Hà Nội? Rào cản lớn nhất là khâu giết mổ, chế biến và bảo quản lạnh tại địa phương còn yếu kém. Hơn 85% sản phẩm vẫn vận chuyển dưới dạng gà sống, dẫn đến khó khăn trong kiểm soát dịch bệnh, hao hụt trọng lượng khi vận chuyển và chưa đáp ứng được quy chuẩn kiểm nghiệm khắt khe của hệ thống siêu thị hiện đại.

Vì sao hộ chăn nuôi chịu tỷ trọng chi phí cao nhất nhưng nhận về tỷ suất lợi nhuận thấp nhất chuỗi? Hộ chăn nuôi phải bỏ ra gần 80% tổng chi phí đầu tư sản xuất (chủ yếu là chi phí con giống và thức ăn tinh) và gánh chịu mọi rủi ro dịch bệnh trong chu kỳ nuôi kéo dài nhiều tháng. Trong khi đó, các thương nhân trung gian chỉ nắm khâu lưu thông ngắn ngày nhưng có ưu thế chi phối giá bán lẻ trên thị trường.

Hiệu ứng chiếc roi da thể hiện như thế nào trong chuỗi cung ứng này? Khi nhu cầu tiêu dùng thịt gà tại Hà Nội tăng nhẹ vào các dịp lễ Tết, thông tin thiếu đồng bộ khiến các hộ nuôi ồ ạt mở rộng quy mô đàn vượt xa sức mua thực tế. Hệ quả là sau kỳ cao điểm, nguồn cung dư thừa đột biến làm giá xuất chuồng sụt giảm mạnh, gây thua lỗ nặng cho người nuôi.

Bài học kinh nghiệm quốc tế nào có giá trị ứng dụng cao nhất cho gà đồi Yên Thế? Mô hình sản xuất gia công theo hợp đồng khép kín của Thái Lan là bài học phù hợp nhất. Việc doanh nghiệp hoặc cơ quan nội thương đóng vai trò thiết lập hợp đồng mẫu, kiểm soát chuẩn chất lượng và bao tiêu đầu ra giúp người nông dân loại bỏ rủi ro thị trường và an tâm nâng cao chất lượng sản phẩm.

Vai trò của hệ thống phân phối hiện đại đối với việc phát triển thương hiệu gà Yên Thế là gì? Hệ thống siêu thị và chuỗi cửa hàng tiện lợi tại Hà Nội đóng vai trò bảo chứng uy tín cho thương hiệu thông qua quy trình kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt. Phân phối qua kênh này giúp nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm, ổn định giá bán quanh năm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trước các loại gà nhập lậu, không rõ nguồn gốc.

Kết luận

Luận văn đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu với các nội dung trọng tâm sau:

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản trị chuỗi cung ứng nông sản, làm rõ vai trò của 5 nhân tố thúc đẩy và tác động của hiệu ứng chiếc roi da đến ngành hàng gia cầm.
  • Phản ánh trung thực thực trạng chuỗi cung ứng gà đồi Yên Thế cho Hà Nội: Kênh phân phối truyền thống chiếm trên 85%, khâu sản xuất chịu gần 80% chi phí nhưng chỉ nhận 30% đến 35% giá trị gia tăng toàn chuỗi.
  • Chỉ rõ những điểm nghẽn về hạ tầng giết mổ công nghiệp, sự lỏng lẻo trong liên kết 4 nhà và sự thiếu hụt hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ giai đoạn 2017 - 2020 gồm tái cấu trúc hợp tác xã, đầu tư cơ sở giết mổ công suất 3.000 - 5.000 con/ngày và xây dựng chuỗi bán lẻ chuyên biệt tại Hà Nội.
  • Khẳng định tính cấp thiết của việc chuẩn hóa chuỗi cung ứng an toàn sinh học nhằm bảo vệ thương hiệu gà đồi Yên Thế, gia tăng thu nhập bền vững cho nông hộ trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng.