Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Nghiên cứu cung cấp dịch vụ công cho phát triển chuỗi giá trị sản phẩm thịt lợn tại thành phố Hà Nội" do tác giả Tạ Văn Tường thực hiện tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Đỗ Kim Chung, thuộc chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp (mã số: 9.15). Luận án được hoàn thành và bảo vệ vào năm 2020, tập trung giải quyết mối quan hệ giữa hoạt động cung ứng dịch vụ công của nhà nước và các tổ chức liên quan với sự hình thành, phát triển các chuỗi liên kết giá trị ngành hàng thịt lợn trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng và tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), ngành chăn nuôi trong nước phải đối mặt với áp lực cạnh tranh gay gắt từ các sản phẩm thực phẩm nhập khẩu. Yêu cầu tái cơ cấu ngành nông nghiệp đòi hỏi sự chuyển dịch căn bản từ mục tiêu số lượng sang chất lượng và giá trị gia tăng, từ quy mô sản xuất nhỏ lẻ, phân tán sang mô hình quy mô lớn, khép kín theo chuỗi giá trị tập trung.

Hà Nội là một trong hai đô thị lớn nhất cả nước với quy mô dân số thường xuyên trên 10 triệu người, kéo theo nhu cầu tiêu thụ thực phẩm an toàn, có nguồn gốc rõ ràng là rất lớn. Tuy nhiên, thực tế sản xuất và lưu thông thực phẩm tại địa bàn vẫn tồn tại phương thức làm ăn đứt đoạn, tư lợi và thiếu liên kết chặt chẽ. Tình trạng này khiến các cơ quan quản lý không thể truy xuất nguồn gốc sản phẩm, khó quy định trách nhiệm cụ thể khi xảy ra sự cố mất an toàn vệ sinh thực phẩm, và phần lớn sản phẩm thịt lợn trên thị trường chưa chứng minh được tiêu chuẩn chất lượng an toàn cho người tiêu dùng.

Để hình thành và duy trì chuỗi giá trị nông sản bền vững, ngoài sự tham gia của khu vực tư nhân, vai trò cung cấp dịch vụ công của khu vực công là yếu tố mang tính quyết định. Mặc dù vậy, công tác cung ứng dịch vụ công cho chuỗi sản phẩm thịt lợn tại Hà Nội còn bộc lộ nhiều bất cập:

  • Nhận thức về dịch vụ công phục vụ chuỗi giá trị chưa đầy đủ; các dịch vụ do cơ quan quản lý nhà nước cung cấp chủ yếu là các thủ tục hành chính thuần túy, chưa hướng tới mục tiêu đồng hành và phát triển chuỗi.
  • Hoạt động cung ứng còn hiện tượng chồng chéo chức năng giữa các đơn vị, cơ chế quản lý nặng về tiền kiểm, cơ quan quản lý nhà nước vừa thực hiện chức năng quản lý vừa tham gia cung cấp dịch vụ.
  • Phương thức cung ứng chủ yếu thực hiện trực tiếp, dịch vụ trực tuyến chưa phát triển; mức phí quy định thấp nhưng chi phí giao dịch thực tế để tiếp cận dịch vụ còn cao.

Khoảng trống nghiên cứu được xác định: Trong khi các công trình trước đây chỉ phân tích riêng rẽ về dịch vụ công nói chung hoặc cấu trúc chuỗi giá trị nông sản, chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào lồng ghép và đánh giá toàn diện hoạt động cung cấp dịch vụ công phục vụ trực tiếp cho việc phát triển chuỗi giá trị sản phẩm thịt lợn ở cấp độ một đô thị đặc thù như Hà Nội.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định hệ thống mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau:

  • Mục tiêu chung: Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến việc cung cấp dịch vụ công cho phát triển chuỗi giá trị sản phẩm thịt lợn tại thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công phục vụ phát triển chuỗi.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Mục tiêu 1: Hệ thống hóa và góp phần phát triển cơ sở lý luận cùng cơ sở thực tiễn về cung cấp dịch vụ công cho phát triển chuỗi giá trị sản phẩm thịt lợn.
    2. Mục tiêu 2: Đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc cung cấp dịch vụ công cho phát triển chuỗi giá trị sản phẩm thịt lợn tại thành phố Hà Nội.
    3. Mục tiêu 3: Đưa ra những giải pháp cải thiện và nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công cho phát triển chuỗi giá trị sản phẩm thịt lợn tại thành phố Hà Nội trong giai đoạn tiếp theo.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các dịch vụ công phục vụ phát triển chuỗi giá trị sản phẩm thịt lợn và hoạt động cung cấp dịch vụ công cho phát triển chuỗi giá trị sản phẩm thịt lợn trên địa bàn thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp và sơ cấp phản ánh thực trạng giai đoạn 2016 - 2018; các giải pháp định hướng được xây dựng cho những năm tiếp theo.
  • Phạm vi nội dung:
    • Tập trung vào hai nhóm dịch vụ công: Dịch vụ công chung cho toàn chuỗi và dịch vụ công theo từng khâu (cung cấp đầu vào, chăn nuôi, giết mổ - chế biến, phân phối - tiêu thụ).
    • Chủ thể cung ứng gồm 3 nhóm: Cơ quan quản lý nhà nước ngành nông nghiệp, các đơn vị sự nghiệp công lập và các tổ chức tư nhân.
    • Phân tích các chiều cạnh: Danh mục dịch vụ, phương thức cung ứng, chi phí/giá dịch vụ, kết quả cung cấp, mức độ tiếp cận và sự hài lòng của các tác nhân.
    • Luận án không đi sâu vào các dịch vụ công ích hay dịch vụ kỹ thuật thuần túy ngoài chuỗi; không nghiên cứu các chuỗi giá trị thịt lợn nhập khẩu và chuỗi khép kín của các tập đoàn công nghiệp tích hợp quy mô lớn (như CP Group, Masan).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu chính được tổng quan

Tác giả đã hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước thành ba nhóm nghiên cứu trọng tâm liên quan trực tiếp đến đề tài:

                            TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Hướng 1: Lý luận DVC &          Hướng 2: Cải cách DVC &        Hướng 3: Chuỗi giá trị
công quản mới quốc tế           khu vực công tại VN            nông sản & ngành thịt
- Wallis & Dollery (1998)       - Diễn đàn KTTC VN-Pháp (2000)  - Hoàng Đình Minh (2016)
- Osborne & Gaebler (1997)      - Lê Chi Mai (2003)            - Đỗ Thị Diệp & cs. (2016)
- Le Grand (1991)               - Đinh Văn Ân & cs. (2006)     - Nguyễn T. Dương Nga & cs. (2016)
- Gray (2002), Ozolins (2010)   - Lê Xuân Bá & cs. (2005)      - Đỗ Kim Chung & cs. (2016)
  1. Nghiên cứu về dịch vụ công và quản trị công trên thế giới:

    • Các công trình về lý thuyết công quản mới và sự tham gia của khu vực tư nhân: Wallis & Dollery (1998) với “Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi”; Osborne & Gaebler (1997) với “Đổi mới hoạt động của Chính phủ”; Le Grand (1991) với “Lý thuyết về sự thất bại của thị trường” (The theory of government failure) gắn với cải cách công quản tại Anh dưới thời Thủ tướng Margaret Thatcher.
    • Gray (2002) trong nghiên cứu “Public versus Private Provision of Public Services” phân tích sự phối hợp giữa khu vực công và khu vực tư nhân, việc sử dụng linh hoạt các cơ chế hỗ trợ, trợ cấp và thu phí theo cơ chế thị trường.
    • Ozolins (2010) phân tích các yếu tố tài chính và năng lực của cơ quan cung cấp ảnh hưởng trực tiếp đến phương thức và chất lượng dịch vụ công.
    • Nick & Libby (2001) và Lee (2003) nghiên cứu kinh nghiệm ủy quyền cho tư nhân tham gia cung cấp dịch vụ công trong ngành nước tại các nước đang phát triển và Thượng Hải.
  2. Nghiên cứu về cải cách dịch vụ công và khu vực công tại Việt Nam:

    • Diễn đàn kinh tế - tài chính Việt - Pháp (2000) chỉ ra tính phức tạp và hạn chế trong nhận thức về xã hội hóa dịch vụ công ở Việt Nam.
    • Ngô Ngọc Thắng (2007) và Lê Thị Thủy (2007) nghiên cứu sự biến đổi chức năng xã hội của nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Lê Hồng Sơn (2007) bàn về giới hạn trách nhiệm của nhà nước trong quản lý xã hội.
    • Lê Chi Mai (2003), Đinh Văn Ân & Hoàng Thu Hoà (2006) phân tích thực trạng cung ứng dịch vụ công, nhấn mạnh hạn chế của việc chậm tách bạch hoạt động sự nghiệp công ra khỏi hoạt động hành chính công.
    • Vũ Huy Từ (1998), Nguyễn Ngọc Hiến (2002), Lê Xuân Bá & cs. (2005) phân tích cơ chế quản lý dịch vụ công ích, đề xuất giảm bớt sự can thiệp trực tiếp của nhà nước nhưng nâng cao hiệu lực quản lý thông qua đổi mới phương thức cung ứng.
    • Nguyễn Thị Hiên (2006) nghiên cứu thực trạng tiếp cận dịch vụ công của đồng bào dân tộc thiểu số.
  3. Nghiên cứu về liên kết và phát triển chuỗi giá trị nông sản:

    • Hoàng Đình Minh (2016), Thái Thị Nhung & Trần Mạnh Hải (2016) nghiên cứu các mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản.
    • Các nghiên cứu phân tích chuỗi giá trị nông sản cụ thể: Đỗ Thị Diệp & cs. (2016) về chuỗi lúa gạo; Nguyễn Thị Minh Hiền & cs. (2016) về chuỗi nhãn Hưng Yên; Vũ Thu Hương (2015) về chuỗi keo lai; Nguyễn Văn Tú & Đỗ Kim Chung (2016) về chuỗi mận Mộc Châu; Đỗ Kim Chung & cs. (2016) về chuỗi nông sản vùng Tây Bắc; Đào Thế Anh & Nguyễn Thị Hà (2016) về chuỗi rau Đà Lạt và thịt lợn Đồng Nai; Nguyễn Thị Dương Nga & cs. (2016) về chuỗi thịt lợn tại tỉnh Hưng Yên.
    • Các công trình trên chủ yếu tập trung vào cấu trúc thị trường, phân bổ giá trị gia tăng và hành vi liên kết giữa các tác nhân kinh tế.

Vị trí và đóng góp của luận án

Kế thừa các luận điểm lý thuyết về phân định khu vực công - tư và phương pháp phân tích chuỗi giá trị, luận án xác lập vị trí nghiên cứu tiên phong trong việc tích hợp hai mảng nội dung: dịch vụ công và chuỗi giá trị ngành hàng thịt lợn. Công trình tập trung làm rõ vai trò kiến tạo của nhà nước, xác định ranh giới giữa quản lý nhà nước và dịch vụ sự nghiệp, đồng thời đánh giá thực nghiệm cơ chế cung ứng dịch vụ công đa chủ thể nhằm phục vụ tái cơ cấu ngành chăn nuôi tại đô thị Hà Nội.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và các khái niệm sử dụng

  • Dịch vụ công (Public services): Theo nghĩa hẹp trong luận án, là những dịch vụ và hoạt động hỗ trợ do cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp hoặc tổ chức tư nhân thực hiện nhằm đáp ứng các yêu cầu thiết yếu cho sự vận hành và phát triển của chuỗi giá trị sản phẩm thịt lợn. Phân loại dịch vụ công gồm 3 nhóm:
    1. Dịch vụ hành chính công: Gắn liền với chức năng quản lý nhà nước, thực thi pháp luật, cấp phép, cấp chứng chỉ chuyên ngành (không vì mục tiêu lợi nhuận).
    2. Dịch vụ sự nghiệp công: Dịch vụ kỹ thuật, phân tích, kiểm nghiệm, chứng nhận chất lượng, tập huấn nâng cao năng lực (có sử dụng hoặc không sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước).
    3. Dịch vụ công ích: Các hoạt động bảo đảm vệ sinh môi trường, xử lý dịch bệnh khẩn cấp, hạ tầng thiết yếu phục vụ lợi ích cộng đồng.
  • Chuỗi giá trị sản phẩm thịt lợn: Hệ thống kinh tế kết nối các tác nhân từ khâu cung cấp đầu vào, người sản xuất (hộ gia đình, trang trại), thương lái/cơ sở giết mổ - chế biến, cơ sở phân phối bán buôn/bán lẻ đến người tiêu dùng cuối cùng, cùng các tổ chức hỗ trợ chuỗi và chủ chuỗi.
  • Cung cấp dịch vụ công cho phát triển chuỗi: Quá trình bao gồm 4 nội dung cốt lõi:
    1. Xác định tổ chức/cơ quan cung cấp.
    2. Lựa chọn danh mục dịch vụ cung cấp (dịch vụ chung cho toàn chuỗi và dịch vụ riêng từng khâu).
    3. Xác định phương thức cung cấp (trực tiếp, tại cơ sở, trực tuyến).
    4. Xác lập cơ chế hỗ trợ và chi trả tài chính (bao cấp, hỗ trợ một phần, hoặc thu phí theo giá thị trường).
  • Nguyên tắc chuyển đổi quản trị: Chuyển đổi từ cơ chế “Nhà nước làm thay, chỉ đạo” sang “Nhà nước kiến tạo phát triển”; chuyển đổi từ phương thức kiểm soát “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”.

Phương pháp tiếp cận

Luận án áp dụng kết hợp 4 phương pháp tiếp cận chủ đạo:

  • Tiếp cận theo chuỗi giá trị: Khảo sát dịch vụ công gắn liền với dòng lưu chuyển sản phẩm và dòng thông tin dọc theo các khâu của chuỗi.
  • Tiếp cận theo hai khu vực kinh tế (công và tư): Xem xét vai trò cung ứng, mức độ bổ trợ giữa cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp và tổ chức tư nhân.
  • Tiếp cận định hướng thị trường: Đánh giá dịch vụ công dựa trên nhu cầu thực tế của khách hàng (các tác nhân trong chuỗi) và khả năng chi trả.
  • Tiếp cận theo loại hình tổ chức cung cấp: Phân định rõ chức năng, thẩm quyền và tính chất dịch vụ giữa cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp tư nhân.

Phương pháp thu thập dữ liệu

  • Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các báo cáo tổng kết, niên giám thống kê, văn bản quy phạm pháp luật của UBND TP. Hà Nội, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội, Chi cục Thú y, Chi cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản giai đoạn 2016 - 2018.
  • Dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua điều tra khảo sát bằng bảng hỏi cấu trúc, phỏng vấn sâu chuyên gia và thảo luận nhóm. Quy mô mẫu khảo sát thực địa được tổng hợp tại bảng dưới đây:
Nhóm đối tượng khảo sát Số lượng mẫu điều tra Nội dung thông tin thu thập chính
Hộ nông dân, chủ trang trại chăn nuôi lợn 150 mẫu Thực trạng chăn nuôi, mức độ tiếp cận DVC, chi phí và sự hài lòng
Doanh nghiệp cung ứng vật tư đầu vào 30 mẫu Tình hình tiếp nhận thủ tục hành chính, dịch vụ công về giống, TACN
Cơ sở giết mổ, chế biến thịt lợn 60 mẫu Quy trình kiểm soát giết mổ, kiểm tra VSTY, cấp chứng nhận ATTP
Cơ sở phân phối, bán buôn, bán lẻ 30 mẫu Kiểm tra giám sát nguồn gốc, chứng nhận chuỗi, nhãn hiệu
Người tiêu dùng thịt lợn tại Hà Nội 150 mẫu Thói quen tiêu dùng, nhận diện thương hiệu ATTP, mức độ tin cậy DVC
Cán bộ, công chức, viên chức cung ứng DVC Đầy đủ các cấp Đánh giá cơ sở vật chất, ngân sách, phương thức cung ứng, nhân lực

Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

  • Thống kê mô tả: Sử dụng phần mềm xử lý số liệu để tính toán các đại lượng đặc trưng gồm tần suất (frequency), số trung bình (mean), độ lệch chuẩn (standard deviation) nhằm đánh giá thực trạng cung ứng và tiếp nhận dịch vụ.
  • Phương pháp cho điểm và xếp hạng ưu tiên: Phân tích các rào cản, khó khăn và thứ tự ưu tiên của các tác nhân khi tiếp cận dịch vụ công.
  • Thang đo Likert: Đánh giá mức độ hài lòng của các tác nhân đối với từng loại hình dịch vụ công, thái độ và kỹ năng của đội ngũ công chức, viên chức.
  • Phân tích so sánh giá trị gia tăng (VA): Đánh giá chênh lệch giá trị gia tăng của các tác nhân khi tham gia chuỗi có sử dụng dịch vụ công so với các tác nhân ngoài chuỗi.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu và tính cấp thiết của đề tài

Phần mở đầu luận án trình bày bối cảnh kinh tế - xã hội, đặt ra yêu cầu cấp bách phải hình thành các chuỗi giá trị thịt lợn an toàn tại Hà Nội. Tác giả chỉ rõ việc thiếu hụt các dịch vụ công chuyên biệt cho chuỗi và sự chồng chéo trong quản lý nhà nước là điểm nghẽn chính cản trở các tác nhân liên kết bền vững. Phần này đồng thời xác lập mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và cấu trúc tổng thể của luận án.

Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về cung cấp dịch vụ công cho phát triển chuỗi giá trị sản phẩm thịt lợn

Nội dung chương tập trung làm rõ các vấn đề lý luận và bài học thực tiễn:

  • Khái niệm hóa dịch vụ công theo chuỗi giá trị sản phẩm thịt lợn, phân định 2 nhóm dịch vụ: dịch vụ chung cho toàn chuỗi (xây dựng liên kết, cấp mã truy xuất, thương hiệu tập thể, thông tin thị trường) và dịch vụ đặc thù cho 4 khâu vận hành (đầu vào, chăn nuôi, giết mổ - chế biến, tiêu thụ).
  • Phân tích 4 đặc điểm cơ bản: tính đa dạng theo từng mắt xích chuỗi; đòi hỏi sự tham gia đa chủ thể (công và tư); xu hướng chuyển đổi từ quản lý bao cấp sang kiến tạo; và yêu cầu chuyển đổi ngành chăn nuôi từ nhỏ lẻ tự phát sang định hướng thị trường.
  • Tổng kết kinh nghiệm quốc tế và một số tỉnh thành trong nước (như mô hình chuỗi rau Đà Lạt, thịt lợn Đồng Nai, mô hình hỗ trợ của các tổ chức IFAD, ADB, WB), rút ra bài học kinh nghiệm cho Hà Nội về phân cấp quản lý, xã hội hóa dịch vụ kiểm nghiệm và tăng cường tính minh bạch của thông tin thị trường.

Phần 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương này mô tả chi tiết phương pháp luận, xây dựng khung phân tích liên kết giữa chủ thể cung ứng (Nhà nước, ĐVSN, Tư nhân) và các tác nhân tiếp nhận theo chuỗi giá trị. Tác giả thiết lập hệ thống 5 nhóm chỉ tiêu đánh giá:

  1. Chỉ tiêu quy mô và cấu trúc chuỗi giá trị thịt lợn đại diện.
  2. Chỉ tiêu tiếp cận và danh mục dịch vụ công cung ứng.
  3. Chỉ tiêu kết quả hoạt động cung cấp dịch vụ công giai đoạn 2016 - 2018.
  4. Chỉ tiêu mức độ hài lòng của khách hàng (thang đo Likert).
  5. Chỉ tiêu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cung cấp dịch vụ công.
                           KHUNG PHÂN TÍCH LUẬN ÁN

Phần 4: Thực trạng và giải pháp cung cấp dịch vụ công cho phát triển chuỗi giá trị sản phẩm thịt lợn tại thành phố Hà Nội

Thực trạng chuỗi giá trị thịt lợn và hoạt động cung cấp dịch vụ công

  • Cấu trúc chuỗi và thị trường: Khảo sát 5 chuỗi giá trị thịt lợn đại diện tại Hà Nội cho thấy sản phẩm tiêu thụ gồm 3 dạng: thịt nóng (chiếm tỷ trọng chủ yếu), thịt mát/cấp đông và thịt qua chế biến. Phần lớn thịt lợn tiêu thụ trên thị trường vẫn xuất phát từ các kênh chăn nuôi và giết mổ nhỏ lẻ; chuỗi liên kết an toàn có sự tham gia của các tổ chức kinh tế đã hình thành nhưng chiếm thị phần khiêm tốn.
  • Hệ thống dịch vụ công đang cung ứng: Luận án thống kê được tổng số 52 dịch vụ công đang được thực hiện bởi cả ba nhóm chủ thể: cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp và tổ chức tư nhân.
Nhóm chủ thể cung cấp Đặc điểm dịch vụ công cung ứng Tỷ lệ tiếp cận của tác nhân Hạn chế chính được chỉ ra
Cơ quan Quản lý Nhà nước Cung cấp phần lớn các thủ tục hành chính, cấp giấy chứng nhận kiểm dịch, điều kiện ATTP, thanh kiểm tra. Tiếp cận ~90% (còn 10% chưa tiếp cận) Nặng về tiền kiểm, thủ tục rườm rà, "vừa đá bóng vừa thổi còi", thiếu định hướng hỗ trợ chuỗi.
Đơn vị sự nghiệp công lập Kiểm nghiệm, phân tích mẫu, chứng nhận chất lượng (Trung tâm Phân tích và Chứng nhận chất lượng SP nông nghiệp). Tiếp cận 100% dịch vụ cung ứng Năng lực thiết bị hạn chế, phụ thuộc ngân sách, cơ chế tự chủ tài chính chưa đồng bộ.
Tổ chức tư nhân (như NHO) Cung cấp dịch vụ chứng nhận VietGAP, ISO, tư vấn kỹ thuật theo hợp đồng thị trường. Tiếp cận 100% dịch vụ cung ứng Mạng lưới hoạt động chưa rộng, chưa được ủy quyền pháp lý đầy đủ trong các khâu quản lý công.
  • Phương thức cung cấp: Đa số các dịch vụ công được thực hiện qua hình thức tiếp xúc trực tiếp tại trụ sở cơ quan hoặc cử cán bộ trực tiếp kiểm tra tại cơ sở. Tỷ lệ cung cấp dịch vụ công trực tuyến còn rất thấp do hạn chế về hạ tầng công nghệ thông tin và thói quen giao dịch của người dân.
  • Chi phí và mức phí: Mức phí và lệ phí quy định theo văn bản nhà nước (thu phí ATTP, kiểm dịch) ở mức thấp. Tuy nhiên, các tác nhân phản ánh chi phí thực tế phát sinh (thời gian chờ đợi, hoàn thiện hồ sơ, chi phí kiểm nghiệm phân tích mẫu nhiều lần) là rào cản lớn làm tăng chi phí vận hành chuỗi.
  • Đánh giá mức độ hài lòng: Kết quả khảo sát cho thấy mức độ hài lòng của các tác nhân ở tất cả các khâu (cung cấp đầu vào, chăn nuôi, giết mổ, bán lẻ) và người tiêu dùng đều ở mức trung bình hoặc chưa hài lòng về sự thuận tiện, tính minh bạch và thái độ phục vụ của cán bộ cung ứng dịch vụ công.
  • Hiệu quả kinh tế: Phân tích giá trị gia tăng (VA) chỉ ra rằng các tác nhân tham gia vào chuỗi liên kết có tiếp cận đầy đủ các dịch vụ công đạt được mức giá trị gia tăng và tính ổn định tiêu thụ cao hơn rõ rệt so với các hộ sản xuất ngoài chuỗi.

Quan điểm đổi mới và hệ thống giải pháp đề xuất

Luận án xác lập 5 quan điểm đổi mới căn bản:

  1. Nhà nước thực hiện đúng vai trò kiến tạo, không làm thay các công việc khu vực tư nhân có thể đảm nhiệm.
  2. Chuyển đổi căn bản phương thức quản lý từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm".
  3. Thiết kế và cung cấp dịch vụ công theo hướng tiếp cận toàn diện chuỗi giá trị.
  4. Vận dụng linh hoạt cơ chế thị trường và cơ chế giá - phí trong cung ứng một số dịch vụ công.
  5. Thay đổi tư duy và nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về nhận diện sản phẩm thịt lợn an toàn.

Tác giả đề xuất hệ thống 7 nhóm giải pháp đồng bộ:

  1. Điều chỉnh lại danh mục các dịch vụ công: Rà soát, bãi bỏ các thủ tục hành chính không cần thiết, bổ sung các dịch vụ hỗ trợ chuỗi (xúc tiến thương mại, truy xuất nguồn gốc điện tử).
  2. Xác định lại nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị cung cấp: Tách bạch chức năng quản lý nhà nước của các Chi cục với chức năng cung ứng dịch vụ kỹ thuật của đơn vị sự nghiệp; đẩy mạnh xã hội hóa cho khu vực tư nhân tham gia.
  3. Đổi mới cơ chế phí và giá cung cấp dịch vụ công: Tính đúng, tính đủ chi phí dịch vụ sự nghiệp, minh bạch hóa các khoản thu, giảm chi phí phi chính thức cho doanh nghiệp.
  4. Thay đổi phương thức cung cấp dịch vụ công: Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và mức độ 4.
  5. Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ: Đào tạo nghiệp vụ, nâng cao đạo đức công vụ và kỹ năng tư vấn chuỗi giá trị cho đội ngũ công chức, viên chức.
  6. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ: Ban hành các chính sách đặc thù của thành phố Hà Nội khuyến khích liên kết chuỗi và hỗ trợ hạ tầng giết mổ tập trung.
  7. Tăng cường công tác tuyên truyền, thông tin: Tuyên truyền rộng rãi về ATTP, công khai danh sách các chuỗi an toàn được chứng nhận trên các phương tiện truyền thông.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và học thuật

  • Luận án đã hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm nội hàm lý luận về cung cấp dịch vụ công cho phát triển chuỗi giá trị ngành hàng nông sản nói chung và sản phẩm thịt lợn nói riêng.
  • Xác định rõ cấu trúc dịch vụ công phục vụ chuỗi giá trị bao gồm hai nhóm cấu thành: dịch vụ công dùng chung cho toàn chuỗi và dịch vụ công chuyên biệt cho từng mắt xích vận hành (từ đầu vào, chăn nuôi, giết mổ, chế biến đến tiêu thụ).
  • Luận giải cơ sở khoa học của việc chuyển đổi mô hình quản lý từ "Nhà nước chỉ đạo/làm thay" sang "Nhà nước kiến tạo", và từ cơ chế "tiền kiểm" sang cơ chế "hậu kiểm" kết hợp công chuẩn hóa tiêu chuẩn chất lượng.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn và ứng dụng

  • Nhận diện và lập danh mục toàn diện 52 dịch vụ công liên quan đến chuỗi giá trị thịt lợn đang vận hành trên địa bàn thành phố Hà Nội; chỉ rõ sự phân bổ dịch vụ giữa cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp và tổ chức tư nhân.
  • Phát hiện và lượng hóa các tồn tại thực tế: Tình trạng chồng chéo chức năng giữa các cơ quan quản lý; hiện tượng cơ quan nhà nước vừa ban hành chính sách vừa trực tiếp cung ứng dịch vụ ("vừa đá bóng vừa thổi còi"); tình trạng khoảng 10% dịch vụ công của nhà nước chưa được các tác nhân tiếp cận đầy đủ trong khi các dịch vụ của đơn vị sự nghiệp và tư nhân đạt tỷ lệ tiếp cận 100%.
  • Chỉ ra nghịch lý kinh tế: Mức thu phí nhà nước theo quy định thấp nhưng tổng chi phí thực tế mà doanh nghiệp và người chăn nuôi phải bỏ ra để tiếp cận dịch vụ lại rất cao do thủ tục kéo dài và chi phí tuân thủ lớn.
  • Cung cấp luận cứ thực chứng và hệ thống giải pháp khả thi giúp UBND TP. Hà Nội, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tái cấu trúc hệ thống dịch vụ công nông nghiệp, nâng cao hiệu quả quản lý an toàn thực phẩm và thúc đẩy chuỗi liên kết bền vững.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu chỉ tập trung khảo sát trên địa bàn thành phố Hà Nội, chưa thực hiện so sánh đối chứng toàn diện với các trung tâm tiêu thụ lớn khác như TP. Hồ Chí Minh hay các vùng chăn nuôi trọng điểm lân cận.
  • Phạm vi thời gian và nguồn dữ liệu: Dữ liệu điều tra thực địa và số liệu thống kê phản ánh giai đoạn 2016 - 2018; các biến động thị trường lớn sau năm 2018 (như đại dịch Dịch tả lợn châu Phi năm 2019) chưa được phản ánh trong số liệu khảo sát của công trình.
  • Giới hạn đối tượng chuỗi: Luận án chủ động loại trừ các chuỗi thịt lợn nhập khẩu và chuỗi khép kín 3F (Feed-Farm-Food) của các tập đoàn đa quốc gia quy mô lớn (như CP Group), do đó các kết luận chủ yếu mang tính đại diện cho phân khúc kinh tế hộ, trang trại liên kết và doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang việc cung ứng dịch vụ công cho các chuỗi giá trị nông sản chủ lực khác (chuỗi rau an toàn, chuỗi gia cầm, chuỗi thủy sản) trên địa bàn đô thị.
  • Nghiên cứu định lượng tác động của quá trình chuyển đổi số và cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ cao đến việc cắt giảm chi phí giao dịch cho các tác nhân trong chuỗi nông sản.
  • Đánh giá tác động của các cú sốc dịch bệnh quy mô lớn (như Dịch tả lợn châu Phi) đến sự biến đổi nhu cầu dịch vụ công khẩn cấp và chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn.

Giá trị tham khảo

Đối tượng thụ hưởng

  1. Các cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: UBND TP. Hà Nội, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Chăn nuôi và Thú y, Chi cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản có thể sử dụng kết quả nghiên cứu để xây dựng quy hoạch, phân định lại chức năng nhiệm vụ, điều chỉnh danh mục thủ tục hành chính và xây dựng cơ chế đặt hàng dịch vụ công.
  2. Các nhà khoa học, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo giá trị cho các chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Quản trị chuỗi cung ứng, Quản lý công và Chính sách công trong việc tiếp cận phương pháp phân tích tích hợp giữa dịch vụ công và chuỗi giá trị.
  3. Các tác nhân tham gia chuỗi giá trị (Doanh nghiệp, Hợp tác xã, Chủ trang trại): Tham khảo để nắm bắt đầy đủ danh mục các dịch vụ công hiện có, quy trình kiểm soát chất lượng, từ đó nâng cao năng lực đàm phán liên kết và tiếp cận các chính sách hỗ trợ của Nhà nước.

Các nội dung đáng tham khảo

  • Khung lý thuyết và mô hình phân tích mối quan hệ giữa các chủ thể cung cấp dịch vụ công và các tác nhân tiếp nhận dọc theo chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp.
  • Bộ công cụ và bảng hỏi khảo sát điều tra thực địa đa tác nhân (từ cung cấp đầu vào đến người tiêu dùng) kết hợp thang đo Likert đánh giá sự hài lòng.
  • Bảng tổng hợp chi tiết danh mục 52 dịch vụ công và hệ thống 7 nhóm giải pháp tái cơ cấu tổ chức cung ứng dịch vụ công nông nghiệp tại Hà Nội.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm cung cấp dịch vụ công cho phát triển chuỗi giá trị thịt lợn được hiểu như thế nào?

Theo luận án, cung cấp dịch vụ công cho phát triển chuỗi giá trị sản phẩm thịt lợn là quá trình tổng hợp bao gồm 4 nội dung: (1) Xác định tổ chức/cơ quan cung cấp; (2) Lựa chọn danh mục dịch vụ cung cấp (gồm dịch vụ chung cho toàn chuỗi và dịch vụ riêng cho từng khâu); (3) Xác định phương thức cung cấp; và (4) Thiết lập cơ chế hỗ trợ, chi trả tài chính. Dịch vụ này thuộc nhóm dịch vụ sự nghiệp công có kết hợp các thủ tục hành chính công nhằm nâng cao năng lực, kết nối các tác nhân và đảm bảo an toàn thực phẩm.

2. Luận án đã thống kê được bao nhiêu dịch vụ công phục vụ chuỗi thịt lợn tại Hà Nội?

Luận án đã chỉ ra rằng trên địa bàn Hà Nội có tổng cộng 52 dịch vụ công đang được cung cấp để phục vụ cho phát triển chuỗi giá trị sản phẩm thịt lợn, được đảm nhiệm bởi ba nhóm chủ thể chính gồm: các cơ quan quản lý nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công lập và các tổ chức tư nhân.

3. Thực trạng cung ứng dịch vụ công của các cơ quan quản lý nhà nước tại Hà Nội có những bất cập gì?

Văn bản luận án chỉ ra các bất cập cốt lõi: Các dịch vụ do cơ quan nhà nước cung cấp chủ yếu là các thủ tục hành chính phục vụ quản lý thay vì hỗ trợ phát triển chuỗi; cơ chế quản lý nặng về tiền kiểm; tồn tại hiện tượng "vừa đá bóng vừa thổi còi"; dịch vụ còn chồng chéo giữa các cơ quan; phương thức cung cấp chủ yếu là trực tiếp, chưa triển khai hiệu quả dịch vụ công trực tuyến; và các tác nhân trong chuỗi vẫn chưa tiếp cận được khoảng 10% số dịch vụ công do nhà nước cung cấp.

4. Luận án đề xuất những quan điểm đổi mới căn bản nào trong cung ứng dịch vụ công?

Tác giả xác lập 5 quan điểm đổi mới:

  1. Nhà nước thực hiện vai trò kiến tạo, không làm thay việc của tư nhân.
  2. Chuyển đổi căn bản từ tiền kiểm sang hậu kiểm.
  3. Cung cấp dịch vụ công theo hướng tiếp cận chuỗi giá trị.
  4. Dựa trên cơ chế thị trường để cung cấp một số dịch vụ công (vận dụng cơ chế giá - phí).
  5. Làm thay đổi nhận thức và hành vi của người tiêu dùng đối với thực phẩm an toàn.

5. Quy mô mẫu điều tra thực địa của luận án được phân bổ như thế nào?

Tổng thể mẫu điều tra sơ cấp của luận án bao gồm: 150 hộ nông dân và chủ trang trại chăn nuôi lợn; 30 doanh nghiệp cung ứng đầu vào; 60 cơ sở giết mổ và chế biến; 30 cơ sở phân phối tiêu thụ sản phẩm thịt lợn; 150 người tiêu dùng tại Hà Nội; cùng đội ngũ công chức, viên chức tại các cơ quan quản lý và đơn vị sự nghiệp chuyên ngành các cấp.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Tạ Văn Tường là công trình nghiên cứu hệ thống và toàn diện về hoạt động cung ứng dịch vụ công phục vụ phát triển chuỗi giá trị sản phẩm thịt lợn tại thành phố Hà Nội. Dựa trên việc phân tích thực chứng nguồn số liệu khảo sát phong phú từ nhiều nhóm tác nhân trong giai đoạn 2016 - 2018, luận án đã chỉ rõ thực trạng 52 dịch vụ công đang vận hành cùng những điểm nghẽn căn bản về thể chế, phương thức cung ứng và chi phí giao dịch. Trên cơ sở 5 quan điểm đổi mới mang tính kiến tạo và tiếp cận thị trường, công trình đã đề xuất 7 nhóm giải pháp đồng bộ có giá trị ứng dụng thực tiễn cao, góp phần thúc đẩy tái cơ cấu ngành chăn nuôi và hoàn thiện công tác quản lý an toàn thực phẩm tại thủ đô Hà Nội.