Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu, giới thiệu tổng quát lý do chọn đề tài và vấn đề nghiên cứu; mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa đề tài và kết cấu. Chương 2: Tổng quan nghiên cứu và mô hình nghiên cứu trình bày, khảo lược nền tảng các lý thuyết về thương mại quốc tế. Trên cơ sở đó đề xuất xây dựng mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu chính thức trình bày cách thiết kế mô hình, phân tích dữ liệu định lượng để đo lường các nhân tố.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và kiểm định mô hình nghiên cứu, tác giả đánh giá thực trạng xuất khẩu trái cây tươi của Việt Nam sang thị trường mục tiêu, trình bày kết quả phân tích dữ liệu bao gồm thống kê mô tả, đo lường mức độ tác động của các nhân tố. Chương 5: Kết luận và kiến nghị nhằm gia tăng kim ngạch xuất khẩu trái cây tươi Việt Nam sang thị trường Canada đến năm 2023 123doc 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT, TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Các khái niệm liên quan 2. Khái niệm về trái cây Mặt hàng trái cây được Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) định nghĩa như sau: Trái cây bao gồm các loại trái và quả mọng được đặc trưng bởi hương vị ngọt ngào (trừ một số ngoại lệ).
Hầu hết đều là cây trồng lâu năm, chủ yếu mọc từ cây, bụi rậm và cây bụi, cũng như dây leo hoặc từ cọ (như trái dừa). Quả và quả mọng mọc trên cành, thân hoặc thân cây, thường mọc đơn lẻ nhưng đôi khi nhóm thành chùm hoặc bụi. Cây trồng thương mại thường được trồng trong các nông trại, đồn điều, nhưng một lượng lớn trái cây cũng được thu thập từ các cây mọc dại. Dưa và dưa hấu dù thường được coi là trái cây nhưng FAO nhóm chúng với rau vì chúng là cây trồng và thu hoạch như rau.
Trái cây chứa hàm lượng nước rất cao, khoảng 70-90% trọng lượng; chứa nhiều vitamin, khoáng chất và axit hữu cơ; một số loại có hàm lượng chất xơ cao. Trái cây rất dễ hỏng. Thời hạn sử dụng của chúng có thể được kéo dài thông qua sử dụng hóa chất ức chế phát triển và kiểm soát nhiệt độ, áp suất và độ ẩm môi trường sau khi được thu hoạch. FAO liệt kê 36 loại cây ăn quả chính.
Mã và tên của mỗi loại được liệt kê dưới bảng sau đây: 123doc 9 Bảng 2.1: Các loại trái cây chính theo định nghĩa của FAO STT FAO TÊN STT FAO TÊN STT FAO TÊN Anh đào 1 0486 Chuối 13 0530 25 0560 Nho chua 2 0489 Chuối lá 14 0531 Anh đào 26 0569 Sung Đào và Xuân 3 0490 Cam 15 0534 27 0587 Hồng đào 4 0495 Quýt 16 0536 Mận 28 0592 Kiwi Chanh và 5 0497 17 0541 Quả hạch 29 0571 Xoài Chanh tây Bưởi và 6 0507 18 0544 Dâu 30 0572 Bơ Bưởi chùm 7 0512 Quất 19 0547 Mâm xôi 31 0574 Dứa 8 0515 Táo 20 0549 Lý chua lông 32 0577 Chà là 9 0521 Lê 21 0550 Lý chua 33 0591 Đào lộn hột 10 0523 Mộc qua 22 0552 Việt quốc 34 0600 Đu đủ Nam việt Trái cây 11 0542 Chi Táo Lê 23 0554 35 0603 quốc nhiệt đới * 12 0526 Mơ 24 0558 Quả mọng 36 0619 Khác Nguồn: Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc Trong Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa (HS CODE) – hệ thống tiêu chuẩn hóa quốc tế của Tổ chức hải quan thế giới về tên gọi và mã số, với mục đích phân loại hàng hóa được buôn bán trên phạm vi toàn thế giới– trái cây được phân vào Chương 8: Quả và quả hạch (Nuts) ăn được.2: Trái cây theo Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa HS CODE MÔ TẢ HÀNG HÓA Dừa, quả hạch Brazil và hạt điều, tươi hoặc khô, đã hoặc chưa bóc vỏ 08.01 hoặc lột vỏ 08.02 Quả hạch (nuts) khác, tươi hoặc khô, đã hoặc chưa bóc vỏ hoặc lột vỏ 08.03 Chuối, kể cả chuối lá, tươi hoặc khô 08.04 Quả chà là, sung, vả, dứa, bơ, ổi, xoài và măng cụt, tuoi hoặc khô 08.05 Quả thuộc chi cam quýt, tươi hoặc khô 08.06 Quả nho, tươi hoặc khô 08.07 Các loại quả họ dưa (kể cả dưa hấu) và đu đủ, tươi 08.08 Quả táo (apples), lê và quả mộc qua, tươi 08.09 Quả mơ, anh đào, đào (kể cả xuân đào), mận và mận gai 08.10 Quả khác, tươi Quả và quả hạch, đã luộc hoặc chưa hấp chín hoặc luộc chín trong 08.11 nước, đông lạnh, đã hoặc chưa thêm đường hoặc chất tạo ngọt khác Quả và quả hạch (nuts), được bảo quản tạm thời nhưng không ăn ngay 08.12 được Quả, khô, trừ các loại quả thuộc nhóm 08.13 loại quả hạch (nuts) hoặc quả khô thuộc Chương này Vỏ các loại quả thuộc chi cam quýt hoặc các loại dưa (kể cả dưa hấu), 08.14 tươi, đông lạnh, khô hoặc bảo quản tạm thời trong nước muối, nước lưu huỳnh hoặc trong các dung dịch bảo quản khác Nguồn: Tổ chức hải quan thế giới Trái cây nhiệt đới: Theo Tổ chức Trái cây nhiệt đới quốc tế (International Tropical Fruit Network), trái cây nhiệt đới được định nghĩa là những loại được trồng ở vùng nóng 123doc 11 ẩm, trong khu vực nằm giữa Chí tuyến Bắc và Chí tuyến Nam. Trái cây nhiệt đới được trồng bao phủ hầu hết các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới của châu Á, châu Phi, Trung Mỹ, Nam Mỹ, Caribbean và châu Đại Dương, đa dạng các chủng loại như: Nhãn, vải, chôm chôm, thanh long, mít, me, mãng cầu, ổi, xoài, măng cụt, sầu riêng, chuối, dưa, dừa, dứa, mận, bưởi, chanh leo, đu đủ, khế ….Với mục đích cung cấp thực phẩm và chất dinh dưỡng, FAO và Tổ chức Y tế Thế giới kiến nghị tiêu thụ trái cây nhiệt đới cho chế độ ăn uống giúp cân bằng và phòng tránh các vấn đề về tim mạch, tiểu đường và một số loại ung thư. Trái cây nhiệt đới chính được giao dịch toàn cầu như chuối, xoài, dứa, bơ và đu đủ, ổi, chôm chôm, sầu riêng, mít, thanh long và chanh dây được trồng đại trà và phổ biến. Dữ liệu xuất khẩu trái cây tươi của Việt Nam sang các nước thu thập từ nghiên cứu này sẽ được lấy từ nguồn UN Comtrade dựa trên Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa (phiên bản 1996) vì đây là hệ thống được thống nhất trên toàn thế giới sẽ cho ra kết quả có ý nghĩa cao.
Đặc tính của trái cây tươi Trái cây tươi Việt Nam khá phong phú và đa dạng. Nhìn chung, trái cây tươi xuất khẩu của Việt Nam có các đặc điểm sau: Thứ nhất, trái cây chịu ảnh hưởng rất lớn từ điều kiện tự nhiên như thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình, nguồn nước, …Do đây là những nhân tố tác động trực tiếp đến sinh trưởng và phát triển, qua đó gián tiếp đến năng suất, hương vị, độ ngon và về sau là giá cả và khả năng cung ứng nguồn hàng. Thứ hai, sản xuất trái cây mang tính thời vụ. Đối với từng loại trái cây, người nông dân sẽ phải tiến hành gieo trồng, sản xuất và thu hoạch theo từng thời điểm để đảm bảo sinh trưởng và phát triển tốt nhất cho cây trồng đó.
Chất lượng trái cây cũng có sự biến động nhất định theo mùa vụ. Vào chính vụ thì sản lượng lớn, hàm lượng dinh dưỡng cao, chất lượng đồng đều và giá thành rẻ hơn và ngược lại. Đơn cử như trái thanh long là loại 123doc 12 cây nhiệt đới, phù hợp khí hậu nắng nóng, giỏi chịu hạn, kém chịu úng, thích hợp trồng khoảng tháng 10-11 dương lịch. Nếu trồng cây nghịch vụ thì phải chong đèn, cây mới có thể trổ hoa kết trái.
Thứ ba, sản xuất trái cây mang tính địa phương. Mỗi loại trái cây phù hợp phát triển với những vùng khác nhau. Ví dụ như hiện nay, tại Việt Nam, mặc dù cây bơ đã có thể trồng được tại nhiều vùng miền, nhưng để cho sản lượng nhiều, năng suất cao và chất lượng thì chỉ có vùng Tây Nguyên mới phù hợp hơn cả, do nhiều đất đỏ Bazan dày tầng, thoát nước tốt. Hoặc như cây thanh long thích hợp trồng ở vùng đất cao (như Bình Thuận, Vũng Tàu, Đồng Nai), đất xám, đất phù sa, đất đỏ.
Đối với những vùng đất thấp như Tiền Giang, Long An cũng có thể trồng nhưng cần phải chú trọng thoát nước, liếp mô trước khi trồng. Nhãn lồng thì hợp với khí hậu, thổ nhưỡng ở Hưng Yên nên trồng ở vùng này thì sản phẩm mang hương vị thơm ngon nhất. Chính vì vậy ý tưởng về chỉ dẫn địa lý để khẳng định tính đặc sản của mỗi loại trái cây sẽ là một trong những cách tiếp thị hiệu quả để người tiêu dùng thế giới định hình nhận thức sản phẩm của Việt Nam cũng như chiến lược hình thành vùng nguyên liệu tập trung. Hiện tại Việt Nam có những thương hiệu trái cây nổi tiếng gắn liền với địa phương và được Cục Sở hữu trí tuệ thuộc Bộ KH-CN&MT cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa như Vải thiều Lục Ngạn, nhãn lồng Hưng Yên, Xoài Cát Hòa Lộc (Tiền Giang), Vú sữa Lò Rèn (Vĩnh Kim- Tiền Giang), Bưởi Da Xanh (Mỹ Thạnh An- Bến Tre), Sầu Riêng Ri6 (Vĩnh Long), Thanh long Bình Thuận, Quýt hồng (Đồng Tháp), Dưa hấu Long An.
Thứ tư, trái cây có đặc tính tươi sống, trong quá trình thu hoạch và vận chuyển rất dễ bị hư hỏng, dập nát, kém phẩm chất. Khi thu hoạch và phân phối cần phân loại, phân chia để bảo quản và chọn phương thức kinh doanh cho phù hợp đặc điểm từng loại, hạn chế rủi ro đến mức tối thiểu. Thứ năm là trái cây phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của con người, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng nên yêu cầu chất lượng phải được quy định chặt chẽ và 123doc 13 coi trọng. Ngoài ra, ngày nay chất lượng đã trở thành công cụ cốt yếu để thâm nhập và cạnh tranh vào các thị trường khó tính mới có thể đáp ứng được các hàng rào kỹ thuật gắt gao mà các thị trường đó đặt ra.