Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1.1 Cạnh tranh Cạnh tranh là là một thuật ngữ với nghĩa chủ yếu là phản ánh sự đấu tranh, ganh đua, thi đua giữa các đối tượng cùng loại, đồng giá trị nhằm đạt được những ưu thế, những lợi ích theo mục tiêu xác định. Trong kinh tế, khái niệm cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữa các nhà doanh nghiệp trong việc giành một nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường {24, tr.11] Cạnh tranh sẽ đem lại lợi ích cho người này và sự thiệt hại cho người khác, song xét dưới góc độ lợi ích toàn xã hội, cạnh tranh luôn có tác động tích cực (chất lượng tốt hơn, giá rẻ hơn, dịch vụ tốt hơn. Trong quan hệ kinh tế cạnh tranh là sự đấu tranh giữa những chủ thể trong việc thực hiện sản phẩm, dịch vụ nhằm chiếm lĩnh thị trường ở mức cao nhất, giành điều kiện tiêu thụ có lợi nhất và tối đa hoá lợi nhuận. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, khái niệm cạnh tranh được hình dung như một cuộc ganh đua giữa hai hay nhiều cá nhân hoặc tổ chức để giành thị phần trên thị trường (kể cả thị trường bán lẫn thị trường mua).
Cạnh tranh là một xu thế tất yếu trong nền kinh tế thị trường. Hiện tượng cạnh tranh xuất hiện đồng thời với sự ra đời và phát triển của nền sản xuất hàng hoá. Cạnh tranh là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển. z 9 Trong nền sản xuất hàng hoá, qui luật giá trị là qui luật kinh tế cơ bản và cạnh tranh lấy qui luật giá trị làm tiền đề.
Tác động của qui luật giá trị trong việc kích thích sự phát triển của lực lượng sản xuất, đào thải cái lạc hậu dựa trên cơ sở công bằng - đó là sự trao đổi ngang giá. Trong điều kiện đó, muốn có nhiều lợi nhuận các chủ thể kinh tế phải đua nhau đổi mới khâu tổ chức quản lý (sản xuất, lưu thông phân phối), đua nhau cải tiến kỹ thuật, áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất để nâng cao năng suất lao động, giảm hao phí lao động cá biệt nhằm thu lợi nhuận cao hơn các chủ thể kinh tế khác. Có thể nói, để thắng được trong cạnh tranh, chiếm lĩnh được thị phần buộc các quốc gia, các doanh nghiệp, các ngành sản xuất sản phẩm phải nâng cao được năng lực cạnh tranh của mình 1.2 Năng lực cạnh tranh Trong môi trường cạnh tranh, từng chủ thể kinh tế thể hiện vị thế của mình so với các chủ thể khác. Vị thế đó, dựa trên những ưu thế nhất định về các điều kiện sản xuất và tiêu thụ hàng hoá.
Sức cạnh tranh, khả năng cạnh tranh, năng lực cạnh tranh đều phản ánh vị thế cạnh tranh của các chủ thể kinh tế. Vị thế đó là những điều kiện để các chủ thể kinh tế tham gia vào hoạt động cạnh tranh. Một chủ thể có sức cạnh tranh cao là chủ thể có lợi thế, biết tạo ra những lợi thế để thu được lợi nhuận cao hơn so với các chủ thể khác. Chủ thể đó cũng được coi là có khả năng cạnh tranh hay năng lực cạnh tranh cao.
Vì vậy, có thể hiểu sức cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, khả năng cạnh tranh là những khái niệm đồng nghĩa. Để xác định năng lực cạnh tranh hoặc khả năng cạnh tranh hay sức cạnh tranh của một ngành kinh tế, của một đơn vị kinh doanh hoặc của một sản phẩm người ta thường chọn ra một số tiêu thức như: thị phần, tỷ lệ lợi nhuận trong một đơn vị sản phẩm. Những tiêu thức này z 10 chỉ đánh giá trạng thái “tĩnh” vị trí của ngành (doanh nghiệp hoặc sản phẩm) trong một thời điểm, trong khi đó cạnh tranh là một quá trình mang tính “động”, vì vậy khi phân tích cạnh tranh, người ta thường bổ sung vào một số yếu tố “động” khác như mức độ ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, vòng đời của sản phẩm v. Trên cơ sở phân tích này, các nhà kinh doanh có thể đưa ra những chiến lược kinh doanh phù hợp với thị trường để duy trì và phát huy vị thế của mình trên thị trường hoặc đưa ra những biện pháp phòng ngừa rủi ro có thể xảy ra.
Năng lực cạnh tranh được phân biệt ở ba cấp độ, bao gồm năng lực cạnh tranh quốc gia; năng lực cạnh tranh doanh nghiệp; năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ. - Năng lực cạnh tranh quốc gia là một khái niệm phức hợp, được định nghĩa là năng lực của một nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, bảo đảm ổn định kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống của người dân, chủ yếu nhờ khả năng nâng cấp công nghệ hoặc bằng cách tự sáng tạo hoặc tiếp thu nhanh chóng và tích cực công nghệ từ nước khác. 13-14] Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) cho rằng, tính cạnh tranh của một quốc gia là “năng lực của nền kinh tế nhằm đạt và duy trì được mức tăng trưởng cao" trên cơ sở các chính sách, thể chế vững bền tương đối và các đặc trưng kinh tế khác. Theo WEF, khuôn khổ nội dung xác định tính cạnh tranh tổng thể của nền kinh tế bao gồm tám nhóm nhân tố: độ mở cửa; chính phủ; tài chính; kết cầu hạ tầng; công nghệ; quản trị; lao động; và thể chế.13-14] Chỉ số chung đánh giá thứ hạng cạnh tranh của các quốc gia được tính theo tỷ trọng của tám nhóm nhân tố trên.
Mỗi nhóm nhân tố lại được xem xét dựa trên các tiểu nhóm nhân tố. Tất cả có khoảng 250 chỉ số z 11 định tính và định lượng được sử dụng để đánh giá tính cạnh tranh cấp quốc gia. Tuy không được nhìn nhận riêng và thật đầy đủ trong quan niệm của WEF, song sự ổn định kinh tế vĩ mô cũng là một nhóm nhân tố quan trọng đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế bền vững. Các chỉ số quan trọng nhất được dùng để đánh giá sự ổn định kinh tế vĩ mô là lạm phát, lãi suất, tỉ giá hối đoái, thâm hụt tài chính và thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế.
Kể từ giữa những năm 1980, cuộc cách mạng về công nghệ thông tin (IT) và những bước đột phá trong một loạt lĩnh vực như công nghệ gen, y học, năng lượng, vật liệu mới,.đang đẩy nhanh quá trình chuyển đổi từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên của kinh tế tri thức. Ngày nay, lợi thế cạnh tranh truyền thống dựa trên tài nguyên thiên nhiên và chi phí lao động thấp, tuy còn có giá trị, song mới chỉ là điểm khởi đầu. Tri thức và kỹ năng đang trở thành một nhân tố then chốt đảm bảo tính cạnh tranh cao. - Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng vượt qua các đối thủ cạnh tranh để duy trì và phát triển bản thân doanh nghiệp.
Thông thường, người ta đánh giá khả năng này thông qua các yếu tố nội tại của doanh nghiệp như: qui mô; khả năng tham gia cạnh tranh và rút khỏi thị trường; sản phẩm; năng lực quản lý; năng suất lao động; trình độ công nghệ và lao động. Tuy nhiên, những khả năng này lại lại bị tác động đồng thời bởi nhiều yếu tố bên ngoài như Nhà nước và các thể chế trung gian. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong và ngoài nước. Một doanh nghiệp có thể kinh doanh một hay nhiều sản phẩm hàng hoá hoặc dịch vụ, vì vậy người ta z 12 còn phân biệt năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ.
- Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ được đo bằng thị phần của sản phẩm hay dịch vụ đó trên thị trường. Một sản phẩm, dịch vụ được coi là có năng lực cạnh tranh cao khi giá thành sản xuất thấp, qui mô cung ứng, tính độc đáo của sản phẩm và dịch vụ được người tiêu dùng chấp nhận thể hiện ở thị phần của sản phẩm đó trên thị trường vượt trội so với các sản phẩm tương tự của các đối thủ cạnh tranh. Đối với hàng hoá nông sản thực phẩm, để đánh giá năng lực cạnh tranh ngoài các chỉ tiêu trên người ta còn phải quan tâm đến các yếu tố như độ an toàn về thực phẩm, xuất xứ, hương vị đặc trưng của sản phẩm. Năng lực cạnh tranh của một sản phẩm, dịch vụ phụ thuộc vào lợi thế so sánh của nó.
Lợi thế so sánh lại được đánh giá theo nhiều tiêu thức khác nhau. Quan niệm cổ điển đều xuất phát từ việc so sánh các yếu tố cấu thành nên sản phẩm (vốn, lao động, nguyên liệu và vì vậy là chi phí, giá thành và giá cả). Tuy nhiên, quan niệm về lợi thế so sánh hiện nay đã có nhiều thay đổi. Năng lực cạnh tranh ở ba cấp độ đó có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau, tạo điều kiện cho nhau, chế định và phụ thuộc lẫn nhau.
Một nền kinh tế có năng lực cạnh tranh quốc gia cao phải có nhiều doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao, ngược lại để tạo điều kiện cho doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh, các điều kiện, tiền đề kinh doanh của nền kinh tế phải thuận lợi để các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời thể hiện thông qua năng lực cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp sản xuất hoặc kinh doanh. Ngược z 13 lại, năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ phụ thuộc vào năng lực cạnh tranh quốc gia và năng lực tổ chức quản lý của doanh nghiệp. Nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm là khắc phục những trở ngại làm giảm sức cạnh tranh và hoàn thiện những nhân tố làm tăng tính trội của nó làm cho thị phần của nó tăng lên so với thị phần của đối thủ của nó.
Để nâng cao được năng lực cạnh tranh mỗi quốc gia, doanh nghiệp và ngành sản xuất sản phẩm thường dựa vào lợi thế tuyệt đối, lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh. Trong khuôn khổ của luận văn này tác giả xin chỉ đi sâu nghiên cứu năng lực cạnh tranh của sản phẩm.