Mở đầu Chương 2. Cơ sở lý luận về chính sách tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh Chương 3. Đánh giá chính sách tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh trên thế giới và Việt Nam giai đoạn 2016-2023 Chương 4. Bài học từ nghiên cứu kinh nghiệm các chính sách trên thế giới và trong nước cho Việt Nam 12 CHƯƠNG 2.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TIÊU DÙNG BỀN VỮNG ĐỐI VỚI MẶT HÀNG TIÊU DÙNG NHANH 2. Một số khái niệm cơ bản 2. Khái niệm tiêu dùng bền vững Năm 1987, công trình của Ủy ban Brundtland đã đưa ra khái niệm “phát triển bền vững” được chấp nhận rộng rãi trên thế giới trong đó có nhắc tới rằng: Tiêu dùng bền vững đề cập đến một mức độ và mô hình tiêu dùng đáp ứng nhu cầu của hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng của các thế hệ tương lai để đáp ứng nhu cầu của chính họ. Tại Chương trình nghị sự 21 không đưa ra khái niệm cụ thể về tiêu dùng bền vững tuy nhiên trong chính sách có đề cập đến “nhu cầu về tài nguyên thiên nhiên” và “việc sử dụng hiệu quả những nguồn tài nguyên đó phù hợp với mục tiêu giảm thiểu sự cạn kiệt và giảm ô nhiễm”.
Tiếp nối đó, tại Hội thảo Tiêu dùng bền vững, Oslo, Nauy, 1994 đã đề cập đến khái niệm “Tiêu dùng bền vững” là việc sử dụng hàng hóa và dịch vụ đáp ứng các nhu cầu cơ bản và mang lại chất lượng cuộc sống tốt hơn, đồng thời với việc giảm thiểu sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các nguyên liệu độc hại và giảm phát thải các chất ô nhiễm trong toàn bộ vòng đời sản phẩm với mục tiêu không gây nguy hại cho các thế hệ tương lai. Đây là khái niệm được nhiều tổ chức, nhà nghiên cứu nhắc tới trong các công trình nghiên cứu về “tiêu dùng bền vững”. Ngoài ra, cũng có một số khái niệm khác về tiêu dùng bền vững được đề cập dưới đây: “Tiêu dùng bền vững” bao gồm một loạt các thay đổi trong hành vi, chẳng hạn như hiệu quả cao hơn trong việc tiêu thụ năng lượng và tài nguyên trong nhà, giảm thiểu chất thải và thói quen mua hàng thân thiện với môi trường hơn của các hộ gia đình (OECD, 2002) “Tiêu dùng bền vững” có nghĩa là tiêu thụ cân bằng giữa chi tiêu thời gian và tiền tệ, đồng thời đáp ứng nhu cầu cơ bản của cuộc sống và nhu cầu tương lai của các thế hệ (Robins & Roberts, 2006) Hành vi tiêu dùng bền vững là hành vi của người tiêu dùng nhằm cải thiện hiệu quả xã hội và môi trường cũng như đáp ứng nhu của họ (Belz, 2009). Trong giai đoạn đầu, các nghiên cứu đề cập tiêu dùng bền vững theo nghĩa hẹp chỉ gồm quá trình tiêu dùng đầu ra trong quá trình tiêu dùng: Tiêu dùng đầu vào Tiêu dùng chế biến Tiêu dùng đầu ra Hình 1: Quá trình tiêu dùng theo nghĩa hẹp 13 Tuy nhiên, gắn với “trách nhiệm đến cùng” của doanh nghiệp với ý nghĩa doanh nghiệp phải có trách nhiệm đối với sản phẩm của mình từ quá trình sản xuất đến tiêu thụ và xử lý chất thải do sản phẩm đó tạo ra, tiêu dùng bền vững được hiểu theo nghĩa rộng hơn, bao trùm toàn bộ quá trình sản xuất.
Theo đó, sản xuất là một quá trình của tiêu dùng theo sơ đồ sau: Tiêu dùng Tiêu dùng Tiêu dùng Tiêu dùng chất đầu vào chế biến đầu ra thải/ Tái sản xuất Hình 2: Quá trình tiêu dùng bền vững theo nghĩa rộng Như vậy, tiêu dùng bền vững còn hàm ý chú trọng đến việc tiêu dùng gắn liền với toàn bộ vòng đời của sản phẩm. Từ các khái niệm về tiêu dùng bền vững được các tổ chức và nhà nghiên cứu đưa ra dưới nhiều khía cạnh khác nhau như trên, nhóm em xin sử dụng khái niệm do Hội thảo Tiêu dùng bền vững 1994 tại Oslo, Nauy đưa ra trong nghiên cứu này: “Tiêu dùng bền vững” là việc sử dụng hàng hóa và dịch vụ đáp ứng các nhu cầu cơ bản và mang lại chất lượng cuộc sống tốt hơn, đồng thời với việc giảm thiểu sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các nguyên liệu độc hại và giảm phát thải các chất ô nhiễm trong toàn bộ vòng đời sản phẩm với mục tiêu không gây nguy hại cho các thế hệ tương lai. Khái niệm mặt hàng tiêu dùng nhanh Mặt hàng tiêu dùng nhanh (Fast Moving Consumer Goods – FMCG) không phải là mặt hàng quá xa lạ với con người trong cuộc sống hiện đại ngày nay. Đã có khá nhiều nghiên cứu về ngành hàng này được thực hiện và nhóm xin đưa ra một số khái niệm nổi bật từ những nghiên cứu đó.
Mặt hàng tiêu dùng nhanh là những sản phẩm được di chuyển ra khỏi các kệ của các cửa hàng bán lẻ một cách nhanh chóng, do đó đòi hỏi một sự bổ sung các sản phẩm tiếp theo liên tục. Hàng tiêu dùng nhanh bao gồm các sản phẩm tạp hóa,… được bán trong các siêu thị cũng như các băng, đĩa được bán ở các cửa hàng âm nhạc. Ngoài ra, trong Characterisation and Environmental Value Proposition of Reuse Models for Fast-Moving Consumer Goods: Reusable Packaging and Products, (Żaneta Muranko, Catriona Tassell, Anouk Zeeuw van der Laan, Marco 14 Aurisicchio, 2021) đã nhắc đến FMCG là các sản phẩm được mua và tiêu thụ đều đặn để đáp ứng nhu cầu liên tục của người tiêu dùng và chúng thường cung cấp dưới dạng sản phẩm dùng một lần. FMCG (ví dụ như thực phẩm và đồ uống) là những sản phẩm được mua nhiều lần, có tuổi thọ hữu ích ngắn và thường được thiết kế với bao bì thuận tiện nhằm đáp ứng nhu cầu tạm thời của khách hàng để sử dụng một lần và thải bỏ một lần.
Bocken, Alisa Harsch, Ilka Weissbrod, 2022; Anouk Zeeuw van der Laan và Marco Aurisicchio,2019) Các khái niệm về mặt hàng tiêu dùng nhanh được nhiều nhà nghiên cứu đưa ra khác nhau, tuy nhiên tất cả đều xoay quanh các đặc điểm dễ nhận thấy của mặt hàng này. Do đó, nhóm xin đưa ra khái niệm tổng hợp nhóm sẽ sử dụng trong nghiên cứu này: Mặt hàng tiêu dùng nhanh (FMCG) là các sản phẩm được sử dụng thường xuyên trong đời sống hàng ngày, được mua lại nhiều lần nhằm phục vụ nhu cầu tạm thời hoặc liên tục của con người. Chúng thường chỉ được sử dụng một lần và thải bỏ, do đo vòng đời sản phẩm ngắn. Trong một số trường hợp nhất định, mặt hàng tiêu dùng nhanh tương đương với hàng tiêu dùng thiết yếu.
Khái niệm chính sách tiêu dùng bền vững Trong luận án tiến sĩ Chính sách tiêu dùng xanh ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Gia Thọ đã đưa ra khái niệm “chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay các nhà quản lý đề ra để giải quyết vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình” và “Chính sách tiêu dùng xanh là tên gọi cho nhóm chính sách kinh tế cụ thể để tác động tới lợi ích và hành vi của người tiêu dùng nhằm khuyến khích, thúc đẩy tiêu dùng xanh, hạn chế và thu hẹp tiêu dùng “nâu” góp phần phát triển kinh tế xanh và thúc đẩy tiêu dùng bền vững”. Chính sách tiêu dùng bền vững là chính sách tác động đến cả phía cung và cầu tạo ảnh hưởng đến việc người tiêu dùng cảm nhận và suy nghĩ như thế nào và người tiêu dùng có thể làm gì từ đó thúc đẩy tiêu dùng bền vững. Chính sách tiêu dùng bền vững là việc sử dụng các công cụ kinh tế (thuế, phí môi trường, …), các công cụ quản lý (tiêu chuẩn sản phẩm, cấm sản phẩm,…), các công cụ xã hội (chiến dịch nâng cao nhận thức, chương trình giáo dục,…) nhằm thúc đẩy tiêu dùng bền vững (Adriana Zacarias Farah,2002). Và đây là khái niệm nhóm sẽ sử dụng trong bài nghiên cứu này.
Khái niệm công cụ kinh tế, công cụ quản lý & công cụ xã hội Các công cụ kinh tế (EI) là các khuyến khích và không khuyến khích tài chính và kinh tế khác để kết hợp chi phí và lợi ích môi trường vào ngân sách của hộ gia đình và 15 doanh nghiệp. Mục tiêu là khuyến khích sản xuất và tiêu dùng hiệu quả và hợp lý với môi trường thông qua định giá toàn bộ chi phí (OECD Glossary of statistical terms). Công cụ kinh tế (EI) để quản lý môi trường là các công cụ mục tiêu tác động đến việc ra quyết định sao cho các lựa chọn thay thế được lựa chọn dẫn đến tình huống mong muốn hơn về môi trường. Chúng "kinh tế" ở chỗ chúng ảnh hưởng đến các ước tính về chi phí và lợi ích của các hành động hoặc lựa chọn thay thế dành cho các tác nhân kinh tế.
Các EI mà các chính phủ đã sử dụng trên toàn thế giới để tác động đến hành vi tốt đối với môi trường theo truyền thống là các công cụ tài chính (thuế, trợ cấp, phí và lệ phí) nơi họ có quyền kiểm soát trực tiếp tỷ lệ thuế, trợ cấp hoặc phí cũng như quyết định cách chi tiêu của bất kỳ khoản thu nào được huy động (Kazoora, C. Công cụ kinh tế là các công cụ mà chính phủ và doanh nghiệp có thể sử dụng để ảnh hưởng đến hành vi kinh tế. Công cụ kinh tế bao gồm thuế, trợ cấp và quy định. Những công cụ này có thể được sử dụng để khuyến khích hoặc ngăn cản một số hoạt động nhất định như việc tiêu thụ một số sản phẩm hoặc sử dụng một số tài nguyên.
(Hari Srinivas, 2023) Từ các khái niệm tổng hợp về công cụ kinh tế ở trên, nhóm xin đưa ra khái niệm sử dụng trong nghiên cứu này: Công cụ kinh tế là các công cụ mà chính phủ và doanh nghiệp sử dụng để ảnh hưởng đến hành vi kinh tế. Công cụ kinh tế thường tác động đến chi phí và lợi ích thông qua thuế, phí, trợ cấp và quy định từ đó khuyến khích hoặc ngăn cản việc thực hiện một số hành vi nhất định. Các công cụ quản lý bao gồm tất cả các can thiệp chính trị quy định chính thức ảnh hưởng đến hành động kinh tế và xã hội thông qua các quy định ràng buộc. Gắn với phạm vi của tiêu dùng bền vững và chính sách tiêu dùng bền vững, các công cụ quản lý là khiến cho người tiêu dùng ý thức ảnh hưởng của sản phẩm tới sức khỏe và môi trường thông qua phương tiện như luật pháp về người tiêu dùng, luật pháp về tiêu dùng bền vững, tiêu chuẩn sản phẩm, cấm sản phẩm, kiểm soát ô nhiễm… (Adriana Zacarias Farah,2002).