CHƯƠNG 1.MỌT SÓ VAN DE LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUAT BẢO VỆ THÔNG TIN CÁ NHÂN CỦA NGƯỜI BỆNH TRONG SỎ SỨC KHỎE Y TẾ ĐIỆN TỪ. Khái quát về bảo vệ thông tin cá nhân của người bệnh trong sô sức khỏe y tế điện tử 1. Thông tin cá thầm của người bệnh: 1.1 Khai niém người bênh Khai niệm “người bénh” (hay “bệnh nhân”) đã xuất hiên từrât lâu và được nghiên cứu thâu đáo từ nhiều góc độ khác nhau, ở cả góc độ ngôn ngữ học, góc đô kinh tệ - xã hội và góc đô pháp ly. Khái niém “bệnh nhân” dưới phạm tro ngôn ngữ học được hiểu là “người ốm đau, trong quan hệ với thay thuốc, với bệnh viên "3N goài ra, theo từ điểm Cambridge, người bệnh (“patient”) được hiểu là một người đang được chăm sóc y tế, hoặc người được chăm sóc bởi một bác sĩ hoặc nha sĩ cụ thé khi cân thiết 3 Ở phạm trù kinh tê - xã hội, “bệnh nhân” là đối tương được nhận dich vụ chăm sóc sức khỏe.
Bệnh nhân phân lớn bị ôm, bị bệnh hoặc bị thương và cân được điều trị bởi bác Sf, y tá, nha tâm lý học, nha sĩ, bác sĩ thủ y hoặc nha cung cấp dich vụ chăm sóc sức khỏe khác. Định nghĩa “người bệnh” (hay “bệnh nhân”) tử xưa đến nay vẫn luôn được mắc định rằng “co van dé tiêu cực về sức khỏe”. Có quan điểm cho rang nên đính ngiữa lại "bệnh nhân", từ "bệnh nhân" thông thường hay goi lên hình ảnh vé sự chiu dung đau khổ, ho bị động khi ốm đau và cho phép bác sĩ (người hành nghệ y, người khám bệnh _) chăm sóc sức khỏe cho mình* Tuy nhiên, khái niém “người bệnh” cân được hiểu với phạm vi rồng hon là “người tiêu ding”. Bởi lễ, đưới góc độ kinh té - xã hôi, việc xem “người bệnh” là “khách hang” sẽ gop phân định hình lai hướng phát triển cho các cơ sở cung cập dich vụ y tế, thay đôi mô hình chăm sóc sức khỏe nhằm nâng cao trải nghiém cho người bệnh Kết quả khảo sát của Tạp chí “New England Jounal of Medicine Catalysis” (1/2019) về ý kiên của 766 chuyén gia y té có nên xem người bệnh là “khách hàng” như các ngành công nghiệp khác qua bai “Healthy Care Has a Lot to Learn from Consumer-Friendly Industries” cho thay, có dén 96% người tham gia đông ý và việc ngành y té nên hoc tập từ cách ngành công nghiệp có đôi mat với người tiêu ding và 71% đồng ý việc nên xem người bệnh là “khách hàng5.
Điêu này giúp cho người bệnh ? Hoàng Phê (2003), Tử điển Tiếng Việt,tr50. Š Cambridge Dictionury , https:Jidictionary cambridge org/dictionary english patient tray cập ngày 2/1/2023 3 Tam khảo thêm tai: haps /nvme ncbinkn nih govipmnc artic les/PMC1116090/ Š Sở Y tế Thành pho Ho Chi Minh (2019), Có nến: xem người bệnh là Wuach hing tay cập tr “trtpc./Enedst gov vz/quan-}y-chát- hương ham:chrta-berdco-ven-3zm-Trguoxbarit:la- khach:hang-so-V-tà- han-cmöbils§- 11664 aspx>, truy cập ngày 2/1/2023 7 có thé tham gia tích cực vào quá trình khám chữa bệnh. Dưới góc đô pháp lý, theo quy đính tại khoản 1 Điêu3 Luật Bảo vệ người tiêu dùng 2010 “người fiêu ding là người mua, sử dung hàng hóa, địch vu cho mục dich tiểu dimg sinh hoạt của ca nhân, gia đình, tô chức”. Có thé thay, cơ sé dé xác định tư cách người tiêu dùng bao gồm: @) Là cá nhân, gia đình hoặc tô chức (cá nhân, pháp nhân); (1) Sử dung hàng hóa, dich vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt cả nhân, gia định, tô chức.
Trong khi đó, khoản3 Điều2 Luật Khám, chữa bệnh năm 2009 định nghữa "Người bệnh là người sử dung dich vu khẩm bệnh, chữa bệnh”. Như vậy, quan. điểm của pháp luật Việt Nam cũng xem người bệnh là người tiêu dung. Họ là cá nhân tham gia sử dung các địch vụ khám bệnh, chữa bệnh với muc đích chăm sóc sức khỏe của chính minh.
Bên canh đó, người bệnh còn là đối tương yêu thé hơn rửa. thiêu thông tin về dich wy tê, khả năng hiểu biết về chuyên môn và khả năng chịu rủi ro phát sinh trong quá trình sử dụng dich vụ. Do đó, việc xác đính rõ nội hàm khái niém của người bệnh như trên sẽ gop phần dam bảo sự ưu tiên của người bệnh so với các chủ thé khác, là kim chỉ nam cho việc nghiên cứu các nôi khác trong pháp luật bảo vệ thông tin cá nhân của người bệnh. Từ những phân tích trên, có thé thay khái niệm “người bệnh” dưới góc đô pháp ly, cụ thể được quy định trong các luật chuyên ngành đã bao quát hơn khái niém “người bệnh” ở dưới góc đô ngôn ngữ và góc đô kinh tê - xã hội.
Bên canh đó, trong pham vi bai nghiên cứu nay, nhóm tác giả thông nhất sử dụng định ngiĩa “người bệnh” trong Luật Kham, chữa bệnh 2009 và xác định người bệnh là một bô phân của người tiêu dùng, 1. Khai niém thông tin cá nhân Thuật ngữ “thông tin cá nhân”, “dir liệu cá nhân” được ghi nhận và trở nên pho biển trong khoa học pháp lý từ vài thập nién gan đây, và được tiếp cân trên quan điểm là một van dé gắn liên với bao vệ quyên con người, cụ thé hơn là quyền riêng tư (rights to privacy). Theo quan điểm này, quyền riêng tư luôn gắn liên với chủ thể quyền là cá nhân Trong khi đó cá nhân lại là chủ thé sở hữu các thông tin thuộc về, liên quan dén chính các cá nhân đó. Do vậy, dé bão vệ quyên riêng tư thi phểi bảo vệ thông tin cá nhân.
Tức là, khái miệm “thông tin cá nhân” đã được thu hẹp hơn một mức là những thông tin của cá nhân liên quan đến quyên cơn người, cu thể hơn là sự riêng tư của cá nhânế, Dưới góc đô ngôn ngữ học, “thông tin” được hiểu là điều hoặc tin được truyền đi cho biết (information), “cá nhân” là một người riêng biệt hoặc liên quan, thuộc về một người cụ thể (personal). Theo đó, liễu đơn giản và theo nghĩa réng nhất, thông tin “ Cục Công nghệ thông tin - Bộ Ý tế, Khái niềm thông tin cá nhân ,betps://gosco TelcfopJAo, truy cập ngày 3/1/2033 § cá nhân (personal information) là những điều, tin tức liên quan, thuộc về một con người riêng biệt.” G các góc độ khác, theo nghĩa trừu tượng, mang tính triệt hoc, có thé hiểu thông tin cá nhân là su phản anh các yêu tô tự nhiên, x4 hội liên quan dén một cá nhân thông qua giác quan của con người. Gan với chủ thé thông tin, thông tin cá nhan được hiểu là thông tin thuộc sở hữu của “tôi”, về “tôi”, trực tiếp đến “tôi”, được gủi/đăng bởi “tôi”, là trải nghiêm của “tôi” và có liên quan dén “tôi”. Thông tin cá nhân cũng có thé được hiểu theo góc đô vật chat, kỹ thuật, 1a tat cả những gì (như những tin tức (news), đứ kiện (facts), đữ liệu (data)) thuộc về, liên quan đến một con người nhật đính, được cầu thành bởi hai yêu tô là nội dung thông tin (tin, dữ kiện, đữ liêu) và hình thức thông tin hay vật mang tin (văn bản, tài liệu, bản về, thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở đữ liệu.
Hf Dưới góc độ pháp lý, thông tin cá nhân được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau, tủy thuộc vào pháp luật mỗi quốc gia trên thé giới. Tại châu Âu, Hưởng dẫn bao vệ quyên riêng tư và dich chuyên đữ liệu cá nhân giữa các quốc gia (1980) của Tổ chức Hop tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và Hiệp ước bão vệ đữ liệu cá nhân liên quan đền xử lý tư động đữ liệu cá nhiên (1981) là những văn bản dau tiên đưa ra khái niệm “Dữ. liệu cá nhân” và gắn nó với bao vệ quyền riêng tư. V ới cách tiếp cân đó, đến nay, nhiéu van ban pháp lý của các tổ chức quốc tễ, các quốc gia đã đưa ra một số thuật ngữ tương.
Dién hình trong Quy định Chung về Bảo vệ Dữ liệu (General Data Protection Regulation - GDPR) của EU, “dir liệu cá nhân” được đính ngiữa là: “bất I> thong tin nào liên quan đến một thé nhân đã được xác đình hoặc có thé xác định được (chủ thé dit liệu); một thé nhân có thé nhân dang được là một người có thé được xác định trực tiếp hoặc giản tiếp, đặc biệt bằng cách tham chiéu đến một số nhân dang như tên, số nhận dang. dit liệu vi trí, số nhận dang trực ngyễn hoặc một hoặc nhiều yếu tế cụ thể về thé chất, sinh lý, bản sắc di truyền, tình than, linh tê, văn héa hoặc xã hội của thé nhân do"? Tại Hoa Ky, thuật ngữ Thông tin nhận dang cá nhân (personally identifiable information- PII) được sử dung phổ biên, đỏ là “bat kỳ thông tin nào, kế ed thông tin nhân khẩu hoe được thu thập từ một cả nhân, mà- (A) được tao ra hoặc nhận bởi nhà cung cấp dich vụ chăm sóc sức khỏe, người lao động hoặc trưng tâm thanh toán bù trừ chăm sóc sức khỏe; và (B) liên quan đến sức khỏe hoặc tình trạng thé chất hoặc tinh thần trong quá kine hiện tại hoặc tương lai của một ca nhân, việc củng cấp dich vu 7 Hoàng Phê(2003), Tử điễn Tiing Viết T6. Lê Mah Hong, TS. Đố Tiên Ding, (2019), Bản về khái niệm thông tin cá nhân,, Jiao mn vavchinh-sach---chien-hioc /oan-ve-Hhai-niem- thong tin-ca-nlun- 105424 truy cập ngày 2/1/2023 ° GDPR (Art 4.1) 9 chăm sóc sức khée cho một cá nhân hoặc khoản chi phú thanh toán trong qua khứ.
hiện tai hoặc tương lai cho việc cưng cấp địch vụ chăm sóc sức khỏe cho một cá nhân và - (i) xác đình cá nhân; hoặc (ti) đối với trường hợp có cơ sở hợp lý dé tin rằng thông tin có thé được sử dụng dé nhận dang cá nhân °°10 Tại Việt Nam, thuật ngữ “thông tin cá nhân” được giải thích lân đầu tiên trong Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của co quan nhà nước là “thông fin đt dé xác định chính xác danh tính một cá nhân, bao gồm it nhất nội dung trong những thông tin sau đây: họ tên ngàp sinh, nghề nghiệp, chức danh, dia chỉ liên hệ, dia chỉ thư điện từ, số điện thoại, số chứng minh nhân dén, số hộ chiễu Những thông tin thuộc bí mật cả nhân gồm cả hồ soy té, hồ sơ nộp thuê, số thé bảo hiém xã hồi, số thé tin dung và những bi mat ca nhân khác” Trong lĩnh vực thương mại điện tử, khoản 3 Điều 13 Nghị định s6 52/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định về thương mai điện tử quy đính “thông tin cá nhân” là: “các thống tin góp phần đình danh một cá nhân cu thể, bao gôm tên andi, dia chỉ nhà riêng.