ĐẶT VẤN ĐỀ Ngày nay, thuốc có nguồn gốc thảo dược nói chung và Y học cổ truyền nói riêng đã và đang được đẩy mạnh khai thác bởi những đặc tính vượt trội như hiệu quả và tính an toàn. Bên cạnh đó, các dược liệu cũng chính là nguồn nguyên liệu phong phú trong lĩnh vực bán tổng hợp các thuốc hóa dược bởi có những hợp chất tổng hợp hóa dược không làm được hoặc khó làm được, nhưng lại dễ dàng chiết xuất từ dược liệu, từ đó tiết kiệm được chi phí, thời gian và công sức trong quá trình nghiên cứu và phát triển thuốc mới. Chính vì vậy, việc triển khai mạnh mẽ nghiên cứu khoa học, ứng dụng kết quả nghiên cứu vào xây dựng nguồn nguyên liệu và hiện đại hóa y học cổ truyền là yêu cầu tất yếu trong tình hình hiện nay. Hồng rừng từ lâu đã được ứng dụng trong các bài thuốc cổ truyền với nhiều công dụng khác nhau được ghi nhận ở các quốc gia châu Á.
Lá của Hồng rừng là một loại thuốc cổ truyền của Trung Quốc, đã được sử dụng nhiều năm trong bài thuốc điều trị đột quỵ, thiếu máu cục bộ [11] và được sử dụng như một loại thuốc hạ áp trong y học cổ truyền Nhật Bản [23], [29]. Ở Việt Nam, cây Hồng rừng (Diospyros kaki Thunb. silvestris Makino) tồn tại và phát triển tự nhiên trên địa bàn Lào Cai, được tri thức bản địa dùng trong các bài thuốc chống viêm, hạ đường huyết. Các nghiên cứu về hóa thực vật của dược liệu này trên thế giới còn tương đối ít.
Vì vậy với mong muốn tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu thành phần hóa học và tạo tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo, khóa luận “Nghiên cứu chiết xuất, phân lập và xác định cấu trúc một số hợp chất từ cây Hồng rừng ( Diospyros kaki Thunb. silvestris Makino)” được thực hiện với mục tiêu: Chiết xuất cao toàn phần và cao các phân đoạn từ lá cây Hồng rừng. Phân lập và xác định cấu trúc 1 -2 hợp chất từ lá cây Hồng rừng. Tổng quan về chi Diospyros L.
Vị trí phân loại Theo hệ thống phân loại thực vật của Armen L. Takhtajan (2009) chi Diospyros L. có vị trí phân loại như sau [25]: Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) Lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) Phân lớp Sổ (Dillenianae) Liên bộ Đỗ quyên (Ericanae) Bộ Thị (Ebenales) Họ Thị (Ebenaceae) Chi Diospyros L. Đặc điểm thực vật của chi Dyospyros L.
Cây gỗ hoặc cây bụi, rụng lá hoặc thường xanh lá. Lá mọc so le, nguyên [2]. Thỉnh thoảng có các vết mờ rải rác hoặc có các vết rỗ lớn [22], [25]. Hoa thường đơn tính, khác gốc hoặc cùng gốc; hiếm khi lưỡng tính.
Hoa đực mọc thành xim ở nách lá; nhị từ 4 đến rất nhiều, thường kết hợp thành hai vòng xoắn. Hoa cái thường đơn độc, mọc ở nách lá; nhị lớp 1-16 hoặc không có; bầu thường có 2-6. Đài hoa thường có 3-7 thùy. Tràng hoa hình chum, hình chuông, hoặc hình ống, 3-7 thùy rụng sớm.
Quả thịt, mang đài to không rụng. Đa dạng và phân bố của chi Diospyros L. là chi lớn nhất trong họ Ebenaceae, có khoảng 500 loài, phân bố chủ yếu ở khu vực nhiệt đới (Ở Châu Á có tới 200 loài) và một số nơi thuộc khu vực ôn đới, trong đó đa dạng nhất là khu vực Đông Nam Á, chỉ có một số loài ở Tây Á, Nhật Bản và Đông Nam nước Mỹ [22]. Trung Quốc có 60 loài nhiều nhất ở Đông Nam và Tây Nam Trung Quốc [25].
Ở Việt Nam, chi Diospyros L. Trong 2 đó có 9 loài cho gỗ có giá trị sử dụng, hai loài có quả ăn được là Hồng (D. Thành phần hóa học của chi Dyospyros L. Chi Diospyros L được báo cáo là có khoảng 300 hợp chất thuộc các nhóm hợp chất hóa học khác nhau đã được phân lập và xác định cấu trúc.
Nhóm triterpen là nhóm phổ biến nhất được tìm thấy trong chi Diospyros L. bao gồm các chất đã được phân lập như: Peregrinol, taraxerol,.Các naphthoquinon phân bố và được tìm thấy tích lũy với số lượng đáng kể trong một số loài Diospyros L. Các flavonoid được phân lập từ chi Diospyros L cho đến nay tất cả đều thuộc về phân lớp 3,5,7-trihydroxyflavon [16]. Các hydrocarbon và chất béo: hexacosane, nonacosane, hentriacontane, tritriacontane, hexacontanol, hentriacontanol, acid heptacosanonic, acid lauric, acid myristic, acid palmitic, acid stearic, acid arachidic, acid hexanoic, n-triacosane, n- pentacosane, nonadecan-7-ol-2-one, 8-hydroxyctadec-10-enoic acid, 9-keto-cis-13- octadecenoic acid, acid malvalic, acid sterculic, acid oleic, acid linoleic.
Các amino acid: alanine, hydioxyproline, acid aspartic, L-citruline, cystine,. Các carotenoids: antheraxanthin, α-carotene; β, β’-carotene,. Các đường: D-lactose, sucrose, D-galactose, L-sorbose,. Các hợp chất khác: delphinidin, cyanidin, vitamin A, acid gallic, acid ascorbic, acid indole acetic, eugenol, p-cresol, methyl-4-pentenoate, 2-hexenal,.
Cấu trúc hóa học các nhóm hợp chất được phân lập từ các loài thuộc chi Diospyros L. Tác dụng sinh học của chi Diospyros L. Các bộ phận của chi Diospyros L. thuộc họ Ebenaceae trong kinh nghiệm của người dân đã được sử dụng làm thuốc chữa bệnh, bao gồm trị xuất huyết, tiểu không kiểm soát, mất ngủ, nấc cụt, tiêu chảy [11], [22]… Các hoạt tính sinh học của các loài thuộc chi này như chống oxy hóa, chống viêm, giảm đau, hạ sốt, trị đái tháo đường, kháng khuẩn, tẩy giun sán, hạ huyết áp.
đã được chứng minh bằng các phương pháp in vitro, in vivo và các thử nghiệm lâm sàng [19]. Một số nghiên cứu đã được công bố: Năm 2003, Trongsakul và cộng sự đã chứng minh cao chiết n-hexan của rễ từ loài Diospyros variegata Kruz ở liều 150mg/kg cho thấy tác dụng chống viêm trên mô hình gây viêm bằng ethyl phenylpropiolat (EPP) và gây phù nề trên chuột nhắt trắng do acid arachidonic (AA) kết quả cho thấy có tác dụng chống viêm đến 93% và chống phù nề đến 91% [27]. Năm 2014, Uddin và cộng sự đã chứng minh cao chiết chloroform, diospyrin, 8-hydroxyisodiospyrin của rễ Diospyros lotus L. có tác dụng chống viêm rõ rệt.
Chiết xuất chloroform (77,43%), diospyrin (80,54%) và 8-hydroxyisodiospyrin (75,87%) bảo vệ phù chân carrageenan sau giờ thứ 3 [28]. Tổng quan về loài Diospyros kaki 1. Đặc điểm thực vật của loài Diospyros kaki - Tên khoa học: Diospyros kaki Thunb. silvestris Makino - Chi Diospyros L.
Cây gỗ lớn cao 5 - 7m. Vỏ cây già có màu nâu đỏ, sần sùi, thi thoảng có đốm trắng; thân non màu xanh, phủ lông dày mịn màu trắng. Cuống phủ lông dày, ngắn, mịn, màu trắng. Phiến lá hình bầu dục, hoặc hình trứng, mặt dưới màu xanh nhạt, mặt trên màu xanh đậm, cả 2 mặt phủ lông dày đặc, mềm, màu trắng.
Gốc lá tròn, hình tim hoặc cụt; ngọn lá tròn, tù hoặc hơi nhọn; mép lá nguyên. Gân lá hình lông chim, gân chính nổi rõ ở mặt dưới, gân có mang lông dày đặc, mềm, màu trắng.Hoa mọc đơn độc ở nách lá, lưỡng tính hoặc đơn tính đực. Cuống dài 0,1- 0,3cm phủ lông dày, ngắn, mịn, màu trắng. Hoa lưỡng tính đều.
Đài 4 hàn liền ở gốc, phần trên chia làm 4 thùy hình bầu dục, màu xanh, mặt trong nhẵn, mặt ngoài phủ lông; thùy hình bầu dục, mép 4 thùy uốn cong ra phía ngoài; Tràng 4 hàn liền, phía trên chia làm 4 thùy hình bầu dục; màu trắng xanh, bên ngoài phủ lông, phía trên nhiều lông hơn ở gốc tràng. Nhị 8, rời, hình dải, màu xanh nhạt phủ lông dày đặc, mềm, màu trắng, bao phấn dài dọc theo chỉ nhị, nứt bên. Bầu hàn liền hình cầu dẹt, màu vàng nhạt; gốc bầu nhẵn, phía trên vòi nhụy 4 phủ lông dày đặc, mềm, màu trắng; mặt cắt ngang bầu có 8 ô mang 8 noãn. Hoa đơn tính đực đều.
Đài 4 hàn liền ở gốc, phần trên chia làm 4 thùy hình bầu dục, màu xanh, mặt trong nhẵn, mặt ngoài phủ lông; thùy hình bầu dục, mép thùy uốn cong ra phía ngoài; Tràng 4 hàn liền, phía trên chia làm 4 thùy hình bầu dục; màu trắng xanh, bên ngoài phủ lông, phía trên nhiều lông hơn ở gốc tràng; Nhị nhiều (19 nhị), rời, hình sợi, màu xanh nhạt mang các lông dày, mềm, màu trắng; bao phấn dài dọc theo chỉ nhị, nứt dọc.Quả đơn, hình cầu, màu xanh đường kính 3 - 5 cm, khi chín có màu vàng có 4 đài tồn tại. Hạt dẹt màu nâu đỏ, kích thước 1,2 cm × 2,0 cm [3]. Thành phần hóa học của loài Diospyros kaki Năm 1996, Paknikar và cộng sự đã phân lập được hai dẫn xuất 4-hydroxy-5- methylcoummarin từ rễ của Diospyros kaki Thunb. silvestris Makino [17]: (152) (153) Năm 2005, Wang Chen và cộng sự công bố một dẫn xuất biphenyl mới từ lá Diospyros kaki được đặt tên là kakispyrol (154) [9]: (154) 4’ ,5-dimethoxy-3- β -D-glucopyranosyloxy-4-hydroxy-biphenyl Đến năm 2007, Wang Chen và cộng sự phân lập thêm 2 hợp chất mới được đặt tên lần lượt là kakispyrone (155) và kakisaponin A (156) [8]: 5 (155) 4,6-dihydroxy-2-O-β-D- (156) kakisaponin A glucopyranosylbenzophenone Năm 2008 PGS.
Phương Thiện Thương và cộng sự đã phân lập được 2 triterpenoid loại ursane mới [26]: (157) 3α,19α -dihydroxyurs-12,20(30)- (158) 3α,19α -dihydroxyurs-12-en-24,28- dien-24,28-dioic acid dioic acid Năm 2019, Văn Thùy Linh đã phân lập được 4 hợp chất [3]: (159) Quercetin (160) Quercetrin (161) 4’-O-methyl myricetin (162) 3-O-β-arabinofuranosid-4’- methoxy myricetin 6 Năm 2021, Jaeyoung Kwon và cộng sự đã phân lập được trong lá loài Diospyros kaki từ phân đoạn ethyl acetate 1 flavonoid (163) và 1 hợp chất tự nhiên mới (164) [13]: R1 R2 (163) kaempferol-3-O-β-2”-coumaroylgalactosid β-OH H (164) kaempferol-3-O-β-D-2”-feruloylglucosid α-OH OCH3 Hình 1. Các hợp chất được phân lập từ loài Diospyros kaki 1. Tác dụng sinh học Lá hồng (Diospyros kaki Thunb.) thường được sử dụng như là một chất cầm máu. Năm 1956, trong báo cáo của Yamashita cho thấy dịch chiết lá hồng có tác dụng làm giảm chảy máu niêm mạc và ngăn ngừa loét đường tiêu hóa [29].
Năm 2019, Văn Thùy Linh đã đã sàng lọc được cao phân đoạn ethyl acetat của lá Diospyros kaki Thunb. silvestris Makino có hoạt tính chống oxy hóa mạnh nhất. Phân lập và thử hoạt tính 4 chất phân lập được từ cao phân đoạn ethyl acetate. Các chất phân lập được đều có tác dụng dọn gốc tự do DPPH [3].
Năm 2020, Direito và cộng sự đã nghiên cứu và chứng minh tác dụng chống viêm từ dịch chiết lá Diospyros kaki. Dịch chiết cho thấy tác dụng giảm mức độ viêm mãn tính và đặc tính tổn thương mô ở chuột [10]. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Nguyên vật liệu, thiết bị nghiên cứu 2.
Nguyên vật liệu nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là Lá của cây Hồng rừng thu hái vào tháng 7 năm 2021 tại Sapa, Lào Cai (vùng trồng cây Hồng rừng của ThS. Văn Thùy Linh đã nghiên cứu năm 2019). Mẫu được giám định tên khoa học là Diosspyros kaki Thunb.