CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm - Ký sinh trùng là một sinh vật sống trên hoặc trong một sinh vật chủ và lấy thức ăn từ vật chủ của nó. Có ba loại ký sinh trùng chính có thể gây bệnh ở người: động vật nguyên sinh, giun sán và ngoại ký sinh trùng [5]. - Vật chủ: là những sinh vật bị ký sinh, nghĩa là bị ký sinh trùng chiếm sinh chất.
Ví dụ: người bị nhiễm giun móc/mỏ [6]. - Bệnh sán lá gan nhỏ là nhiễm trùng do Clonorchis sinensis. Nhiễm trùng là do ăn cá nước ngọt chưa nấu chín. - Bạch cầu là các tế bào thiếu huyết sắc tố có nhân ở máu ngoại vi, có chức năng bảo vệ cơ thể, chống lại tác nhân gây bệnh [9].
- Tiểu cầu: là những mảnh tế bào không có nhân trong hệ tuần hoàn có chức năng quan trọng trong hệ đông máu [10]. - Thiếu máu được định nghĩa là tình trạng nồng độ huyết sắc tố giảm xuống dưới mức giới hạn cụ thể; mức giới hạn đó phụ thuộc vào độ tuổi, giới tính, tình trạng sinh lý, thói quen hút thuốc và độ cao mà dân số được đánh giá đang sống. WHO định nghĩa thiếu máu ở trẻ em dưới 5 tuổi và phụ nữ mang thai khi nồng độ huyết sắc tố <110 g/L ở mực nước biển và thiếu máu ở phụ nữ không mang thai khi nồng độ huyết sắc tố <120 g/L [11]. Tổng quan một số bệnh ký sinh trùng 1.
Giun móc/mỏ (Ancylostomiasis) Giun móc/mỏ là loại giun hình ống ký sinh ở ruột non người gây thiếu máu. Đa số thường gặp ở những vùng có khí hậu nóng ẩm (ví dụ như Việt Nam). Nếu phân theo hình thái học ở giai đoạn trưởng thành thì có hai loại giun móc Ancylostoma duodenale và Necator americanus nhưng trứng và ấu trùng của chúng thì rất giống nhau. Ở Việt Nam bệnh giun móc đứng thứ hai sau bệnh giun đũa, với tỷ lệ từ 3-80% tuy theo tính chất nghề nghiệp, tập quán canh tác, điều 3 kiện vệ sinh và tính chất thổ nhưỡng của từng vùng [6].
Riêng ở miền Trung tỷ lệ nhiễm giun móc khá cao do việc sử dụng hố xí không đủ, không hợp vệ sinh, tập quán đi ngoài ra các bãi biển, bãi cát đã tăng thêm sự lây nhiễm của ấu trùng giun móc. Tỷ lệ nhiễm giun móc thường từ 20-55% [12].1 Chu trình phát triển (vòng đời).1: Chu trình phát triển của giun móc [13] 1.2 Khả năng gây bệnh. (a) Giai đoạn ấu trùng - Gây viêm da tại chỗ nơi ấu trùng xâm nhập hoặc viêm phổi dị ứng khi ấu trùng qua phổi. (b) Giai đoạn trưởng thành - Giun móc trưởng thành sống trong niêm mạc ruột non.
Chúng gắn vào nhung mao và dùng miệng cắn để hút máu. Chúng có thể tiết ra chất chống đông để giữ cho dòng máu chảy liên tục tại vị trí cắn. Mỗi ngày giun móc hút khoảng 0,04-0,16 ml máu, lâu ngày có thể dẫn đến tình trạng thiếu máu trầm trọng với các 4 biểu hiện như: tăng nhịp tim, chóng mặt, hoa mắt, người xanh xao, da niêm mạc nhợt. - Gây kích thích: do những chất tiết hoặc hoạt động của giun lên thành ruột non gây những kích thích hóa học hoặc cơ học làm cho thành ruột bị tổn thương, gây buồn nôn, nôn, đau bụng, đi ngoài phân lỏng, đi ngoài ra máu.
- Tổn thương tại thành ruột: thành ruột bị viêm, chảy máu, có những nốt sùi và sẹo. - Viêm loét hành tá tràng. - Phụ nữ bị nhiễm giun móc có thể gây rối loạn kinh nguyệt; trẻ em thì chậm lớn, còi cọc, giảm thị lực, hay quên lâu ngày có thể dẫn đến suy dinh dưỡng thậm chí phù toàn thân [13,14]. Giun đũa chó/mèo.
(Toxocara spp) Với điều kiện khí hậu nhiệt đới ở Việt Nam thì các bệnh ký sinh trùng đặc biệt là ký sinh trùng gây bệnh đường tiêu hóa là rất phổ biến. Theo điều tra khảo sát tình hình nhiễm ấu trùng giun đũa chó ở xã Thạch Tân, thị xã Tây Ninh nắm 2009 cho thấy tỷ lệ huyết thanh dương tính với Toxocara canis là 20,6% điều tra tại 2 xã Chư Pả và H‘Bông, tỉnh Gia Lai cho thấy tỷ lệ nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo là 50% [15–17].1 Chu trình phát triển Giun sẽ đẻ trứng, trứng theo phân phát tán ra ngoài môi trường. sau 1-2 tuần trứng sẽ trở thành phôi. Đây là giai đoạn có thể gây bệnh cho người nếu nuốt phải trứng.
Sau khi nuốt phải trứng, ấu trùng sẽ được phóng thích, đi xuyên qua thành ruột và theo đường máu di chuyển đến gan, phổi, hệ thần kinh trung ương. Tại đây các ấu trùng có thể sống sót trong cơ thể người nhiều tháng và sau đó bị phản ứng viêm của cơ thể tiêu diệt các ấu trùng di chuyển hoặc khiến chúng ngưng phát triển, nhưng chỉ sau khi các ấu trùng này đã gây tổn thương tại các mô.2 Khả năng gây bệnh 5 Ở ký chủ vĩnh viễn (chó/mèo nhà), giun trưởng thành sống ở ruột non. Tuy nhiên người bệnh khi nuốt phải trứng giun đũa chó/mèo đã thành phôi, các ấu trùng nở ra không thể phát triển thành giun trưởng thành được mà sẽ chu du trong cơ thể người vài tháng đến vài năm. Các ấu trùng này sẽ làm tổn thương những cơ quan mà chúng đến, gây nên bệnh giun đũa chó/mèo ở người.
Mức độ tổn thương của cơ thể tùy thuộc vào số lượng ấu trùng cũng như cơ quan mà chúng xâm lấn: gan, phổi, hệ thần kinh trung ương, mắt … Có thể chia bệnh giun đũa chó/mèo thành hai thể lâm sàng chính: [18] - Thể ấu trùng di chuyển nội tạng (visceral larva migrans – VLM), chủ yếu gặp ở trẻ < 5 tuổi với các triệu chứng: sốt, gan to và bị hoại tử, lách to, triệu chứng hô hấp giống như hen suyễn, bạch cầu ái toan tăng (tỷ lệ có thể đến 70%), các globulin miễn dịch IgM, IgG và IgE trong máu tăng. Ngoài ra có thể gặp viêm cơ tim, viêm thận, hệ thần kinh trung ương bị thương tổn với các triệu chứng co giật, triệu chứng tâm thần kinh hay bệnh lý ở não. - Thể ấu trùng di chuyển ở mắt (ocular larva migrans – OLM), gặp ở trẻ từ 5 đến 10 tuổi với triệu chứng giảm thị lực một bên mắt với đôi khi bị lé mắt. Mức độ suy giảm thị lực tuỳ thuộc vào vùng bị thương tổn (võng mạc, điểm vàng), có thể dẫn đến mù loà [19,20].3 Chẩn đoán Một số tác giả đã tìm cách định nghĩa ca bệnh giun đũa chó, mèo.
Năm 1979, Glickman và cs. đề xuất các tiêu chuẩn sau: 1. Số lượng bạch cầu > 10. Bạch cầu ái toan > 10% tổng số bạch cầu, 3.
Hiệu giá anti-A isohemagglutinin >400, 4. Hiệu giá anti-B isohemagglutinin > 200, 5. Nồng độ IgG và IgM tăng, 6. Gan to 6 Nếu hội đủ 3 tiêu chuẩn trên trở lên thì là mắc bệnh giun đũa chó, mèo [18,20].1 Chu trình phát triển Giun lươn gồm có chu kỳ ký sinh và chu kỳ tự do.
Ở chu kỳ ký sinh, giun ký sinh trong niêm mạc ruột. Trứng được đẻ và nở ngay trong ruột. Ấu trùng nở ra theo phân ra ngoài ngoại cảnh. Người bị nhiễm ấu trùng qua da sau đó chúng vào máu, qua tim, phổi, lên khí quản tới hầu, sang thực quản, xuống ruột để phát triển thành giun lươn trưởng thành và ký sinh tại đó.
Chu kỳ tự do của giun lươn là ấu trùng giun lươn phát triển thành giun trưởng thành tiếp tục một chu kỳ mới nhờ các chất dinh dưỡng từ vi khuẩn và các chất hữu cơ trong đất. Tuổi thọ giun lươn thường rất ngắn [13].4: Chu kỳ phát triển của giun lươn [13] (1) Ấu trùng giun lươn nở trong lòng ruột. (2) Giun lươn trưởng thành sống tự do 7 (3) Giun lươn cái đẻ trứng (4) Trứng nở ra ấu trùng (5) Ấu trùng giai đoạn I (dạng phình) (6) Ấu trùng giai đoạn II (hình chỉ) (7) Ấu trùng theo máu lên tim, phổi, họng, xuống ruột nở ra giun lươn trưởng thành (8) Giun lươn cái ở ruột non (9) Trứng giun lươn (10) Ấu trùng giun lươn gây tự nhiễm cho người 1.2 Khả năng gây bệnh Giun lươn có thể coi là một tác nhân cơ hội. Đa phần ở người bình thường nhiễm giun lươn thường không có biểu hiện lâm sàng rõ rệt.
Còn đôi khi với những người suy giảm miễn dịch hoặc điều trị corticoid dài ngày có thể gây nên hậu quả hết sức trầm trọng. Bệnh giun lươn được chia làm 2 loại chính: bệnh mạn tính không biến chứng (gặp ở cá thể bình thường, không suy giảm miễn dịch); bệnh nặng, có biến chứng (thường gặp ở cá thể suy giảm miễn dịch). Khi ký sinh tại ruột, giun lươn có thể gây tổn thương niêm mạc ruột, tá tràng làm rối loạn tiêu hóa hoặc gây tình trạng viêm ruột mạn tính, có thể gây viên tá tràng hoặc lỵ. Bạch cầu ái toan tăng cao.
Bất thường giun lươn lên phổi gây viêm phổi. Giun lươn có thể gây dị ứng nghiêm trọng.1 Chu trình phát triển Trong nước, trứng nở ra ấu trùng lông và xâm nhập vào ký chủ trung gian thích hợp, sau phân chia nhiều lần thành bào tử nang và redia, ấu trùng đuôi rời khỏi cơ thể ốc và bơi tự do trong nước. Ấu trùng đuôi bám vào thực vật thủy sinh thích hợp và phát triển thành nang ấu trùng. Khi người ăn phải thực vật thủy sinh có nang ấu trùng của sán lá, ấu trùng xuất nang ở tá tràng.
Ấu trùng di chuyển qua thành ruột non và qua xoang phúc mạc, ở đó chúng xâm nhập vào nang gan và di 8 chuyển hết sức chậm rãi đến ống gan lớn. Thời gian tiềm ẩn mất khoảng 3 - 4 tháng, sán trưởng thành có thể sống 10 năm.5: Chu kỳ phát triển của sán lá gan lớn [6] (1) Trứng từ đường mật được đào thải ra ngoài theo phân. (2) Trứng rơi xuống môi trường nước. (3) Ấu trùng lông (miracidium) nở ra từ trứng.
(4) Ốc trung gian truyền bệnh và ấu trùng sán phát triển trong ốc. (5) Cercaria rời khỏi ốc bơi trong nước. (6) Metacercaria trong thực vật thủy sinh (7) Động vật ăn cỏ hoặc người ăn phải ấu trùng sán từ thực vật thủy sinh hoặc nước lã, ấu trùng vào dạ dày, xuyên qua thành ống tiêu hóa và ổ bụng rồi xuyên lên gan ký sinh trong đường mật.2 Khả năng gây bệnh Sán lá gan lớn ký sinh trong đường mật và phá hủy tổ chức gan gây nên những tổn thương với tổ chức hoại tử không đồng nhất, dễ nhầm với u gan và áp xe gan. Gan luôn luôn to với mặt ngoài nhẵn hoặc gồ ghề.
Nói chung đường mật luôn luôn bị dãn và phồng lên thành dầy. Niêm mạc túi mật xuất hiện nhú. Thành túi mật dầy đến tận lớp cơ và xơ lan tỏa.