Chương 1 TỔNG QUAN 1. Tình hình tai nạn giao thông trên thế giới và Việt nam 1. Trên thế giới Trong 100 năm hình thành và phát triển ngành sản xuất xe hơi (1896 - 1996) đã có hơn 30 triệu người trên thế giới thiệt mạng vì tai nạn ôtô, hiện nay TNGT trở nên hết sức nghiêm trọng đối với nhiều quốc gia, chủ yếu ở những nước đang phát triển với 85% số người chết, 90% số người bị thương và 96% số trẻ em bị chết mỗi năm do TNGT [23,24]. Tây Thái Bình Dương và Đông Nam Á là hai khu vực có số người chết do TNGT cao nhất thế giới với trung bình hàng năm ở mỗi nơi có trên 300.000 người thiệt mạng, chiếm hơn 50% tổng số người chết vì TNGT trên toàn thế giới [134].
Theo số liệu thống kê năm 2002 của Tổ chức y tế thế giới (WHO) và ngân hàng thế giới (WB), tỷ lệ tử vong do TNGT cao nhất là 28,3 ở châu Phi (tính trên 100.000 dân), các nước phía đông Địa Trung Hải là 26,4, khu vực Đông Nam Á 19,0, các nước có thu nhập cao tại châu Âu là 11. Trung bình cứ 1 người chết vì TNGT thì có 15 người bị thương nặng cần phải điều trị tại các cơ sở y tế và 70 người bị thương nhẹ [101]. Mỗi ngày trên thế giới có hơn 1000 người dưới 25 tuổi thiệt mạng vì TNGT, là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho thanh thiếu niên trong độ tuổi 15-19, trong đó nạn nhân chủ yếu là người đi bộ, xe đạp và xe máy ở các nước châu Phi, ven Địa Trung Hải và Đông nam Á [102]. Tại Mỹ, trong năm 2004 số người 4 chết và bị thương do TNGT trong độ tuổi từ 16-20 chiếm tỷ lệ cao nhất, lứa tuổi 5-9 có tỷ lệ tử vong thấp nhất, trẻ dưới 5 tuổi ít bị thương nhất [134].
Năm 2002 nạn nhân nam giới chiếm 73% tổng số nạn nhân tử vong do TNGT trên toàn thế giới, số nạn nhân nam giới tử vong hàng ngày do TNGT ở châu Á và châu Phi cao nhất thế giới. Năm 2004 tỷ lệ tử vong của nam giới ở Mỹ là 26,7 và 8,4 với nữ giới là (tính trên 100. Thiệt hại kinh tế do TNGT trên thế giới khoảng 518 tỷ đôla/năm, chiếm khoảng 1% GNP với những nước có thu nhập thấp, 1,5% GNP ở các nước có mức thu nhập trung bình và 2% GNP với các nước có thu nhập cao. TNGT còn tác động trực tiếp tới lực lượng lao động chính ở các nước đang phát triển.
Năm 1998 có 51% số người thiệt mạng và 59% số người tàn tật do TNGT là lao động chính trong mỗi gia đình và xã hội [102]. Theo Siegel [72] thiệt hại kinh tế do TNGT gây ra tại nước Mỹ trong năm 2002 chiếm 2,3% tổng ngân sách, tương đương 230 tỷ đôla. Mặc dù TNGT đã gây ra những tổn thất rất lớn cho mỗi gia đình và xã hội, nhưng ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt ở những nước có thu nhập trung bình và thấp, hoạt động nhằm làm giảm thiểu TNGT như giáo dục ý thức chấp hành luật lệ giao thông, cải tạo hệ thống đường giao thông, xử phạt người vi phạm, cấp cứu người bị nạn…cũng như chi phí cho nghiên cứu về ATGT còn ở mức rất thấp so với chi phí cho chăm sóc sức khoẻ cộng đồng. Ước tính thiệt hại kinh tế do TNGT gây ra với các nước có thu nhập trung bình và thấp mỗi năm khoảng 100 tỷ USD, vượt xa mức viện trợ hàng năm mà những nước này nhận được [102].
Trong khi đó, tại nước Anh, chi phí nghiên cứu phòng chống TNGT cho một trường hợp tử vong tương đương 1.910 bảng Anh, chi phí cho một nạn nhân bị thương tích nặng là 174. Năm 2002, chi phí cho TNGT tại nước Anh 5 là 18 tỷ bảng trong đó 13 tỷ bồi thường cho nạn nhân và 5 tỷ đền bù các phương tiện giao thông bị hư hỏng [92]. Trước những diễn biến phức tạp về TNGT nên ngay từ năm 1962 và liên tục cho đến nay, WHO đã tổ chức nhiều cuộc vận động về ATGT trên khắp thế giới. Năm 1974 dự luật WHA27.59 được thông qua nhằm tuyên bố tình trạng nghiêm trọng về TNGT và kêu gọi các quốc gia là thành viên cùng tham gia để giải quyết vấn đề.
WHO cũng quyết định ngày 7 tháng 4 hàng năm, kể từ năm 2004 là ngày ATGT trên toàn thế giới [102]. Mặc dù đã có nhiều biện pháp làm giảm thiểu TNGT, nhưng số vụ tai nạn vẫn tiếp tục tăng nhanh trên phạm vị toàn cầu, đặc biệt với các nước có thu nhập trung bình và thấp, vì vậy trong năm 2007, WHO đã phát động tuần lễ ATGT được tổ chức từ ngày 23/4 đến 29/4 trên toàn cầu nhằm đạt được sự quan tâm đúng mức từ chính phủ, các cơ quan chức năng cho đến mỗi người dân về thực trạng TNGT, trong đó vai trò chức năng chính thuộc về Bộ giao thông vận tải và Bộ Y tế của các quốc gia trên thế giới (UBATGTQG 2007) 1. Tại Việt Nam Với hệ thống giao thông đường bộ có chiều dài hơn 2 triệu km nhưng phần lớn không đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng, chưa đáp ứng được nhu cầu giao thông trong thời kỳ phát triển kinh tế với số lượng các phương tiện giao thông cơ giới ngày càng gia tăng [78]. Theo số liệu của Uỷ ban an toàn giao thông quốc gia (UBATGTQG), năm 2001 cả nước có hơn 8 triệu xe máy đến cuối năm 2006 đã có 18,4 triệu xe máy được đăng ký trên toàn quốc, được đánh giá là quốc gia có tỷ lệ xe máy/người dân cao nhất thế giới ( Báo cáo tại hội nghị APEC 5/2006) Số lượng xe máy tăng nhanh được xem là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm TNGT ở Việt Nam tăng lên đáng kể những năm gần đây, trong 10 năm 6 1989-1998 có 130.820 vụ TNGT làm chết 43.675 người và 137.280 người bị thương, năm 1998 số vụ TNGT và số người thiệt mạng vì tai nạn TNGT tăng gấp 3 lần so với năm 1989.
Năm 2001, số nạn nhân tử vong tăng gấp 5 lần so với năm 1990, năm 2006 cả nước có 14.161 vụ TNGT làm chết 12.373 người, tăng 10,7% so với năm 2005 ( số liệu của UBATGTQG 2005-2006). Theo số liệu của một công trình nghiên cứu về tai nạn giao thông tại Việt Nam của trường đại học Massachusetts ( Mỹ) trong năm 2002, tỷ lệ tử vong do TNGT ở Việt Nam là 26,7/100.000 dân, trung bình mỗi ngày có 58 người chết vì TNGT, số người bị thương tật vĩnh viễn gấp 2-3 lần số tử vong[78]. TNGT cũng là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em bằng hoặc lớn hơn 15 tuổi với số lượng trung bình hàng năm là 4750 nạn nhân ( 13 nạn nhân /ngày) và 275.000 nạn nhân bị thương tích ( 750/ngày). Trẻ em không những là nạn nhân trực tiếp phải gánh chịu thương tích do TNGT mà còn là những nạn nhân gián tiếp khi cha mẹ của các em bị chết, bị thương trong các vụ TNGT.
Thiệt hại kinh tế do TNGT ở Việt Nam trong năm 2003-2004 là 900 triệu USD [78]. Nghiên cứu CTN do TNGT trên thế giới và Việt Nam 1. Trên thế giới Trong thời kỳ từ 3000-1600 năm trước công nguyên, ở Ai Cập cổ đại đã có tài liệu y học ghi trên giấy cói về cách chữa trị bệnh nhân bị CTN. Tại Trung Quốc, thời Chiến Quốc (475-221 trước Công nguyên), sách “Lễ ký” và “Lã Thị Xuân Thu” đã ghi: “ mệnh lý chiêm thương, sát sáng, thị tích, thẩm đoán, quyết ngục tụng, tất đoan bình”, có nghĩa là “Lý giải về mạng người, quan sát thương tích, phân tích vết thương, thẩm tra phán đoán để định tội tất sẽ công bằng”.
Thời nhà Tần (220 năm trước Công nguyên) đã có nhiều văn bản viết trên thẻ tre liên quan đến y pháp, trong đó có nội dung “phong chẩn thức” qui định người gây ra 7 những vết thương nặng nhẹ khác nhau sẽ phải chọn những hình phạt nặng nhẹ khác nhau [2]. Khoảng đầu thế kỷ thứ V sau Công nguyên, người Đức là dân tộc đầu tiên thời bấy giờ đề ra việc giám định thương tích để xác minh hung khí, thầy thuốc phải gửi văn bản giám định cho tòa án. Tại Pháp, dưới thời Vua Hăng-ri đệ tứ luật pháp qui định các bác sĩ, nội, ngoại, sản sau khi được trưng dụng giám định những trường hợp chết do thương tích hoặc thai nghén đều phải làm nhân chứng tại tòa án [2]. Mặc dù tài liệu về CTN và cách chữa trị đã có từ thời Hyppocrates, nhưng phải đến năm 1764 tổn thương đụng dập cơ tim mới được Akenside mô tả, sau đó John Hunter (1794) mô tả chi tiết tổn thương tràn máu màng phổi (TMMP) và cách thức điều trị [85].
Năm 1826 Berart [52] mô tả tổn thương vỡ tim ở nạn nhân bị CTN do ngã từ cao, đến năm 1897 Rehn là người đầu tiên trên thế giới điều trị thành công một nạn nhân bị vết thương tim. Cũng trong thời gian này đã hình thành cách phân loại chấn thương ngực do vật nhọn và chấn thương ngực do vật tày [66]. Trước thế kỷ 20, nạn nhân bị CTN chủ yếu là những người lính trong chiến tranh, một số ít nạn nhân trong các vụ án mạng, rất hiếm gặp CTN do TNGT. Đến những năm giữa thập kỷ 50 và 60 của thế kỷ 20, với sự ra đời của các loại xe ôtô tốc độ cao và hình thành hệ thống đường cao tốc ở những nước công nghiệp phát triển đã làm số vụ TNGT tăng nhanh trong đó số nạn nhân bị CTN tăng lên đáng kể [95].
Năm 1956, trong cuốn sách giáo khoa “Thực hành giám định Y Pháp ” lần đầu tiên Camps mô tả các pha va chạm trong TNGT và đặc điểm tổn thương tương ứng với từng pha va chạm ở nạn nhân là lái xe, hành khách hoặc người đi bộ. 8 Tác giả đã nêu và sơ đồ hoá cơ chế CTN của người lái xe khi va đập trực tiếp vào vô lăng [38]. Năm 1958, Parmley và cộng sự thực hiện đề tài “ Nghiên cứu đặc điểm tổn thương qua khám nghiệm tử thi 546 nạn nhân bị vỡ tim do vật tày” được ghi nhận là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên về tổn thương tim và mạch máu lớn trong CTN do vật tày. Tác giả kết luận 7 yếu tố có thể gây tổn thương tim là : (a) do tác động trực tiếp, (b) do tác động gián tiếp, (c) do tác động từ hai bên thành ngực, (d) do bị đè ép hoặc sóng nổ, (e) do chấn động và (f) tổng hợp của các yếu tố trên [97].