Ký Sinh Trùng: Giun Sán và Những Điều Cần Biết

Tài liệu nghiên cứu Ký sinh trùng bài 3 giun sán, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về ., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Trường đại học

Đại học Y Khoa Hà Nội

Chuyên ngành

Ký sinh trùng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

tài liệu tham khảo

1991

198
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG I: ĐẠI CƯƠNG VỀ KÝ SINH TRÙNG

2. CHƯƠNG II: ĐƠN BÀO

3. CHƯƠNG III: GIUN SÁN

3.1. Đặc điểm của bệnh giun sán

3.2. Phân loại giun sán

3.2.1. Lớp có vỏ cứng

3.2.2. GIUN Nematoda

3.2.2.1. Đại cương
3.2.2.2. Hình dạng bên ngoài
3.2.2.3. Hình dạng bên trong
3.2.2.4. Cơ quan tiêu hoá
3.2.2.5. Cơ quan bài tiết
3.2.2.6. Cơ quan thần kinh
3.2.2.7. Cơ quan sinh dục
3.2.2.8. Sinh thái của giun
3.2.2.9. Phân loại theo nơi ký sinh

3.3. GIUN ĐŨA (Ascaris lumbricoides)

3.3.1. Đại cương

3.3.2. Sinh học

3.3.3. Dịch tễ học

3.3.4. Triệu chứng bệnh

3.3.5. Dự phòng

3.4. GIUN KIM (Enterobius vermicularis)

3.4.1. Hình thể

3.4.2. Sinh học

3.4.3. Dịch tễ học

3.4.4. Bệnh học

3.4.5. Lâm sàng

3.4.6. Cận lâm sàng

3.4.7. Phương pháp Graham

3.4.8. Dự phòng

3.5. GIUN MÓC (Ancylostoma duodenale - Necator americanus)

3.5.1. Đại cương

3.5.2. Hình thể

3.5.3. Chu trình phát triển

3.5.4. Dịch tễ học

3.5.5. Triệu chứng bệnh

4. CHƯƠNG IV: VI NẤM

Tóm tắt

I. Tìm Hiểu Về Bệnh Giun Sán Nguyên Nhân và Triệu Chứng

Bệnh giun sán là một trong những vấn đề sức khỏe phổ biến ở Việt Nam. Nguyên nhân chính của bệnh này thường liên quan đến vệ sinh kém và thói quen ăn uống không an toàn. Các loại giun sán như giun đũa, giun kim, và giun móc thường gặp ở cả trẻ em và người lớn. Triệu chứng của bệnh giun sán rất đa dạng, từ rối loạn tiêu hóa đến các vấn đề nghiêm trọng hơn như thiếu máu và rối loạn thần kinh.

1.1. Nguyên Nhân Gây Ra Bệnh Giun Sán

Nguyên nhân chính gây ra bệnh giun sán bao gồm việc sử dụng thực phẩm không an toàn, như rau sống tưới bằng phân chưa ủ. Ngoài ra, thói quen vệ sinh kém cũng là yếu tố quan trọng. Tỷ lệ nhiễm bệnh cao ở những vùng nông thôn, nơi mà ý thức về vệ sinh công cộng chưa cao.

1.2. Triệu Chứng Bệnh Giun Sán Thường Gặp

Triệu chứng của bệnh giun sán rất phong phú. Người bệnh có thể gặp phải các vấn đề như tiêu chảy, táo bón, đau bụng, và thậm chí là nôn ra giun. Ở trẻ em, bệnh có thể gây ra rối loạn thần kinh, như co giật và cáu gắt.

II. Phương Pháp Chẩn Đoán Bệnh Giun Sán Hiệu Quả

Chẩn đoán bệnh giun sán thường được thực hiện qua hai phương pháp chính: chẩn đoán lâm sàng và xét nghiệm. Chẩn đoán lâm sàng có thể không chính xác do triệu chứng không rõ ràng. Do đó, xét nghiệm phân và nước tiểu là cần thiết để xác định sự hiện diện của giun sán.

2.1. Chẩn Đoán Lâm Sàng Bệnh Giun Sán

Chẩn đoán lâm sàng thường dựa vào các triệu chứng như đau bụng và rối loạn tiêu hóa. Tuy nhiên, triệu chứng này có thể dễ nhầm lẫn với các bệnh khác, do đó cần phải thận trọng.

2.2. Xét Nghiệm Phân và Nước Tiểu

Xét nghiệm phân là phương pháp chính để phát hiện trứng giun. Ngoài ra, xét nghiệm nước tiểu cũng có thể được thực hiện để phát hiện sán máng. Việc xét nghiệm nhiều lần là cần thiết vì giun sán có thời kỳ không đẻ trứng.

III. Cách Điều Trị Bệnh Giun Sán Hiệu Quả Nhất

Điều trị bệnh giun sán thường bao gồm việc sử dụng thuốc tẩy giun. Các loại thuốc như Albendazole và Mebendazole được sử dụng phổ biến. Ngoài ra, việc cải thiện vệ sinh cá nhân và môi trường cũng rất quan trọng trong việc ngăn ngừa tái nhiễm.

3.1. Các Loại Thuốc Tẩy Giun Thường Dùng

Thuốc tẩy giun như Albendazole và Mebendazole có tác dụng hiệu quả trong việc tiêu diệt giun sán. Việc sử dụng thuốc cần tuân theo chỉ định của bác sĩ để đảm bảo an toàn và hiệu quả.

3.2. Biện Pháp Phòng Ngừa Bệnh Giun Sán

Để phòng ngừa bệnh giun sán, cần thực hiện các biện pháp như rửa tay thường xuyên, không ăn rau sống và không sử dụng phân chưa ủ để bón rau. Vệ sinh môi trường sống cũng rất quan trọng.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn và Kết Quả Nghiên Cứu Về Bệnh Giun Sán

Nghiên cứu về bệnh giun sán đã chỉ ra rằng việc nâng cao nhận thức cộng đồng về vệ sinh và an toàn thực phẩm có thể giảm tỷ lệ mắc bệnh. Các chương trình giáo dục sức khỏe cần được triển khai rộng rãi để nâng cao ý thức của người dân.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Về Tình Hình Bệnh Giun Sán

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm bệnh giun sán ở trẻ em cao hơn so với người lớn. Các biện pháp can thiệp sớm có thể giúp giảm thiểu tình trạng này.

4.2. Ứng Dụng Các Chương Trình Giáo Dục Sức Khỏe

Các chương trình giáo dục sức khỏe cần được thiết kế để nâng cao nhận thức về bệnh giun sán. Việc này không chỉ giúp giảm tỷ lệ mắc bệnh mà còn cải thiện sức khỏe cộng đồng.

V. Kết Luận và Tương Lai Của Nghiên Cứu Bệnh Giun Sán

Bệnh giun sán vẫn là một thách thức lớn đối với sức khỏe cộng đồng. Tuy nhiên, với sự phát triển của y học và các biện pháp phòng ngừa hiệu quả, có thể hy vọng vào việc giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh trong tương lai.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu Bệnh Giun Sán

Nghiên cứu về bệnh giun sán cần tiếp tục được đẩy mạnh để tìm ra các phương pháp điều trị và phòng ngừa hiệu quả hơn. Sự hợp tác giữa các tổ chức y tế và cộng đồng là rất cần thiết.

5.2. Tầm Quan Trọng Của Vệ Sinh Trong Phòng Ngừa Bệnh

Vệ sinh cá nhân và môi trường sống là yếu tố quan trọng trong việc phòng ngừa bệnh giun sán. Cần có các chiến dịch tuyên truyền để nâng cao ý thức của người dân về vấn đề này.

10/07/2025
Ký sinh trùng bài 3 giun sán

Trích đoạn nội dung tài liệu

GIẢNG VIÊN Th.s Lã Thành Nam TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Đinh Nga. NXB Giáo dục Việt Nam. Trần Vinh Hiển.

Giáo trình Đại học – Đại học Y Dƣợc Tp. Xuất bản 1991 – Tái bản 1994. Trần Xuân Mai. Ký sinh trùng Y Học.

Trần Xuân Mai. Ký sinh trùng Y Học. Giáo trình Đại học – Trung tâm ĐT & BD Cán bộ Y tế Tp. Bộ môn Ký sinh trùng – Đại học Y Khoa Hà Nội.

Ký sinh trùng Y Học. Phùng Đức Truyền. GIỚI THIỆU CHƢƠNG TRÌNH Chƣơng I: Đại cƣơng về ký sinh trùng. Chƣơng II: Đơn bào.

Chƣơng III: Giun sán Chƣơng IV: Vi nấm CHƢƠNG III GIUN SÁN I. Đặc điểm của bệnh giun sán - Giun sán thuộc nhóm động vật đa bào. - Bệnh do giun sán gây ra rất phổ biến ở Việt Nam - Chƣa ý thức cao về vệ sinh công cộng. - Dùng phân ngƣời chƣa ủ để tƣới rau.

- Dùng thực phẩm: nƣớng, gỏi, xông khói, hun khói,… góp phần làm gia tăng bệnh giun sán. - Tỷ lệ mắc bệnh giun sán ở ngƣời Việt Nam không những cao mà số giun sán nhiễm trong một ngƣời lại rất nhiều. - Đa số ngƣời nhiễm 2 – 3loại giun → tăng mầm bệnh giun sán (trứng, ấu trùng) trong môi trƣờng. - Vệ sinh môi trƣờng, giữ vệ sinh cá nhân là biện pháp tích cực để chống các bệnh giun sán.

- Giun sán ký sinh không gây hiện tƣợng miễm dịch cao, nên ngƣời bệnh dễ tái nhiễm nhiều lần. - Giun sán sống ký sinh ở ngƣời gây ra các hiện tƣợng dị ứng và làm tăng bạch cầu toan tính. Tác hại giun sán đối với cơ thể. Rối loạn về tiêu hoá - Ngƣời mắc bệnh giun sán thƣờng có triệu chứng lúc tiêu chảy, lúc táo bón.

- Hiện tƣợng này nếu kéo dài sẽ làm cản trở sự hấp thu các chất dinh dƣỡng qua ruột, làm suy yếu bệnh nhân. Rối loạn về máu - Một số giun nhƣ giun móc làm giảm số lƣợng hồng cầu và huyết cầu tố ở bệnh nhân, gây thiếu máu nhƣợc sắc. - Đa số giun sán gây tăng bạch cầu toan tính. Ảnh hƣởng thần kinh Độc tố của giun sán có thể gây ảnh hƣởng trên thần kinh ngƣời bệnh nhƣ co giật, mê sảng nhất là ở trẻ em và ngƣời có cơ địa yếu.

Ảnh hƣởng đối với bệnh khác Vì giun sán chiếm thức ăn và máu (giun móc) nên sức đề kháng của cơ thể bị giảm, tạo điều kiện cho các bệnh khác phát triển, nhất là bệnh lao, kiết lỵ, sốt rét. Những biến chứng nội khoa Nhƣ đau bụng cấp tính, viêm tá tràng, hiện tƣợng dị ứng và ngoại khoa (viêm ruột thừa, thủng ruột, tắc đƣờng dẫn mật). Chẩn đoán bệnh giun sán 1. Chẩn đoán lâm sàng Không chính xác vì các triệu chứng bệnh giun sán không rõ rệt, dễ nhầm lẫn với bệnh khác, không xác định đƣợc mức độ giun sán ký sinh trong cơ thể.

Chẩn đoán xét nghiệm a. Trực tiếp - Xem phân (giun đũa, sán lá gan, ruột). - Xem nƣớc tiểu (sán máng Schistosoma haematobium). Gián tiếp Các phƣơng pháp huyết thanh chẩn đoán.

Chú ý: - Phải xét nghiệm nhiều lần, cách khoảng vài ngày vì giun sán có thời kỳ không đẻ trứng. - Phải nắm đƣợc chu kỳ phát triển của giun sán, nhƣ trong bệnh giun chỉ Bancroft phải xét nghiệm về đêm. - Khi giun sán quá ít, phải phong phú hoá mẫu. phân loại giun sán: Dựa vào hình thể chung, ngƣời ta chia ngành giun sán nhƣ sau: 1.

Lớp có vỏ cứng Thân hình ống: giun. không có vỏ cứng, thân dẹp - Lớp sán lá (Trematoda) có hình lá. - Lớp sán dây (Cestoda) có nhiều đốt dẹp, ghép lại có hình dây băng. GIUN Nematoda Đại cƣơng - Động vật đa bào, thuộc giới hạ đẳng.

- Sống ký sinh trong động vật, thực vật hay sống tự do trong đất. Do đó, giun có liên quan đến nhiều ngành nhƣ: y tế, thú y, nông nghiệp. Hình dạng bên ngoài - Giun hình ống, chiều dài thay đổi tuỳ giống. - Có giống dài hơn 1m nhƣ giun chỉ Médine, dài 15 – 25cm nhƣ giun đũa, giống chỉ dài khoảng vài mm nhƣ giun xoắn.

- Giun có màu trắng đục. Con đực luôn luôn nhỏ hơn con cái. Đuôi con đực thƣờng cong, đuôi con cái thẳng. Hình dạng bên trong (hình 3.1) Cấu trúc cắt ngang một giun từ ngoài vào trong gồm: a.

Tiểu bì: dày, cứng, cấu tạo bởi những protein cứng trong đó có một protein gần giống nhƣ keratin. Chức năng là bảo vệ giun chống lại các chất độc tác hại đến cơ thể chúng. Hạ bì - Gồm 1 lớp tế bào hạt, có chỗ lồi ra ở phía trong thân, tạo nên hai đƣờng bên thân giun và hai đƣờng lƣng và bụng. - Hai đƣờng bên thân chứa đựng các ống bài tiết còn đƣờng lƣng và bụng chứa đựng các dây thần kinh.

Lớp cơ: gồm những tế bào chƣa hoàn toàn phân hoá. Xoang: ở chính giữa trong đó lơ lửng các cơ quan. Cơ quan tiêu hoá Là một ống dài, thƣờng chạy theo chiều dọc của thân (có khi gấp khúc) từ trƣớc ra sau gồm có: - Miệng: thƣờng hình thuôn, có 2 hay 3 môi bao quanh. Miệng có khi có bao miệng và răng để bám vào ký chủ nhƣ trƣờng hợp giun móc.

- Thực quản là một ống hẹp hình ống hay hình lăng trụ, thƣờng phình ra hình chuỳ, ụ phình ở phía sau. - Thực quản có một lớp cơ sợi bên ngoài, có khả năng đàn hồi vì thực quản ngoài nhiệm vụ dẫn thức ăn còn có nhiệm vụ hút thức ăn. - Ruột là một ống rộng, thẳng, dẫn tới hậu môn. Thành ruột là một lớp tế bào biểu bì đơn giản.

- Hậu môn thƣờng ở gần tận cùng của đuôi và bao giờ cũng đổ về phía bụng. Cơ quan bài tiết Gồm những ống, số lƣợng ống thay đổi theo tuỳ loài, chạy theo chiều dọc ở mép thân và đổ ra một ống bài tiết rất nhỏ ở bụng. Cơ quan thần kinh Gồm một vòng thần kinh bao quanh thực quản, liên hệ với các dây thần kinh nhỏ đi tới phía đầu và phía đuôi, dọc theo lƣng và bụng. Cơ quan sinh dục Bộ phận sinh dục đực và cái thƣờng là các ống nhỏ, đƣợc cuộn và xếp trong khoang thân.

- Bộ phận sinh dục đực: gồm có một tinh hoàn hình ống dài cuộn lại hay uốn khúc, kế đến là ống dẫn tinh, về cuối ống rộng ra thành túi chứa tinh rồi đến ống vọt tinh thông ra ngoài sau hậu môn, nơi đó có gai giao hợp nhú ra ngoài. Vài loài, phía đuôi phình ra tạo thành một túi giao hợp - Bộ phận sinh dục cái: thƣờng đôi và khúc khuỷu gồm có hai buồng trứng, hai ống dẫn trứng và hai tử cung đi đến một âm đạo duy nhất. Âm đạo ăn thông với bên ngoài bởi một lỗ sinh dục nằm ở giữa hay ở phần nửa trƣớc của thân, luôn đổ ra phía bụng. Sinh thái của giun.

- Đa số giun sống ký sinh, chỉ có một số giun sống tự do. - Vị trí sống ký sinh thay đổi tuỳ loài: ống tiêu hoá, hệ tuần hoàn, hoặc cơ quan nội tạng. - Trƣớc khi ở vị trí cố định, một số giun có giai đoạn di chuyển trong cơ thể (còn gọi là giai đoạn chu du của giun). - Sau khi ký sinh cố định, giun có thể di chuyển bất thuờng đƣợc gọi là di chuyển lạc chỗ.

- Ký sinh ở ngƣời, giun chiếm thức ăn, giao hợp và sinh sản. - Sau khi thụ tinh, giun cái đẻ trứng có khả năng phát triển. Những giun cái không đƣợc thụ tinh cũng sinh trứng nhƣng các trứng này không phát triển đƣợc. - Có những giun đẻ ra trứng (giun đũa) hay nở ngay sau khi đẻ (giun kim).

Hoặc đẻ ra con, nếu trứng nở trong tử cung con cái (giun chỉ). - Trứng cho ấu trùng hình dạng không khác con trƣởng thành bao nhiêu và nó phải qua một số kỳ lột xác trƣớc khi trƣởng thành. Phân loại Dựa vào nơi giun sống ký sinh, giun đƣợc chia làm ba nhóm. Nhóm ký sinh ở ruột - Giun đũa (Ascaris lumbricoides).

Nhóm ký sinh ở ruột và tổ chức Giun xoắn (Trichinella spiralis). Nhóm ký sinh ở máu và các tổ chức (giun chỉ) - Giun chỉ Bancroft (Wuchereria bancrofti). - Giun chỉ Mã Lai (Brugia malayi). Nhóm ký sinh lạc chủ gây hội chứng larva migrans - Ancylostoma caninum: ký sinh ở chó.

- Ancylostoma brasiliense: ký sinh ở chó và mèo. - Toxocara canis: ký sinh ở chó. - Toxocara cati: ký sinh ở mèo. Hình thể - Giun đũa có màu trắng đục hay hồng nhạt, có vân ngang.

Lúc trƣởng thành dài từ 15 – 25cm. - Đầu có 3 môi bao quanh miệng, bờ của môi không đều đặn và có dạng răng cƣa. Ký sinh ở phần cuối của ruột non nhƣng có thể di chuyển đến các cơ quan khác. - Con đực dài 15 – 20cm, có đuôi cong với hai gai giao hợp ngắn, bằng nhau.

- Con cái dài 20 – 25cm, có đuôi thẳng, hình nón. Lỗ đẻ nằm trong một lõm, khoảng ⅓ thân kể từ đằng đầu. - Trứng to khoảng 70µm, vỏ dày. Phía ngoài vỏ có một lớp albumin xù xì, thƣờng có màu vàng nâu, do thấm sắc tố mật.

Lớp albumin có thể tróc trọn vẹn hay một phần, tạo nên những trứng không điển hình. - Trứng không thụ tinh có dạng hình thuôn, dài 80µm, bên trong có những hạt chiết quang không đều đặn. - Nếu ký chủ bị nhiễm toàn giun đực thì không có trứng. Trứng Ascaris lumbricoides II.

Sinh học - Sự giao hợp xảy ra trong ruột non, con cái đẻ mỗi ngày khoảng 200.000 trứng, những trứng này chƣa phân đoạn và chƣa có phôi nên sự tự nhiễm không xảy ra. - Trứng theo phân ra ngoài, phát triển thành trứng có phôi, trong vòng 2 – 3tuần lễ nếu nhiệt độ khoảng 20 – 30oC và độ ẩm cao. - Nhờ có vỏ dày, trứng rất bền dai và vẫn còn khả năng gây nhiễm 4,5 năm sau. - Trứng có phôi theo rau cải ăn sống hay nƣớc bị vấy bẩn vào ống tiêu hoá của ngƣời, các dịch tiêu hoá sẽ làm tan rã vỏ trứng, phóng thích ấu trùng.

- Ấu trùng xuyên thủng thành ruột non để theo thành tĩnh mạch cửa vào gan rồi theo tĩnh mạch trên gan đến tim phải, từ đó theo động mạch phổi vào phổi. - Lúc ở phổi ấu trùng dài từ 1,5 – 2mm, lột xác hai lần rồi lên cuống phổi đến ngã tƣ hô hấp – tiêu hoá để lọt vào đƣờng tiêu hoá, xuống ruột non phát triển cho giun đũa trƣởng thành sau khi lột xác một lần nữa. - Trọn chu trình mất khoảng 2 – 2,5tháng và giun đũa có thể sống một năm. - Giun đũa sống ở ruột non nhƣng cá biệt có thể chui vào gan, ruột thừa, ống tuỵ hay chui lên miệng, mũi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu này cung cấp cái nhìn tổng quan về áp lực nội sọ và các phương pháp điều trị liên quan. Nó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm soát áp lực nội sọ, đặc biệt trong các trường hợp tai biến mạch não, nơi mà áp lực này có thể gia tăng đột ngột và gây ra những biến chứng nghiêm trọng. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin về các phương pháp điều trị khác nhau, bao gồm cả muối ưu trương và mannitol, cùng với những lợi ích mà chúng mang lại cho bệnh nhân.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận án tiến sĩ so sánh hiệu quả kiểm soát áp lực nội sọ bằng muối ưu trương và mannitol ở những bệnh nhân tai biến mạch não có tăng áp lực nội sọ cấp tính. Tài liệu này sẽ cung cấp thêm thông tin chi tiết về hiệu quả của các phương pháp điều trị trong việc kiểm soát áp lực nội sọ, giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về vấn đề này.