CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu – Sinh lý vùng hậu môn trực tràng 1. Hình thể và cấu tạo * Hình thể ngoài: trực tràng là đoạn cuối cùng của ống tiêu hóa, ống hậu môn (HM) là phần thấp nhất của trực tràng (TT). - Trực tràng gồm hai phần: phần trên phình to để chứa phân gọi là bóng trực tràng, dài 10 – 12cm nằm trong tiểu khung.
Phần dưới hẹp để giữ và tháo phân gọi là ống hậu môn, dài 2–3cm nằm trong đáy chậu [16]. Giải phẫu ống hậu môn trực tràng (Nguồn: Franhk H. Netter, 2007 [17]) luan an 4 - Giới hạn của ống hậu môn: Theo các nhà giải phẫu, ống hậu môn được giới hạn ở phía ngoài là lỗ hậu môn và phía trong là đường lược, nên chỉ dài khoảng 1– 1,5cm. Theo các nhà phẫu thuật: ống HM phẫu thuật được giới hạn ở phía ngoài cùng là lỗ HM, phía trong là đường hay vòng hậu môn trực tràng cao hơn đường lược 1,5cm, là giới hạn trên của cơ thắt ngoài tạo nên.
Như vậy ống HM của các nhà phẫu thuật dài 3cm [1], [16]. * Hình thể trong: - Ống hậu môn được lót bởi da nhẵn không có lông, cao khoảng 1cm mầu đỏ tím vì có nhiều đám rối tĩnh mạch. * Tuyến cạnh hậu môn: là những tuyến ống chia nhánh, có phần chế tiết nằm ở tầng dưới niêm mạc, còn các ống bài xuất thì đi xuyên qua lớp đệm rồi đổ chất tiết vào lòng ống hậu môn nơi đường lược [16]. Các hốc hậu môn Là các nếp gấp hình bán nguyệt của niêm mạc ống hậu môn ở giữa chân các cột Morgagni.
Van HM là những nếp niêm mạc nối chân hai cột trực tràng nằm sát cạnh nhau. Mỗi van hậu môn tương ứng với một xoang trực tràng, xoang này xuống thấp hơn van hậu môn nên tạo thành một túi bịt, có khi sâu tới 1cm. Túi bịt là hốc hậu môn, có từ 10 - 12 hốc [1], [16]. Vòng quanh HM, bờ tự do của các hốc này nối tiếp nhau tạo thành một đường răng lược.
Các hốc HM là nơi các ống tuyến HM đổ vào, thường xuyên ứ đọng phân và dịch, đó là nguyên nhân tiềm tàng của nhiễm khuẩn tuyến HM dẫn đến áp xe và rò hậu môn. Nếu không được điều trị sớm, khối áp xe sẽ lan vào các khoang cạnh hậu môn và sang phía đối diện tạo thành đường rò/ áp xe hình móng ngựa [1], [16]. Tuyến Hermann và Desfosses Được Hermann và Desfosses mô tả năm 1880, là các ống phủ bởi một lớp biểu mô, nằm ở lớp dưới niêm mạc và đổ vào đáy hốc hậu môn. Theo Seow-choen, có từ 8 – 12 tuyến xung quanh ống HM [18].
Có tới 70% các tuyến phân nhánh, phân chùm vào quanh ống hậu môn, có thể là tuyến cụt, một vài ống tuyến có phần luan an 5 tận cùng là những nang nhỏ, hướng lan thông thường nhất là xuống dưới vào lớp dưới niêm mạc của khoang quanh HM [1], [16]. Các đường giới hạn vùng hậu môn trực tràng Có bốn đường chạy vòng quanh khắp chu vi lòng ống HM [16]. - Đường hậu môn - da: là ranh giới giữa da quanh HM (có các tuyến bã, tuyến mồ hôi, nang lông) với ống hậu môn. - Đường liên cơ thắt: là ranh giới giữa phần dưới da cơ thắt ngoài và bờ dưới cơ thắt trong.
Nhận biết đường này không phải bằng nhìn mà bằng sờ. - Đường lược: là đường tạo nên bởi các van HM và xen giữa là chân các cột trực tràng. - Đường hậu môn trực tràng: là giới hạn trên của ống HM của các nhà phẫu thuật. Được tạo nên bởi cơ mu – trực tràng, là giới hạn giữa ống HM và bóng trực tràng, tương ứng với chỗ gấp khúc của trực tràng.
Các khoang quanh hậu môn trực tràng Niêm mạc, các cơ riêng của hậu môn trực tràng cùng với các cơ vùng sàn chậu và các vách của khung chậu tạo nên các khoang (Hình 1. - Khoang dưới niêm mạc: nằm giữa niêm mạc của phần trên ống HM và cơ thắt trong. Đó chính là vùng lỏng lẻo dưới niêm mạc nằm trên đường lược. - Khoang quanh HM: nằm ở nông, bao quanh ống HM.
Ở phía ngoài liên tục với lớp mỡ dưới da của mông. - Khoang liên cơ thắt: nằm giữa cơ thắt trong và cơ thắt ngoài, ngang mức và ở phía trong khoang ụ ngồi - trực tràng. - Khoang hố ngồi trực tràng: có đỉnh là cơ nâng HM và đáy là da tầng sinh môn. Giới hạn trước là các cơ ngang nông và sâu của đáy chậu, giới hạn sau là xương cùng và bờ dưới cơ mông to.
luan an 6 Hình 1. Các khoang quanh hậu môn trực tràng (Nguồn: Franhk H. Netter, 2007 [17]) - Khoang trên cơ nâng: nằm ở mỗi bên trực tràng. Thành trên là phúc mạc, thành dưới là cơ nâng HM, thành ngoài là vách chậu, thành trong là TT.
- Khoang sau HM nông: nằm phía sau HM, dưới dải hậu môn - cụt, tiếp nối khoang ụ ngồi - trực tràng phải và trái. - Khoang sau HM sâu: cũng giống như khoang sau HM nông nhưng nó ở sâu hơn, nằm phía trên dải hậu môn - cụt. Khi có sự viêm nhiễm tại vùng hậu môn trực tràng tạo thành các ổ áp xe, lan theo các khoang quanh hậu môn tạo thành áp xe/ rò hậu môn hình móng ngựa. Hiểu rõ giải phẫu các khoang cạnh hậu môn đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán và luan an 7 điều trị áp xe/ rò hậu môn hình móng ngựa do nguyên tắc điều trị chủ yếu là lấy bỏ đường rò và dẫn lưu triệt để các ổ áp xe ở khoang quanh hậu môn.
Hệ thống cơ thắt hậu môn trực tràng Ống HM có cơ thắt trong, cơ thắt ngoàivà cơ dọc kết hợp. Các cơ vùng HM có tác dụng nâng và thắt ống HM [16]. * Cơ thắt trong: thuộc hệ cơ trơn, là cơ vòng của thành ruột, đi liên tục từ trên xuống, đến HM thì dầy lên, to ra để tạo nên cơ thắt trong. * Cơ thắt ngoài: thuộc hệ cơ vân, có 3 bó: - Bó dưới da: ở nông nhất, ngay lỗ HM, xuyên qua bó này có các sợi xơ cơ của cơ dọc trực tràng chạy từ ngoài vào, từ trên xuống bám vào da tạo nên cơ nhíu da hay cơ nhăn da làm cho da có các nếp nhăn.
- Bó nông: ở sâu và phía ngoài hơn so với bó dưới da. Là phần to nhất và mạnh nhất của cơ thắt ngoài. Bó này xuất phát từ sau chạy ra trước, vòng quanh hai bên HM có một số sợi bám vào trung tâm cân đáy chậu. - Bó sâu: nằm trên bó nông, các thớ cơ hòa lẫn với các thớ cơ của cơ nâng HM.
Trong khi phẫu thuật khó nhận biết ranh giới của 3 bó này. Hệ cơ của hậu môn trực tràng (Nguồn: Franhk H. Netter, 2007 [17]) luan an 8 * Cơ dọc kết hợp: cơ dọc của thành ruột đi từ trên xuống, hòa lẫn với các sợi của cơ nâng HM và các mô sợi đàn hồi tạo nên cơ dọc kết hợp chạy từ trên xuống, nằm giữa cơ thắt trong và cơ thắt ngoài. Các sợi xơ cơ này mang tên dây chằng Parks, có hình nan quạt xuyên qua bó dưới da của cơ thắt ngoài, phân cách bó dưới da và bó nông cơ thắt ngoài, tiếp tục đi ra phía ngoài để tạo nên vách ngang của khoang ụ ngồi TT.
Sinh lý chức năng tự chủ của hậu môn Khả năng tự chủ của HM tùy thuộc vào một chuỗi quá trình phức tạp, có quan hệ chặt chẽ với nhau. Người ta đã đưa ra một số giả thuyết về cơ chế tự chủ, nhưng cho đến nay chưa hoàn toàn nhất trí [16], [19] 1. Yếu tố cơ học Chỗ gập góc của đại tràng chậu hông và các van Houston của trực tràng có tác dụng làm chậm đưa phân qua trực tràng. Khối lượng phân này khá nặng nên càng làm góc gập nhiều hơn và càng ngăn cản phân đi xuống [19].
Yếu tố sinh lý Trực tràng có các hoạt động co thắt mạnh và thường xuyên hơn đại tràng chậu hông, để kháng lại sự đẩy phân từ trên xuống dưới. Chênh lệch áp suất phần xa và gần của ống HM làm phát sinh một lực đi về hướng trực tràng. Hiện tượng này diễn ra liên tục nên sự chênh lệch về áp suất có thể giữ ở trực tràng một lượng nhỏ chất lỏng và hơi. Yếu tố thần kinh - Cảm giác ở trực tràng giúp nhận biết có phân đi xuống, cảm giác ở ống HM giúp phân biệt bản chất của phân [1] - Các thụ thể cảm giác nội tại của ống HM: Duthie và Gairns đã mô tả chi tiết các đầu tận cùng thần kinh trong ống HM.
Các tác giả tìm thấy rất nhiều đầu tận cùng ống thần kinh liên hệ đến cảm giác đau, sờ, lạnh, căng và chà xát. - Các bộ phận nhận cảm giác ở ngoài ống HM: là cơ mu trực tràng và các cơ quanh vùng chậu. Stephens và Smith cho rằng, tín hiệu trước tiên của trực tràng bị căng không chỉ xuất phát từ niêm mạc trực tràng. Vì các bệnh nhân (BN) được phẫu luan an 9 thuật tạo hình ống HM chỉ bằng cơ mu trực tràng vẫn có khả năng nín đại tiện, nên cơ này phải có những dây thần kinh vừa cảm giác vừa vận động, cần cho khả năng nín đại tiện [1], [16] - Các đường thần kinh: cơ thắt trong được phân bố bởi 2 luồng thần kinh.
Luồng kích thích vận động từ thần kinh giao cảm đi qua thần kinh hạ vị và luồng ức chế vận động từ thần kinh phó giao cảm [1], [16]. Yếu tố cơ thắt Được nhiều người chấp nhận về khả năng tự chủ của HM, là vùng áp suất cao trong ống HM lúc nghỉ (25-120mmHg) tạo một rào cản hiệu quả chống lại áp suất trong trực tràng (5-20mmHg). Trương lực lúc nghỉ là do cả hai cơ thắt trong và ngoài tạo ra. Vùng có áp suất cao nhất là cách mép HM 2cm [16].
Yếu tố giải phẫu - Van ép hai bên: nhờ các khảo sát bằng áp kế và X quang, Phillips và Edwards cho rằng sự tăng cường bảo vệ không cho phân thoát ra có được là do áp suất ổ bụng được truyền tới vị trí cơ nâng HM. Vị trí này nằm ở hai bên của ống HM tại chỗ nối hậu môn trực tràng [16]. - Van ép một bên: được hoàn thiện bởi Parks, là sự phát triển của giả thuyết van lưỡi gà. Theo giả thuyết này, khả năng tự chủ về cơ bản là do phần vách của niêm mạc trực tràng trước, phần vách này bị cơ mu trực tràng kéo xuống tại góc HMTT, nằm đè lên đầu trên của ống HM [20].